Danh mục bài viết

Cập nhật 13/5/2019 - 4:15 - Lượt xem 2858

Thứ Ba tuần 4 Phục Sinh

"Tôi và Cha Tôi là một".

 

Tin Mừng:Ga 10, 22-30

Khi ấy, ở Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Salômôn. Người Do thái vây quanh Đức Giêsu và nói: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” Đức Giêsu đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.”

 

Suy niệm:

1. Không ai cướp được chúng- Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Có những Kitô hữu theo đạo để mong tránh sóng gió của cuộc đời. 
Nhưng đã có lần con thuyền chở Đức Giêsu và môn đệ gặp bão lớn, 
nước tràn vào khiến thuyền gần chìm, làm môn đệ hốt hoảng. 
Theo Chúa đâu phải để tránh bão, nhưng để vượt qua cơn bão. 
Theo Chúa đâu phải để khỏi bị cám dỗ, nhưng để thắng cơn cám dỗ. 
Cuộc sống của người Kitô hữu không tránh khỏi những khó khăn 
mà những người không Kitô hữu phải đối mặt mỗi ngày. 
Hơn nữa, người Kitô hữu còn gặp nhiều khó khăn hơn. 
Có những cơn bão ập đến bất ngờ chỉ vì họ là Kitô hữu. 
Làm chiên trong đàn chiên của Đức Giêsu 
không có nghĩa là được hưởng một sự êm ả dễ chịu. 
Được ở trong ràn chiên của Chúa, 
không có nghĩa là được yên ổn, chẳng bị ai quấy phá. 
Đức Giêsu đã nói đến chuyện kẻ trộm, kẻ cướp, leo tường mà vào (c.10). 
Chúng đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy đàn chiên (c. 10). 
Khi được dẫn đi ăn nơi đồng cỏ, chiên còn phải đối đầu với sói dữ. 
“Sói cướp lấy chiên và làm cho chiên tán loạn” (c. 12). 
Đức Giêsu khẳng định mình không phải là người làm thuê, 
nên khi sói đến, Ngài không bỏ chiên mà chạy. 
Chiên là điều quý giá đối với Ngài đến độ Ngài dám nói nhiều lần: 
“Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (cc. 11.15.17.18.). 
Và thực sự Ngài đã làm điều đó trên thập giá. 
Rõ ràng bảo vệ đoàn chiên là chuyện mấy chẳng dễ dàng. 
Nếu Đức Giêsu, người mục tử nhân hậu mà bất khuất, 
đã phải hy sinh mạng sống cho đoàn chiên, 
thì hẳn cuộc chiến giằng co phải rất là ác liệt. 
Kẻ thù của chiên chẳng phải là kẻ kém cỏi tầm thường. 
Trong cuộc chiến để bảo vệ chiên, còn có sự hiện diện của Cha. 
Chiên là của Cha và Cha đã giao chiên cho Đức Giêsu (c. 29). 
Cha và Con cùng hợp tác để bảo vệ đoàn chiên, 
không để ai cướp chiên ra khỏi vòng tay che chở của mình (cc. 28-29). 
Cha và Con một lòng một ý trong nhiệm vụ này (c. 30). 
Việc bảo vệ chiên còn kéo dài mãi đến tận thế. 
Chúng ta làm gì để cộng tác với Chúa trong việc bảo vệ mình khỏi sói dữ? 
Hãy tin vào Giêsu và nhận ra giọng nói của Giêsu để khỏi bị lừa. 
Hãy theo sát sự dẫn đường của Giêsu, vị Mục tử đã chiến thắng cái chết. 
Và hãy tin vào Chúa Cha, Đấng mạnh mẽ hơn tất cả (c. 29). 

Lạy Chúa Giêsu, vị tử đạo tuyệt vời, 
Chúa đưa chúng con vào thế giằng co liên tục. 
Chúa vừa chọn chúng con ra khỏi thế gian, 
lại vừa sai chúng con vào trong thế gian đó. 
Thế gian này vàng thau lẫn lộn. 
Có khi vàng chỉ là lớp mạ bên ngoài. 
Xin cho chúng con giữ được bản lãnh của mình, 
giữ được vị mặn của muối, 
và sức tác động của men, 
để đem đến cho thế gian 
một linh hồn, một sức sống. 
Chúng con chẳng sợ mình bỏ đạo, 
chỉ sợ mình bỏ sống đạo 
vì bị quyến ru bởi bao thú vui trần thế. 
Xin cho chúng con đừng bao giờ quên rằng 
chúng con mang dòng máu của các vị tử đạo, 
những người đã đặt Chúa lên trên mạng sống. 
Lạy Chúa Giêsu, nếu thế gian ghét chúng con, 
thì xin cho chúng con cảm thấy niềm vui 
của người được diễm phúc nên giống Chúa. Amen. 

 

2. Sự thật cứu rỗi

Không phải chỉ trong thời đại văn minh này người ta mới lịch sự đón tiếp đại sứ của một chính phủ hay nguyên thủ của một quốc gia đúng theo địa vị đại diện của họ. Nhưng ngay từ thời xưa, hậu đãi hay ngược đãi sứ giả của một vua là đã phụ đãi hay ngược đãi chính nhà vua và chính quốc gia mà người ấy đại diện. Không phải vì tiếng tăm, học vấn hay tài trí của sứ giả làm cho họ được kính trọng mà chính vì thay mặt nhà vua và một quốc gia mà họ có quyền được hậu đãi như thế. Ðây cũng là điều mà Chúa Giêsu nói với những người Do Thái thời xưa như được kể lại trong đoạn Tin Mừng vừa trích dẫn trên đây.

Câu hỏi mà họ đặt ra trong lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy tại đền thờ làm ta nhớ đến câu hỏi của thượng tế Caipha trong phiên họp thượng hội đồng: "Nếu ông là Ðấng Kitô thì xin hãy nói thẳng ra đi. Ông có phải là Ðấng Mêsia không?". Trong câu chất vấn này, Chúa Giêsu đã không phủ nhận. Chỉ có điều Chúa Giêsu trả lời một cách hơi gián tiếp như sau: "Tôi đã trả lời câu hỏi này mà các ông không tin". Nhưng dù vậy, Chúa Giêsu không bỏ rơi họ để giúp họ tìm thấy sự thật, tìm ra câu trả lời. Chúa Giêsu đã khéo léo làm cho họ chú ý đến quan hệ mật thiết giữa Ngài với Thiên Chúa Cha, mật thiết đến độ Ngài gọi Thiên Chúa là Cha Ngài và làm chứng cho mối quan hệ mật thiết đó bằng việc làm nhân danh Cha Ngài, và việc cao trọng nhất là ban cho kẻ tin Ngài được sự sống đời đời: "Ta sẽ cho họ sống đời đời. Họ sẽ không chết bao giờ và không ai có thể cướp họ khỏi tay Ta".

Nếu đã nhìn nhận mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa, thì hẳn những người Do Thái sẽ biết trả lời cho câu hỏi "Ông là ai?" như thế nào rồi. "Ta và Cha Ta, chúng ta là một". Ðây là mạc khải quan trọng nhất nhắc ta nhớ lại những suy tư mở đầu Phúc Âm thánh Gioan: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời sống với Thiên Chúa ngay từ đầu. Vạn vật do bởi Ngài mà có và nếu không có Ngài thì sẽ không có gì cả". Tác giả Phúc Âm thánh Gioan đã có những suy tư cao siêu như vậy khi nhìn về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô trong viễn tượng Chúa Phục Sinh.

Ước chi mỗi người đồ đệ của Chúa trong ngày hôm nay cũng tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi nhân loại.

Lạy Chúa, với sự kiện Chúa sống lại, không ai trong chúng con nên hồ nghi về mối quan hệ giữa Chúa và Chúa Cha. Xin thương ban ơn giúp mỗi người chúng con sống xứng đáng với niềm tin vào Chúa và đừng bao giờ để con lìa xa Chúa.

 

3. Chúa biết chiên của Ngài

“Chiên của ta thì nghe tiếng Ta, ta biết chúng và chúng biết Ta” (c.27). Để nói lên mối tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh tình phụ tử. Nay Chúa dùng hình ảnh mục tử và bầy chiên.

Đối với dân Do thái sống đời du mục, bầy chiên là chính sản nghiệp và là tương lai của gia đình họ. Những gì cần thiết như thức ăn, bơ, sữa, thịt, áo len mặc, họ đều lấy từ con chiên. Nhưng ngoài giá trị đó còn có một tình cảm đặc biệt giữa chủ và chiên. Sống mãi với bầy chiên, mục tử dần dà biết rõ từng con chiên một và yêu thương chúng. Người chủ xem con vật như người bạn đường (cf. 2Sm 12,1-4). Có lẽ vì lý do đó mà mục tử lo lắng nhiều cho con chiên. Họ săn sóc từng con mạnh khỏe hay đau yếu, lo cho chúng an toàn. Chiều về dẫn vào chuồng, có người canh coi cẩn thận. Họ thường đặt tên gọi riêng cho những con đầu đàn hay con nào dễ thương. Bây giờ họ nuôi kỹ thuật hơn nhiều, có hình chụp từng con, mỗi con một tên, mỗi con một lý lịch ngày sinh, ngày xén lông và đặc tính từng con...

Chúa Giêsu đã dùng ngay hình ảnh nuôi chiên đó để nói lên lòng tốt của Ngài đối với mỗi người. Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn chiên lạc (Mt 18,12-14), Chúa gọi các con cái Chúa là chiên bé nhỏ (Lc 12,32), Chúa thương cho bầy chiên tan tác (Mc 14,27), Chúa thương các chiên lạc nhà Israel (Mt 10,6.15,24)... tất cả tâm tình ấy gói ghém trong chữ “Mục tử tốt lành”... “Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta” (c.27). Và đó cũng là chân lý làm nên một đoàn chiên. Sự hiểu biết đây là hiểu biết bằng con tim, bằng tấm lòng nữa. Người Do thái xưa kia đã thiếu điểm đó. Họ đòi Chúa cho xem phép lạ vì tinh thần họ là thế (Gio 8,32).  Họ sợ ánh sáng (3,19,21) và cứng lòng tin (8,47) đối với Ngài là đấng tiền định quan phòng.

Còn cho chiên của Chúa thì chẳng cần những dấu hiệu bên ngoài vì họ đã biết, đã theo Ngài, đã quen tiếng của Ngài. Về phía Chúa, Chúa quả quyết Ngài từng hiết từng người, không phải là biết như biết tên tuổi hay biết một con số. Nhưng Chúa quả quyết Ngài biết từng người như biết Đức Chúa Cha của Ngài vậy (c.15). Chúa đã minh chứng sự hiểu biết kia như Chúa biết Nathanael (Gio 1,47-50), biết và gọi tên Giakêu (Lc 19,1-10), biết đời tư của thiếu phụ Samaria (4,18), Chúa biết người nào đã sờ đến tua áo và đã được lành bệnh (Mc 5,33). Chúa biết chim trên trời (Mt 6,26), tóc trên đầu (10,33), Chúa biết nơi lòng người và thấu hiểu rõ cả những hành vi kín nhiệm (Mt 6,17.27).

Đó là giáo lý nói lên Chúa biết từng người. Sự hiểu biết đó có nghĩa là Thiên Chúa quan phòng gìn giữ họ “như con ngươi mắt Ngài”. Chúa gìn giữ họ trong vòng tay Thiên Chúa toàn năng quan phòng, sự quan phòng của Thiên Chúa Cha cũng như của Thiên Chúa Con, vì Thiên Chúa Cha và Chúa Con là một  (c.30), cùng một bản tính và uy quyền.

Hôm nay Chúa Giêsu cũng đang mời chúng ta là những con chiên đi theo Ngài. Nghe lời Ngài và bước đi theo Ngài. Chúa đã bước đi trước và mời chúng ta bước theo. Chúa đã đi sang Belem, sang Ai cập, về Nazareth, lên Giêrusalem, núi cây Dầu, núi Sọ và về trời. Con đường Chúa đi tuy hẹp lối khúc khủyu thật nhưng Chúa nói trước sẽ đi tới “đồng cỏ xanh tươi Chúa suối nước trong lành” (Tv 23). Xin Chúa dọn lối cho chúng con bước từng bước theo chân Chúa về nhà Chúa.

 

4. Chúa sẽ không bỏ rơi chúng con.

Thái độ đức tin mà Chúa Giêsu đòi hỏi không phải là thái độ nghỉ ngơi. Đức tin là một xác tín không hề xóa đi những vấn nạn mà chúng ta đặt ra đối với đức tin này và đối với người thể hiện mình là đáng tin cậy. Đức tin không xóa đi những căng thẳng. Chúng ta vẫn hoang mang: “Xin cho chúng tôi biết Ngài có phải là Đấng Mêsia không?”. “Xin cho chúng tôi biết Ngài có phải là Đấng Phục Sinh không ?”. “Xin cho chúng tôi biết Ngài có phải là Bánh Hằng Sống không?”

Trái lại, việc gắn bó với Chúa Giêsu, bằng đức tin, có được một loại xác tín: đấy là sự tin tưởng mà một người tình dành cho người mình yêu; mặc cho chuyện gì xảy ra, tôi sẵn sàng chung tình, giữ lòng trung tín đối với anh. Chính lòng tin tưởng này đối với Chúa Giêsu, dựa trên tương quan giữa Ngài và chúng ta, là nền tảng cho việc chúng ta đón nhận Lời Ngài như là một lời đáng tin cậy.

Hôm nay, trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và chúng ta, Ngài đưa ra cho chúng ta vài bảo đảm về lòng trung tín và sự dấn thân của Ngài đối với chúng ta. Ngài biết chúng ta. Ngài ban sự sống đời đời. Ngài quan tâm gìn giữ chúng ta trong bàn tay Ngài.

Lòng trung tín của Thiên Chúa, đã được loan báo trong Cựu ước, thì giờ đây được khẳng định lại một cách âu yếm hơn, do chính Con Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ xét lại Giao ước của Người.

Nhưng nhắc đi nhắc lại phẩm chất này của Chúa Kitô thì có ích gì đối với chúng ta đâu, nếu phần chúng ta, chúng ta không hành động giống như Ngài đối với những người chung quanh. Nếu chúng ta tham dự vào sự sống của Chúa Kitô, chúng ta phải nhập thể phẩm cha61 này của Ngài cho nhân loại ngày nay.

Nếu chúng ta không trung tín đối với những người bên cạnh mình với những thân hữu mình, thì họ sẽ không biết Chúa Giêsu Kitô là ai. Niềm xác tin rằng Chúa Kitô quan tâm đến con người cho đến cùng tùy thuộc vào hình ảnh mà Kitô hữu đưa ra về lòng trung tín ấy. 

 

5. Sự thật cứu rỗi

Tôi ban cho chúng sự sống đời.....Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Tôi và Chúa Cha à một đây là thực tại cao cả được thực hiện nơi cuộc sống của người tin Chúa, mà Chúa Giêsu mặc khải cho những người Do thái chất vấn Chúa:  ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.

Tác giả Gioan đã đặt khung cảnh tôn giáo cho những lời mặc khải về thực tại đời sống đức tin của người kitô hữu vào dịp Cung hiến Đền thờ Giêrusalem. Chúa Giêsu đi đi lại lại trong Đền thờ, tại hành lang Salomon, nơi các thầy thông luật giải thích lề luật cho dân chúng. Hơn ai hết, Chúa Giêsuhiện điện ở đó để mặc khải sự thật cứu rỗi, bởi vì Ngài chẳng những có quyền, mà còn là Đấng thay thế các vị thầy của luật cũ, Ngài là thầy của luật mới vĩnh viễn.

Lễ Cung hiến Đền thờ nhắc cho người Do thái nhớ lại sự phục hưng tôn giáo được những sứ giả của Chúa là anh em nhà Macabê thực hiện vào năm 164 TCN, bởi vì trước đó đền thờ Giêrusalem đã bị vua Sirie là nơi dâng lễ vật cho thần ngoại bang xúc phạm đến Thiên Chúa chân thật. Nhắc lại khung cảnh tôn giáo của lễ cung hiến Đền thờ, tác giả Gíoan muốn lưu ý về chương trình hay ý định của Chúa Giêsu là mạc khải sự thật cứu rỗi, khai mạc thời đại mới, thời đại phục hưng tôn giáo dựa trên đức tin vào Đấng Thiên Chúa sai đến là chính Ngài.

Trước những thắc mắc của người Do thái muốn biết Ngài là ai, Chúa Giêsu nói: Những việc Tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc đàn chiên của tôi. Lời nói và việc làm của Chúa mà người Do thái đã thấy tận mắt từ khi Ngài bắt đầu rao giảng Tin mừng đã quá đủ để mạc khải Ngài là ai rồi. Chỉ những ai có thái độ sẵn sàng mới có thể đón nhận mạc khải của Chúa, tin nhận Ngài và được sự sống đời đời mà thôi.

Xin Chúa cho chúng ta có tâm hồn rộng mở trước mạc khải sự thật cứu rỗi của Chúa và luôn sống kết hợp với Chúa mọi nơi, mọi lúc. 

 

6. Thái độ đáp trả của chiên

Chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Đó là khẳng định của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay. Nghe tiếng chủ chiên là nghe hiểu và đáp trả. Thái độ đó sẽ được đền bù xứng đáng: người chăn chiên sẽ dẫn chúng đến đồng cỏ xanh tươi sẵn sàng liều mạng để bảo vệ chúng. Nghe tiếng chủ chiên còn là nghe để bước theo bầy. Nghe để rồi tách khỏi bầy, tìm cho mình một lối đi riêng thì đâu còn phải là nghe theo tiếng của người chăn Người chăn săn sàng bằng rừng vượt suối để tìm con chiên lạc, chứ không bao giờ muốn chiên lạc xa bầy. Đồng cỏ mà người chăn dự tính trong đầu được dành cho cả bầy, tách rời khỏi bầy chắc chắn chiên không thể đến được đồng cỏ này. Tưởng rằng chỉ một mình thức tỉnh nghe và theo tiếng gọi, trong lúc cả bầy chiên chưa nghe biết, rất có thể đó là tiếng gọi giả hiệu của sói dữ muốn chiên rời xa sự chăm sóc của chủ để dễ dàng tấn công. 

Giáo Hội là đàn chiên của Chúa. Lời hứa chăm sóc bảo vệ đàn chiên của Chúa Giêsu không chỉ dành riêng cho thời các Tông đồ hoặc các cộng đoàn tiên khởi, nhưng đã trải dài suốt 20 thế kỷ nay. Biết bao thế lực chống đối chủ trương triệt hạ Giáo hội, nhưng giáo hội vẫn tồn tại nhờ sự bảo vệ đầy quyền năng của chủ chăn. Trong đàn chiên Giáo Hội này, mỗi con chiên đều được người chăn biết rõ và gọi tên và chiên có bổn phận phải nghe và đáp trả. Sự đáp trả có thể mang nhiều sắc thái khác nhau nhưng dù sao vẫn không thể ra ngoài lối đi của tất cả đàn chiên, vì đó là lối dẫn đến sự sống. 

Ước gì chúng ta biết lắng nghe và đáp lại tiếng gọi của Chúa, đồng thời trung thành với đàn chiên Giáo Hội, bởi vì một khi lạc xa đàn, chúng ta sẽ không thể tìm được đồng cỏ và suối nước trong, nơi mà người chăn chiên muốn cho cả đàn chiên vui hưởng.

 

7. Cửa ràn chiên

Trong dụ ngôn mục tử và đàn chiên, Chúa Giêsu đã ví mình như người mục tử nhân lành. Hôm nay Chúa lại nói: Tôi là cửa ràn chiên. Và Chúa còn nói thêm: Tôi là cửa, ai qua tôi mà vào thì được sống. Giờ đây chúa lại nói đến sự sống.

Tôi đến để cho chiên được sống.

Chủ đề bài suy gẫm hôm nay là sự sống.

Trước đây, chúng ta đã nghe Chúa Giêsu nói, người là “nước hằng sống". “là bánh hằng sống". Và sau này Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống (Ga. 11, 25) ; chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống (Ga.14, 1-7). Trong sách Khải huyền, Chúa trở thành "cây sự sống" (Kh.22) và nước trường sinh (Kh.22, 17). Cửa ràn chiên là cửa sự sống: Ai qua tôi mà vào thì sẽ được sống. 

Trong thư thứ nhất, thánh Gioan viết: Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời nơi con của Người (1 Ga 5, 9 -13). Tội lỗi đã đưa đến cái chết; nay Chúa Giêsu đến để ban lại sự sống. Vì thế đây được coi như là một cuộc tái tạo mới.

Chúa Giêsu tự xưng mình là cửa của sự sống. Muốn có sự sống phải đi qua Chúa. Nhưng đi qua Chúa Giêsu là gì ?

Đọc kỹ Tin Mừng, chúng ta thấy câu trả lời nơi những trường hợp của một Mađalêna, một Zakêu... những con người đã đến với Chúa Giêsu và đã được cứu, đã tìm lại được sự sống. HoÏ là những con chiên đầu đàn đi qua cửa của Chúa Giêsu, là đến với Chúa và nghe lời Người, chấp nhận sống lời người và đã đổi đời: Nếu tôi có làm thiệt hại ai, tôi xin đền gấp bốn...

Ngày nay chúng ta cũng chỉ có thể đến với Chúa khi ta đến với Tin mừng: đọc và suy gẫm lời Chúa. Tin mừng là cửa ràn chiên hôm nay, nơi chúng ta sẽ gặp gỡ Đức Kitô; để rồi từ những con chiên ghẻ, con chiên què hay con chiên lạc, chúng ta sẽ được Chúa Giêsu dạy bảo, để trở nên những con chiên hiền lành, con chiên có sự sống. Cuốn sách sự sống là chính cuốn Tin mừng. Vì thế thánh Phanxicô đã khởi đầu bản Luật Dòng của ngài bằng câu: Luật và đời sống Anh em Hèn mọn là Thánh Phúc Âm Đức Giêsu Kitô.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm