Danh mục bài viết

Cập nhật 1/5/2019 - 4:11 - Lượt xem 2872

Thứ Năm tuần 2 Phục Sinh

"Ðức Chúa Cha thương mến Con Ngài, nên ban toàn quyền trong tay Con Ngài".

 

Tin Mừng: Ga 3, 31-36

Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người; Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật. Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.”

 

Suy niệm:

1. Đấng từ trên cao mà đến- Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Giêsu ơi! Ngài từ đâu đến? 
Tôi là Đấng từ trên cao mà đến. 
Tôi là Đấng từ trời mà đến (c.31). 
Tôi sinh ra trên đất, sống trên đất, chết trên đất. 
Nhưng tôi không thuộc về đất, đất không phải là gốc của tôi. 
Gốc của tôi ở nơi cung lòng Thiên Chúa (Ga 1, 18). 
Dù cư ngụ trên mặt đất, tôi vẫn luôn hướng về Cha tôi trên trời. 
Khi làm xong sứ mạng, tôi sẽ trở về với gốc của tôi. 
Giêsu ơi! Ngài làm gì vậy? 
Tôi làm chứng về điều tôi đã thấy và đã nghe (c. 32). 
Tôi làm chứng về Thiên Chúa là Cha của tôi. 
Tôi đã thấy việc Người làm và đã nghe tiếng Người nói. 
Nhiều vĩ nhân diễn tả rất hay, rất đúng về Thiên Chúa 
và cũng có kinh nghiệm rất sâu về Người. 
Nhưng họ không phải là Con như tôi. 
Họ chẳng thể nào gần mầu nhiệm Thiên Chúa như tôi. 
Chẳng ai biết Cha bằng Con, không ai biết Cha trừ ra Con (Lc 10, 22). 
Chỉ mình tôi mới có thể vén mở trọn vẹn khuôn mặt Thiên Chúa. 
Giêsu ơi! Ngài là ai? 
Tôi là người được Thiên Chúa sai đến với nhân loại trên mặt đất (c. 34). 
Chẳng có giây phút nào tôi quên mình là Con, người được sai. 
Chẳng có giây phút nào tôi quên Cha tôi là Đấng sai tôi. 
Khi nhận mình triệt để tùy thuộc vào Cha, tôi chẳng hề xấu hổ. 
Tôi đáng tin vì chính sự tùy thuộc đó. 
Tôi chẳng làm điều gì tự mình, 
tôi chỉ làm điều tôi đã thấy Cha tôi làm (Ga 5, 19). 
Tôi chẳng nói điều gì tự mình, 
tôi chỉ nói điều tôi đã nghe Cha tôi nói (Ga 8, 26). 
Chính khi tôi tùy thuộc trọn vẹn vào Cha mà tôi được tự do. 
Giêsu ơi! Ngài có hạnh phúc không? 
Tôi hạnh phúc vì tôi yêu và được yêu. 
Cha tôi yêu mến tôi và tôi ở lại trong tình yêu của Cha (Ga 15, 10), 
Người vẫn ở với tôi và không để tôi cô độc (Ga 8, 29). 
Người yêu mến tôi vì tôi dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (Ga 10, 17). 
Tình yêu của Cha thể hiện qua việc Người trao phó mọi sự trong tay tôi (c. 35). 
Tôi có quyền phán xét, quyền cho sống lại ngày sau hết, quyền trên mọi xác phàm. 
Bởi vậy tôi mới nói mọi sự Cha có là của tôi (Ga 16, 15). 
Hãy đón nhận lời chứng của tôi (c. 33). 
Hãy tin vào tôi để được sự sống vĩnh hằng ngay từ đời này (c. 36). 
Hãy đến với tôi để được chia sẻ cùng một sứ mạng và vinh quang. 

Lạy Cha, 
con phó mặc con cho Cha, 
xin dùng con tùy sở thích Cha. 
Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn. 
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả. 
Miễn là ý Cha thực hiện nơi con 
và nơi mọi loài Cha tạo dựng, 
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa. 
Con trao linh hồn con về tay Cha. 
Con dâng linh hồn con cho Cha, 
lạy Chúa Trời của con, 
với tất cả tình yêu của lòng con, 
Vì con yêu mến Cha, 
vì lòng yêu mến 
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha, 
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha, 
không so đo, 
với một lòng tin cậy vô biên, 
vì Cha là Cha của con. Amen. 
(Charles de Foucauld) 

 

2. THUỘC VỀ ĐỨC GIÊSU ĐỂ SỐNG ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA MÌNH - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Ngày nay, trên thế giới, người Việt Nam của chúng ta gần như có mặt hầu hết nơi các quốc gia! Vì thế, để gợi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đã có nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo về nguồn gốc, văn hóa Việt! 

Trong các buổi hội họp đó, gần như không thể quên, người ta luôn nhắc nhớ nhau hãy giữ gìn bản sắc, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt, cho dù hiện diện ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì! 

Tại sao vậy? Thưa, con người chỉ có thể lớn lên cách quân bình khi người ta còn giữ được bản chất, văn hóa, truyền thống của dân tộc mình. Nếu không, họ là một người trưởng thành cách khập khiễng!

Là người Công Giáo, ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được trở thành Kitô hữu, tức là chúng ta mang trong mình hình ảnh Đức Kitô. Nói cách khác, chúng ta thuộc về Đức Kitô. Vì thế, bổn phận của chúng ta phải làm sao cho Đức Kitô được hiện tại hóa trong lời nói, hành động và cử chỉ của chúng ta. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải khước từ những gì không phù hợp với bản chất của mình.

Hôm nay, vẫn trong trình thuật giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô, nhưng câu chuyện ngày càng đi sâu vào cốt lõi của vấn đề, đó là, Đức Giêsu cho Nicôđêmô biết được bản chất của Ngài và những công việc Ngài làm do được lãnh nhận từ Chúa Cha, Ngài nói: “Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người”(Ga 3, 34 - 35).

Với câu chuyện trên, qua Nicôđêmô, Đức Giêsu mở rộng ra cho mọi người thấy được tầm quan trọng và giá trị cho những ai được hạnh phúc thuộc về Đức Giêsu, đồng thời cũng mạc khải cho biết hậu quả của những kẻ không tin: “Ai tin vào người Con, thì được sự sống đời dời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con, thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3, 36.

Xin Chúa ban cho chúng ta biết luôn luôn ý thức mình thuộc về Đức Kitô và phải có trách nhiệm làm cho Đức Kitô lớn lên và rạng ngời ngang qua cuộc sống của chúng ta. Amen.

 

3. Tình Yêu Thương

"Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Ngài cho thế gian, để những ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống đời đời". Ðó là một sự thật quan trọng được Chúa Giêsu mạc khải cho ông Nicôđêmô trong cuộc đối thoại ban đêm, được ghi lại nơi chương 3, Phúc Âm thánh Gioan. Lời quả quyết trên về tình thương của Thiên Chúa đối với con người được Chúa Giêsu lập lại một lần nữa trong bữa Tiệc Ly như sau: "Thật vậy, Thiên Chúa Cha đã yêu thương các con vì các con đã yêu mến Thầy và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến" (Ga 16,27).

Thử hỏi, có ai có uy tín hơn Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, để mạc khải cho chúng ta biết tình thương của Thiên Chúa Cha đối với thế gian, đối với toàn thể tạo vật đã được dựng nên và nhất là đối với tất cả mọi người đã được dựng nên giống hình ảnh của Ngài?

Lý trí tự nhiên của con người qua những suy tư triết học khó có thể, nếu không muốn nói là không bao giờ có thể đạt đến kết luận chắc chắn rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và Ngài yêu thương con người đến mức độ cho đi điều quí nhất là chính Con Một Thiên Chúa, để cứu chuộc con người khỏi nô lệ tội lỗi, khỏi phải chết. Chỉ nhờ mạc khải của Chúa Giêsu Kitô, con người chúng ta mới nghe được sự thật đầy an ủi này, Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, Thiên Chúa Cha hằng yêu thương con người. Lý do thôi thúc hành động của Thiên Chúa cứu rỗi con người chính là tình yêu thương, và Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho mọi người biết và cho cả ông Nicôđêmô, là người có đủ uy tín để nói như vậy, bởi vì Người từ nơi Thiên Chúa Cha mà mạc khải cho chúng ta biết.

Những lời tâm sự trên xác nhận căn cứ và nguồn gốc của Chúa Giêsu từ trên cao, từ Thiên Chúa Cha. Những lời này nhắc cho chúng ta nhớ lại những suy tư cao sâu của tác giả Phúc Âm theo thánh Gioan, nơi khởi đầu sách Phúc Âm của ngài như sau: "không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ. Nhưng Con Một Ngài là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Thiên Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu Kitô". Làm cho những sự thật được Chúa mạc khải cho con người có được giá trị trỗi vượt hơn mọi lý thuyết, hơn mọi lẽ khôn ngoan do trí khôn con người nghĩ ra. "Kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Ðấng từ trên trời mà đến thì ở trên mọi người". Người làm chứng về những gì Người đã thấy và đã nghe trực tiếp từ Thiên Chúa Cha, vì Người hằng ở cùng Thiên Chúa Cha, được sai xuống trần gian để mạc khải cho con người biết.

Ðáp lại mạc khải của Chúa Giêsu, con người cần khiêm tốn, vâng phục và kính tin. Ðây là điều Chúa mời gọi ông Nicôđêmô ngày xưa và mọi người ngày nay hãy thực hiện: "Ai tin vào Con Thiên Chúa thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời".

Chúng ta đã đáp lại mạc khải của Thiên Chúa như thế nào?

Thảm trạng của con người bắt đầu khi con người tin không có Thiên Chúa và nếu có Thiên Chúa thì họ vẫn lãnh đạm thờ ơ không tin vào Thiên Chúa, và cũng không tin, không quí trọng sự thật được Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, mạc khải nữa. Nhưng thử hỏi, con người có thể dập tắt khát vọng hướng về Thiên Chúa đã ăn rễ sâu trong tâm hồn của mình hay không?

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha vô cùng vì đã ban cho chúng con Chúa Giêsu Kitô để chỉ cho chúng con biết con đường sống như những con cái Cha, và trở về cùng Cha an toàn. Xin thương giúp cho chúng con trưởng thành trong đức tin mỗi ngày một hơn. Xin củng cố đức tin chúng con trước những thách đố của môi trường xã hội trần tục, không ngừng tìm cách chối bỏ Chúa cũng như cố ý làm méo mó và cười nhạo những sự thật do Chúa mạc khải.

Lạy Cha, xin thương củng cố đức tin của chúng con.

 

4. Trời và đất bất hòa sao ?

Từ Công đồng Vatican 2 đã cho chúng ta ý thức lại giá trị và tự trị của những thực thể trái đất thuộc dự tính của con người. Trời đất không phải là thung lũng nước mắt. vật chất và thân xác không là đồ bỏ. Ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô phải ảnh hưởng tới tất cả mọi thực thể. Thánh Phao-lô đã nói : “Toàn thể tạo vật đang rên xiết mong chờ sự giải thoát".

Kitô hữu không thể núp mình trong phạm vi hoàn toàn tinh thần và trong thế giới bên kia. Marx đã tố cáo loại người này, họ lãnh đạm trước đau khổ trên trái đất để đi tìm chỗ tốt hơn nơi cao xa, họ còn chẳng làm gì trước bất công và tàn ác, vịn lẽ rằng Thiên Chúa sẽ phạt kẻ giàu và thưởng kẻ nghèo.

Thực ra, rất khó phân lìa và liên kết đất và trời, cũng như không giá trị đất và trời. Hôm nay, Đức Ki-tô phân biệt một cách như sau : Người nói rằng trời và đất có ngôn ngữ riêng của nó. Tiếng nói của đất dễ giải nghĩa, vì nó thuộc giác quan của ta. Nhờ đó chúng ta nhận được kiến thức và thông truyền kiến thức.

Tiếng nói của trời khá khó lãnh hội, đó là thứ tiếng chứng từ : Chỉ có Đấng từ trời xuống làm chứng về điều đã thấy, đã nghe, chứng nhận, xác quyết về sự này, điều kia là thực. Còn ngay cả những người được nghe những lời chứng đó cũng không thấy được, biết được sự này, Đấng kia thế nào. HoÏ cũng không được sống trong diễn biến đó. 

Đức Giê-su là chứng nhân của Thiên Chúa, Người đã kể lại những gì đã tồn tại trong Thiên Chúa. Đến lượt chúng ta, chúng ta trở nên chứng nhân của Thiên Chúa, nếu chúng ta là thành phần trong thân thể của Đức Ki-tô.

Tiếng nói trong Thánh lễ là tiếng làm chứng rằng : Đức Ki-tô hiện diện trong cộng đồng, chứng thực Thiên Chúa đang hành động qua các dấu chỉ của Thánh lễ. Và người ta sẽ không hiểu gì về những dấu chỉ này trong Thánh lễ hàng ngày và Chúa nhật nếu người ta không đón nhận tiếng nói của chính Thiên Chúa. 

 

5. Thực tại nước trời

“Đấng tự Trời mà đến... thấy gì, nghe gì thì làm chứng như vậy” (c.32). Khi chúng ta muốn tới một nơi xa lạ, chúng ta phải là một gì ? Có bản đồ ư, có cẩm nang ư, có người dẫn đường chỉ lối ư ? Chắc chắn chúng ta sẽ chọn người nào đã từng quen thuộc nơi ấy, đã từng ở nơi ấy rồi về chỉ dẫn lối cho chúng ta. Vậy trên lãnh vực nước Trời, đang khi chúng ta hiểu mù mờ thì Chúa Giêsu đã từ trời xuống thế chỉ lối cho chúng ta về Trời. Điều này có làm chúng ta an tâm tin tưởng chăng ?

Vâng nước trời là một thực tại huyền nhiệm mà chỉ Chúa Kitô mới có thể mạc khải cho chúng ta biết bản chất của nó. Khi Chúa mạc khải cho những kẻ hèn mọn nhỏ bé chứ không cho người khôn ngoan tài trí của thế gian (Mt 11,25), cho các môn đệ chứ không cho người ngoài, vì đối với họ tất cả đều bí ẩn (Mc 4,11). Chúa Giêsu mạc khải nước trời cách tiên tiến qua các ngụ ngôn. Vì nước trời khó hiểu, nên Chúa Giêsu đã dùng một loại sách ví là các dụ ngôn. Sau phục sinh thì các dụ ngôn này được bổ túc thêm (Sđcv 1,3) và được hoàn tất nhờ Thánh Thần (Gio 14,26.16.14).

1. Những dụ ngôn nói lên bản tính nước trời.

Nước Trời là một mầu nhiệm, mỗi dụ ngôn soi sáng một khía cạnh của nước trời. Dụ ngôn gieo giống chỉ việc rao giảng và sự tăng trưởng của nước trời (Mt 13,3-9.18,23). Hạt giống có một sức tăng trưởng tự nó và riêng nó thôi (Mc 4,26-29) để ám chỉ  vai trò âm thầm và khiêm hạ của ơn Chúa nơi mỗi tâm hồn. Dụ ngôn hạt cải (Mt 13,31-32) cho biết sự tăng trưởng vượt lên của nước trời theo chiều rộng. Dụ ngôn men trong bột  (Mt 13,38) chỉ sức mạnh cảm hóa chiều sâu của Phúc âm. Dụ ngôn kho báu và đá ngọc dạy cho biết giá trị tuyệt đối của nước Trời (Mt 15,44-46). Dụ ngôn lúa và cỏ lùng để ám chỉ nước Chúa khi còn tại thế gồm kẻ tốt người xấu bên nhau, để nói lên sự tàn hại ngấm ngầm của ma quỉ và sự hững hờ không tỉnh thức của người tín hữu. Dụ ngôn thả lưới biển chỉ việc đánh cá thiêng liêng (Mt 13,47). Dụ ngôn mùa màng cần thợ gặt nói lên sự cần thiết của truyền giáo (Mt 9,37). Dụ ngôn Đấng chăn chiên lành, cây nho và cành nho (Gio 10,1.15,1) nói lên mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và con người. Nước Chúa được mô tả hạnh phúc như một tiệc tùng và tiệc cưới (Mc 2,19) hay ngày mùa hy vọng (Mt 9,37).

2. Điều kiện vào Nước trời:

Vào được nước Chúa là cả một ân huệ tuyệt hảo nhưng không của Thiên Chúa, là giá trị tuyệt đối mà người ta phải hy sinh tất cả để chiếm lấy cho bằng được (Mt 13,44). Xin đừng coi việc vào đó như là quyền riêng của mình. Vì chính Thiên Chúa tự do thuê mướn và trả công bao nhiêu cho người nào Ngài muốn (Mt 20,1-6). Vào nước Chúa phải có tâm hồn nghèo khó (Mt 5,3t), một thái độ bé thơ (Mt 18,1-4), một sự tích cực tìm kiếm sự công chính trước (Mt 6,33), sự chịu đựng nhẫn nại  của bát phúc (Mt 5,10), phải từ bỏ những gì mình có  (Mt 13,44), Thiên Chúa sẽ lựa lọc kỹ càng những ai xứng đáng như lựa chiên lựa dê (Mt 13,24.30), lựa chọn cá tốt (13,47-50), lựa chọn người nào mặc áo cưới (22,11).

Ít ra hôm nay chúng ta tin Chúa và chấp nhận được hai điểm là bản tính nước trời và điều kiện vào nước đó là chính Chúa Giêsu đã mạc khải, qua uy tín thần linh của Ngài từ Trời mạc khải cho chúng ta.

 

6. Khiêm tốn đón nhận Mạc Khải

Những lời chứng trong Tin mừng hôm nay như một điệp khúc vang vọng lại những lời Chúa Giêsu đã nói vơi Nicôđêmô: Ngài là Đấng đến từ trên cao, từ trời mà đến. Chính nguồn gốc Thiên Chúa của Chúa Giêsu, đã làm cho những sự thậtmà Ngài mạc khải cho con người có được giá trị trỗi vượt mọi lý thuyết và lẽ khôn ngoan của trí khôn con người.

Hiện nay, đã có nhiều tôn giáo xuất hiện khắp nơi, nhưng kitô giáo khác với những tôn giáo khác ở chỗ: những giáo lý đức tin mà Giáo hội công giáo dạy không do trí khôn con người tìm kiếm, suy tư, nhưng được chính Thiên Chúa soi sáng, đặc biệt qua Chúa Giêsu, Đấng từ trời xuống, và do đó, những điều Ngài dạy về Thiên Chúa, về bản thân Ngài và về con người là đúng đắn và đáng tin. Tuy nhiên, đó cũng là những điều vượt trí hiểu biết của con người và khó đón nhận, nếu không đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Chính Nicôdêmô là người trí thức, thông thạo Kinh thánh, thế mà cũng bối rối khó hiểu.Như thế, đứng trước mạc khải của Thiên Chúa, thái độ chúng ta cần có là khiêm tốn và cầu nguyện. Thêm vào đó là sự ham mê học hỏi lời Chúa, .để những gì chúng ta tin có cơ sở vững chắc trong Kinh thánh, trong giáo huấn của Giáo hội, chứ không phải là tin suông, chẳng hiểu biết gì cả 

Chúa Giêsu quả quyết: Ai tin vào người Con, thì được sự sống đời đời, bởi vì chúa Giêsu là Con duy nhất của Chúa Cha, được Chúa Cha sai đến để mạc khải con đường về trời, đó là con đường của từ bỏ, của thập giá và hy sinh, nhưng qua đau khổ và hy sinh ấy, chúng ta sẽ được chia sẻ vinh quang với Chúa. 

Xin Chúa cho chúng ta biết yêu mến lời Chúa, học hỏi và thực hành, để một ngày kia cũng được hưởng hạnh phúc với Ngài trên trời

 

7. Hướng nhìn lên cao

Tạp chí Time số tháng 45 có ghi lại chứng từ rất cảm động của một cựu tù nhân Mỹ tại Việt nam, ông Avares. Là một phi công Hải quân, ông đã bị bắn hạ trong một phi vụ dọc theo duyên hải Bắc Việt ngày 5/8/1964 ông đã bị giam tại Hoa Kỳ trong vòng 8 năm rưỡi. Năm 1993, một nhà sản xuất phim mời ông và một nhóm cựu tù binh Mỹ trở lạ Việt Nam để thực hiện một cuốn phim tài liệu. Avares đã trở lại căn phòng nơi ông giam, điều duy nhất ông muốn nhìn lại là hình Thánh giá trên bức tường đằng sau phòng giam mà ông đã nhìn lên đó để cầu nguyện. Lời cầu nguyện đã nâng đỡ ông trong những ngày thánh dái thiếu thốn và cô đơn. Ngày nay bức tường đã được tô vôi, cây Thánh giá đã bị một lớp sơn vẽ chồng lên, và ông cho biết có một cái gì đó đã được chôn chặt trong ông, đó không phảo là hối hận hay căm thù, mà là tâm tình tri ân Thiên Chúa đã cho ông về với gia đình và đã ban cho ông ơn biết  tha thứ và quên đi.

Chứng từ của Avares cho thấy khi Con người biết nhìn lên cao, con người sẽ cảm nhận được ơn Chúa trong cuộc sống của mình. Đó có lẽ là ý tưởng mà Tin mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta. Thánh Gioan ghi lại hai cái nhìn về Chúa Giêsu: một của Nicôđêmô và một của Gioan Tẩy giả Nicôđêmô nhìn vào Chúa Giêsu với những hiểu biết yuên bác nhưng hoàn toàn phàm tục của ông; ông lượng giá về Chúa Giêsu theo thước đo lường thường của loài người, đó là cái nhìn từ dưới đất. Trong khi đó, Gioan Tẩy giả mời gọi các môn đệ ông vượt qua cái nhìn từ dưới để có cái nhìn từ trên cao. Và thánh Phaolô đã nói: “Anh em hãy mặc lấy tâm tình của Chúa Kitô Với tâm tình của Chúa Kitô nghĩa là với cái nhìn của tin yêu và hy vọng, người ta có thể đứng vững trong mọi nghịch cảnh và thử thách; với tâm tình của Chúa Kitô, người ta sẽ cảm nhận được ơn Chúa ngay những lúc như bị bỏ rơi và đánh mất tất cả với tâm tình của Chúa Kitô, người ta sẽ cảm nhận được tình thương và tha thứ ngay giữa nơi chỉ có hận thù và chết chóc. Nguyện xin Chúa gìn giữ chúng ta trong tâm tình ấy

 

8. Giữ lấy bản sắc của mình

Sau thế chiến thứ 2, quân đỗi Nhật thất trận. Toán lính Nhật chiến đấu ở Philippines tan rã. Họ lẩn trốn vào trong các khu rừng sâu. Sau hơn 20 năm, người ta thấy được một người lính Nhật, tên là OHO, đầu tóc như người rừng rú, quần áo rách tả tơi, ra trình diện với chính quyền Philippines

Điều làm cho người ta ngạc nhiên là  người lính Nhật này còn giữ được một bộ đồ lính Nhật mới nguyên.

Người ta hỏi anh, tại sao trong những ngày phải sống đói rách trong rừng mà anh đã không sử dụng bộ đồ kia, mà lại giữ kỹ như vậy?

Anh Oho trả lời;

- Tôi là người lính Nhật, tôi phải giữ trang phục của người lính Nhật, để khi trở về, lúc ra trình diện trước Nhật Hoàng, tôi mặc. Như thế mới xứng đáng là người lính của xứ Mặt Trời chứ?

Người Kitô hữu, xét theo lý lịch thiêng liêng là người thuộc về Đức Kitô, người có Đức Kitô, người bạn của Đức Kitô. Danh vị đó chúng ta có được khi chúng ta chịu phép Rửa Tội. Thế nhưng trong đời sống, có thể chúng ta đã làm phai mờ danh vị đó. Khi ấy, chúng ta không còn thuộc về Đức Kitô nữa, mà chúng ta trở nên “kẻ bởi đất, thuộc về đất”

Liệu chúng ta có can đảm sống như người lính Nhật kia không ? nghĩa là chúng ta có cố gắng để bảo vệ lấy chiếc “áo trắng” chúng ta nhận lãnh,  khi chúng ta chịu phép Rửa tội không?

Ước mong , ngày mà mỗi người chúng ta trở về trình diện Chúa, chiếc áo trắng của Bí tích rửa tội của chúng ta vẫn còn trắng nguyên như anh Oho đã bảo vệ bộ quân phục của anh khi đến trình diện Nhật Hoàng.

Đông lực khiến người lính Nhật kia khắc phục những khó khăn và bảo vệ bộ quân phục của anh đó là tinh thần của anh luôn hướng về quê hương Mặt Trời của anh.

Nếu mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng luôn nhớ rằng mình là người thuộc về “Đấng từ trời mà đến” hẳn là chúng ta cũng sẽ bảo vệ được bộ áo” người lính Kitô” của chúng ta, đó chính là tâm hồn trong trắng của chúng ta, để khi ra trình diện với Chúa Kitô, Đấng là mặt Trời Công Chính, chúng ta mặc trang phục của người lính Kitô.

Và nếu chúng ta đã lỡ làm hoen ố bộ trang phục đó, thì giờ đây chúng ta hãy dùng thứ thuốc giặt tuyệt hảo, là lòng thống hối, mà tẩy xoá những vết hoen ố đó đi, để chúng ta có được một bộ trang phục mới khi ra trình diện Chúa

 

9. Lời chứng Của Gioan Tẩy Giả

Hôm nay Gioan làm chứng về Chúa Giêsu một cách tỏ tường: Ngài là Đấng từ trên cao mà đến... Ngài làm chứng về mình, nhưng chẳng ai tin Ngài; Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến, Thiên Chúa ban Thần Khí cho Ngài. Ngài chính là người Con được Chúa Cha yêu mến và ban mọi sự trong tay Ngài. Ai tin vào Ngài sẽ được sống đời đời.

Ai tin vào người Con thì được sống, đó là một điệp khúc được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng thánh Gioan, nhất là từ chương ba trở đi. Vì quả thật đó là điều quan trọng nhất của Tin Mừng. Bởi lẽ thánh Gioan nói rõ: ai không chịu tin vào Con của người thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy

Đến đây ta tự hỏi mình: vậy tôi đã tin vào Con Thiên Chúa chưa? Cách sống của tôi đã chứng tỏ rằng tôi đã tin vào Đức Giêsu chưa? Thành thật mà nói thì ai trong chúng ta cũng chưa dám chắc điều đó. Nói cách khác: tin thì có tin nhưg sống điều tin tưởng đó thì chưa hẳn như thế. Đọc tin Mừng, ta thấy rõ, những ai đã tin vào Đức Giêsu như một Mađalêna, một Zakêu...đều đã đổi đời. Điều đó chưa thấy rõ nơi bản thân mỗi người chúng ta.

Vậy đòi hỏi của đức tin nơi Đức Giêsu là sự cố gắng sống thành con người phục sinh, một con người mới. Vì thế, trong Kinh Thánh những lời như: hãy trở về trong các Tiên tri hay là rao giảng sự ăn năn thống hối, là những điệp khúc, một lời mời gọi đổi đời để chứng minh rằng chúng ta đã tin vào Đức Giêsu.

Chúa Giêsu đã làm chứng về mình bằng những hành động yêu thương: các phép lạ của Chúa như chừa bệnh tật vừa nói lên Ngài là Con Thiên Chúa quyền năng, lại cũng là Con Thiên Chúa Tình Thương. Sống thương yêu, tha thứ, chia sẻ và phục vụ quên mình, là dấu chỉ của một người đa tin vào Đức Giêsu.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm