Danh mục bài viết

Cập nhật 11/11/2019 - 4:16 - Lượt xem 1991

Thứ Ba tuần 32 Thường Niên

"Chúng tôi là đầy tớ vô dụng: vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm".

 

Tin Mừng: Lc 17, 7-10

Khi ấy, Chúa Giêsu phán: "Ai trong các con có người đầy tớ cày bừa hay chăn súc vật ngoài đồng trở về liền bảo nó rằng: "Mau lên, hãy vào bàn dùng bữa", mà trái lại không bảo nó rằng: "Hãy lo dọn bữa tối cho ta, hãy thắt lưng và hầu hạ ta cho đến khi ta ăn uống đã, sau đó ngươi mới ăn uống"? Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không? Thầy nghĩ rằng không.

"Phần các con cũng vậy, khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: "Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm".

 

 

Suy niệm 1: Đầy tớ vô dụng _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Vào thời xưa, những tù binh bại trận phải làm nô lệ cho phe thắng. 
Khi nhân phẩm của từng con người chưa được nhận ra 
thì chuyện mua bán nô lệ là chuyện dễ hiểu (Xh 21, 21). 
Dân Ítraen cũng có kinh nghiệm về việc bắt làm nô lệ ở Ai-cập, 
và kinh nghiệm được Thiên Chúa giải phóng để trả lại tự do. 
Những kinh nghiệm này khiến cho chế độ nô lệ ở Ítraen bớt tàn nhẫn. 
Người chủ không có quyền bạc đãi nô lệ của mình (Xh 21, 26-27). 
Có những nô lệ còn được trao trách nhiệm quản trị thay cho chủ. 
Nếu nô lệ là người Do thái thì sau sáu năm phục vụ, 
năm thứ bảy anh phải được trả tự do (Xh 21, 2). 
Hơn nữa, sách Lêvi còn nói đến việc chuyển đổi biên chế 
để một nô lệ Do thái trở thành người làm công trong nhà (25, 39-55). 
Tin Mừng hôm nay là một dụ ngôn nói về chuyện một ông chủ. 
Ông có một đầy tớ, hay đúng hơn ông sở hữu một anh nô lệ (doulos). 
Có một sự khác biệt lớn giữa nô lệ và người làm công. 
Anh nô lệ được mua về, và anh phải hoàn toàn lệ thuộc vào chủ. 
Khác với người làm công, anh nô lệ không được đòi hỏi gì. 
Người nô lệ phải làm mọi việc chủ bảo làm 
mà không được đòi lương hay bất cứ ân huệ nào khác. 
Đức Giêsu mời các môn đệ đặt mình vào hoàn cảnh của ông chủ. 
Có thể ông chỉ có một anh nô lệ thôi, 
nên anh vừa phải lo việc đồng áng, vừa phải lo việc cơm nước. 
Khi anh từ ngoài đồng về, sau cả ngày làm việc, 
sau khi đã vất vả đi cày hay đi chăn chiên (c. 7), 
liệu ông chủ có mời anh ngồi vào bàn, ăn cơm tối cùng với mình không? 
Câu trả lời vào thời đó dĩ nhiên là không. 
Anh sẽ phải tiếp tục phục vụ chủ bằng cách vào bếp, dọn bữa tối. 
Sau khi bữa tối được dọn xong, khi ông chủ ngồi ăn uống thảnh thơi, 
thì anh nô lệ phải đứng hầu bàn, 
thắt lưng gọn gàng trong tư thế của người đang làm việc (c. 8). 
Chỉ khi ông chủ ăn uống xong, bấy giờ mới đến lúc anh ăn uống. 
“Ông chủ có biết ơn anh nô lệ, vì anh đã làm theo lệnh truyền không?” 
Câu trả lời vào thời đó dĩ nhiên là không. 
Ông chủ chẳng phải trả công cho anh nô lệ. 
Và anh cũng không chờ bất cứ một lời khen hay ân huệ nào từ ông chủ. 
Anh hồn nhiên làm điều anh phải làm mỗi ngày, thế thôi. 
Dụ ngôn này của Đức Giêsu gây sốc cho chúng ta ngày nay, 
những người vất vả lo việc Chúa, những người ít khi được nghỉ. 
Chúng ta cũng thuộc về Chúa tương tự như một nô lệ (Cv 4, 29). 
Chúng ta làm điều phải làm (c. 10), 
nhưng không như người làm công chờ lương, 
cũng không đòi tiếng khen, quyền lợi, hay đặc ân nào khác từ chủ. 
Người tông đồ giống như người đi cày (Lc 9, 62), 
chăn chiên (Cv 20, 28), hay hầu bàn (Lc 22, 27). 
Khi chu toàn mọi việc được giao, vẫn nhận mình là đầy tớ vô dụng, 
không một chút kiêu hãnh, đòi hỏi công lao hay tự hào về thành quả. 
Thanh thoát với chính những công việc lớn lao mình đã làm, 
siêu thoát khỏi cái tôi muốn phình to bằng công đức, 
đó là điều mà Đức Giêsu muốn nhắn nhủ cho những ai làm việc cho Chúa. 
Dù sao ta không được phép nghĩ Thiên Chúa như một ông chủ tàn nhẫn. 
Đức Giêsu đã mang lấy thân phận một nô lệ để cứu chúng ta (Ph 2, 7). 
Ngài đã sống như người hầu bàn cho các môn đệ (Lc 22, 27). 
Và Ngài sẽ cư xử như một người hầu bàn ăn cho ta 
khi Ngài đến mà thấy ta vẫn tỉnh thức đợi chờ (Lc 12, 37).

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến, 
xin dạy con biết sống quảng đại, 
biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài, 
biết cho đi mà không tính toán, 
biết chiến đấu không ngại thương tích, 
biết làm việc không tìm an nghỉ, 
biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào 
ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen. 

 

 

Suy niệm 2: Đến để phục vụ _ Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Qua những nguồn tin trên các trang mạng, chúng ta thấy: Đức Thánh Cha Phanxicô đang được cả thế giới tôn vinh và khen ngợi. Nhân loại ca ngợi ngài không phải ở khả năng tri thức vượt trội, cũng không phải vì những triết thuyết cao siêu, hay uy tín vốn được gắn với tước vị Giáo hoàng từ bao đời...! Nhưng người ta kính nể vì Đức Giáo Hoàng là một con người bình dân. Ngài sẵn sàng xuống đường để ôm hôn một người dị tật, lắng nghe một em bé đang muốn tâm sự. Sẵn sàng bốc phone gọi cho một ông thợ sửa giày, một ông bán báo…. Ngài cũng khước từ những điều sang trọng cần có đối với một vị lãnh tụ tinh thần của Giáo Hội. Ngài cũng không ngần ngại đứng xếp hàng để nhận cơm tại một quán ăn và cũng không có khoảng cách khi cùng ngồi ăn với những công nhân sửa ống nước tại Vatican. Ngài còn là một người sống tinh thần nghèo khó khi lựa chọn những phương tiện đơn giản nhất, hoặc công cộng để di chuyển....

Tất cả những điều đó cho thấy: Đức Giáo Hoàng Phanxicô không ưa được dành quyền đặc lợi cho mình, mà sẵn sàng trong thái độ của người phục vụ.... Ngài đã làm những chuyện đó là vì ngài muốn làm mọi việc cho vinh quang Chúa chứ không phải cho mình được nổi trội. 

Thực ra trong thế giới hôm nay, sự mong muốn được an thân, khao khát được sung sướng và thái độ cầu an cũng như mong muốn được phục vụ đang kéo dần người Kitô hữu đi theo như cơn lũ bão…. Nhưng thử hỏi: liệu những cung cách đó có làm cho khuôn mặt của Đức Giêsu được sáng tỏ hay không? Phải chăng nó đã làm cho Ngài bị lu mờ qua những cái bóng của sự tự kiêu, ích kỷ….

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy cố gắng sống tốt đúng với tư cách là môn đệ của Chúa. Luôn noi gương Chúa đến để phục vụ chứ không phải để được người khác phục vụ. Luôn yêu mến đời sống đơn giản vì ích lợi cho mình và người khác. Luôn chu toàn bổn phận của mình trong tư cách là người tôi tớ.

Cần nhớ một điều rằng: chỉ khi nào chúng ta từ bỏ mình, sống tinh thần phục vụ, chúng ta mới trở nên mình hơn và giống hình ảnh của một vị Thiên Chúa đến để phục vụ vì ích lợi của con người. 

Chính Công Đồng Vaticanô II trong Hiến chế "Vui Mừng Và Hy Vọng" đã để lại một châm ngôn đáng được chúng ta suy niệm và đem ra thực hành: “Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi”. Điều này cũng được thánh Phanxicô Assisi đã tâm nguyện qua kinh hòa bình: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con ý thức được vai trò của người môn đệ, và xin cho chúng con biết can đảm lựa chọn trong tinh thần của người tôi tớ. Amen.

 

 

Suy niệm 3: Tinh thần phục vụ đích thực

Nhân vật nổi tiếng trong Giáo hội hiện nay đang được thế giới nhắc nhở và thương mến nhất, hẳn phải là Mẹ Terêsa Calcutta, một người hiện đã được nhiều giải thưởng nhất: giải Magsaysay do chính phủ Phi luật Tân đạo thập niên 60, đầu năm 1971, Mẹ lại được Đức Phaolô VI trao giải Gioan XXIII vì hòa bình; giải thưởng Kenedy do chính phủ Hoa Kỳ tặng, tất cả số tiền nhận được, Mẹ đã dùng để xây dựng trung tâm Kenedy tại một khu ổ chuột ở ngoại ô Calcutta; tháng 12/1972 chính phủ Aán nhìn nhận sự đóng góp của Mẹ và trao tặng Mẹ giải Nêru; nhưng đáng kể hơn nữa là giải Nobel

Hòa bình năm 1979, đây là giải thưởng đã làm cho tên tuổi Mẹ Têrêsa được cả thế giới biết đến, cũng như những lần khác, khi một viên chức chính phủ Aán gọi điện thoại để chúc mừng, Mẹ đã trả lời: “Tất cả vì vinh quang Chúa”.

“Tất cả vì vinh quang Chúa”, đó là động lực thúc đẩy Mẹ Têrêsa dấn thân phục vụ người nghèo trên khắp thế giới. Với bao nhiêu danh vọng và tiền bạc do các giải thưởng mang lại, Mẹ vẫn tiếp tục là một nữ tu khiêm tốn, nghèo khó, làm việc âm thầm giữa những người nghèo khổ nhất. Thông thường, các giải thưởng cho một người nào đó như một sự nhìn nhận vào cuối một cuộc đời phục vụ làm việc hay một công trình nghiên cứu, nhưng đối với Mẹ Têrêsa, mỗi giải thưởng là một bàn đạp mới, một khởi đầu cho một công trình phục vụ to lớn hơn và làm cho nhiều người biết đến và ngợi khen Thiên Chúa nhiều hơn.

Qua cuộc đời của Mẹ Têrêsa, chắc chắn thế giới hiểu hơn thế nào là tinh thần phục vụ đích thực trong Giáo hội. Một Giáo hội càng phục vụ thì bộ mặt của Chúa Kitô phục vụ càng sáng tỏ hơn; trái lại, khuôn mặt Chúa Kitô sẽ lu mờ đi, nếu Giáo hội chưa thể hiện được tinh thần phục vụ đích thực của Ngài.

Tin mừng mà Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay mời gọi chúng ta nhìn nhận những thiếu sót của chúng ta: có lẽ dung mạo của một Chúa Kitô phục vụ và phục vụ cho đến chết chưa được phản ánh trên gương mặt của các kitô hữu; tinh thần phục vụ đích thực của Kitô giáo vẫn chưa được sáng tỏ và thể hiện qua cách sống của các kitô hữu. Chúa Giêsu đã khẳng định: "Khi làm tất cả những gì  theo lệnh phải làm, thì hãy nói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc bổn phận mà thôi". Đầy tớ là người làm tất cả mọi sự vì chủ, đầy tớ là người hoàn toàn sống cho chủ. Dĩ nhiên, ở đây Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ  trong xã hội. Ngài đã xem quan hệ trong xã hội con người và Thiên Chúa như một quan hệ chủ tớ; Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao?

Như vậy, ở đây, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trước mắt người Do thái, để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ sống thực sự khi nó sống cho Thiên Chúa mà thôi. Cái nghịch lý lớn nhất mà Kitô giáo đề ra là càng tìm kiếm bản thân, càng sống cho riêng mình, con người càng đánh mất chính mình, trái lại, càng sống cho Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, nghĩa là càng phục vụ vô vị lợi, con người càng lớn lên và càng tìm lại được bản thân; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là  phục vụ một cách vô vị lợi. Cộng đồng Vaticanô II trong Hiến chế "Vui mừng và hy vọng" đã để lại một châm ngôn đáng được chúng ta suy niệm và đem ra thực hành: “Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi”.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại định hướng cơ bản trong cuộc sống chúng ta: đâu là mục đích và ý nghĩa cuộc sống chúng ta? Đâu là giá trị đích thực mà chúng ta đang tìm kiếm và xây dựng trong cuộc sống hiện tại.

 

 

Suy niệm 4: Đầy tớ vô dụng

Cho đi để được cho lại, làm để mong được trả công, đó vẫn luôn là nguyên tắc hướng dẫn mọi hoạt động của con  người. Tuy nhiên, cứ nhìn vào phần thưởng, vào sự đền đáp, lắm khi người ta quên đi chỗ đứng của mình, để rồi trở nên đòi hỏi, yêu sách. Đó cũng là điều Chúa muốn đề cập đến qua Tin mừng hôm nay.

Sau những giờ phút vất vả mệt nhọc ở đồng áng, tâm trạng của người đầy tớ trên đường về nhà là mơ ước được chủ bù đắp bồi dưỡng cho. Nhưng đó chỉ là mơ ước, vì anh ta chỉ là một người đầy tớ, mà đã là đầy tớ, thì dù có mệt nhọc, chán nản, anh cũng phải liếp tục làm tròn bổn phận hầu hạ chủ, mà không buộc chủ phải mang ơn. Trong bổn phận không có sự hàm ơn. Sự biết ơn chỉ có nơi người khác, do đó, biết ơn hay không là tùy ở họ, người thi hành bổn phận không có quyền đòi hỏi.

Chúa Kitô là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã mang lấy thân phận tôi đòi, để dạy con người biết bổn phận của mình chỉ là người tôi tớ của Thiên Chúa. Tất cả những gì Chúa Giêsu làm đều thể hiện thánh ý của Thiên Chúa, và qua Ngài, con người biết được nhiều điều Thiên Chúa muốn.

Tất cả đều phát xuất từ ý định của Thiên Chúa và đều là ân sủng Thiên Chúa ban. Con người chỉ là đầy tớ vô dụng, lẽ ra đã hư mất, nhưng như tình thương vô biên của Thiên Chúa, con người được tự do và phục hồi trong địa vị làm con cái Chúa. Những gì con người có được đều đã lãnh nhận một cách nhưng không, do đó, con người chẳng có thể dựa vào đâu để đòi hỏi Thiên Chúa phải đáp trả công lao của mình. Và nếu xét theo công bằng, thì con người chắc chắn bị phạt nhiều hơn là được thưởng. Chính vì vậy, lời cầu xin thích hợp với con người vẫn là: “Lạy Chúa ! Xin mở lượng từ bi hải hà của Chúa để chúng con được sống”.

Ước gì đó cũng là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta, khi cố gắng chu toàn bổn phận của mình và ý thức mình chỉ là đầy tớ vô dụng.

 

 

Suy niệm 5: Con én không làm nên mùa xuân 

Ngưới ta thường nói; không em thì chợ vẫn đông, hay một con én không làm nên mùa xuân. Không ai là thiết yếu trong việc phục vụ Chúa cả. Kinh Tiền tụng chung thứ IV, chúng ta đọc: việc ca tụng Chúa chẳng thêm gì cho Chúa nhưng ban ơn cứu rỗi cho chúng con. Chúng tôi là đầy tớ vô dụng: 

Chữ vô dụng đây có nghĩa là không cản thiết. Thiên Chúa không cần đến con người. Việc phụng sự Chúa chỉ có ích cho con người mà thôi. Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ cũng như chúng ta ý thức ý thức về thân phận của mình: chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào Thiên Chúa vì chúng ta là một thụ tạo, như người đầy tớ thuộc quyền ông chủ.

Bà Evà vì bị cám dỗ, muốn ngang hàng với Thiên Chúa, bị phạt, không phải Thiên Chúa sợ mất đi quyền làm chủ của mình, nhưng vì bà làm như thế là không muốn nhìn nhận mình là thụ tạo thuộc quyền của Thiên Chúa. Bà làm y như một người không có cánh mà tưởng mình bay được nên tự phóng mình vào khoảng không, vì thế bị rơi xuống đất, đó là lẽ thường. Chúa cho bà nhận thấy mình trần truồng, nghĩa là chẳng có gì cả, chẳng là gì cả. Tất cả chỉ là ơn Chúa ban cho mà thôi.

Ngày nay nhiều người cũng đang phạm phải cái sai lầm, tưởng cuộc sống của mình là ở trong tay mình. Đó là cái ảo tưởng mà bà Evà xưa đã mắc phải. Có lúc người ta còn tuyên bố: Thiên Chúa đã chết! Phải, Thiên Chúa đã chết thật trong tâm hồn họ. Còn Thiên Chúa thật thì không bao giờ. Chúng ta phải luôn ý thức rằng dù có tài giỏi mấy đi nữa thì con người vẫn chỉ là một phàm nhân rất giới hạn, phải lệ thuộc vào Thiên Chúa. Vì cả mạng sống chúng ta cũng phụ thuộc vào quyền năng của Thiên Chúa. Không nhận ra như thế là con người tự làm hại chính mình. Vì không muốn nhận Thiên Chúa là chủ, nên con người tranh dành nhau làm chủ, vì thế mới sinh ra mọi loạn lạc chiến tranh. Dành dật hơn thua; họa phát xít Đức quốc xã là một ví dụ điển hình.

Nhận ra thân phận của mình và trung thành phụng sự Thiên Chúa đó là con đường hạnh phúc và cứu rỗi của chúng ta.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm