Danh mục bài viết

Cập nhật 8/4/2019 - 1:40 - Lượt xem 2709

Thứ Ba tuần 5 Mùa Chay

"Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai".

 

Tin Mừng: Ga 8, 21-30

Khi ấy, Đức Giêsu nói với những người Biệt phái rằng: “Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được.” Người Do thái mới nói: “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói: ‘Nơi tôi đi, các ông không thể đến được’?” Người bảo họ: “Các ông bởi hạ giới; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” Họ liền hỏi Người: “Ông là ai?” Đức Giêsu đáp: “Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó. Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.” Họ không hiểu là Đức Giêsu nói với họ về Chúa Cha. Người bảo họ: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy. Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.” Khi Đức Giêsu nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.

 

Suy niệm:

1. Giương cao Con Người lên - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

“Khi các ông giương cao Con Người lên…” (c. 28). 
Đó là cách diễn tả về cái chết của Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan. 
Cái chết trên thập giá đúng là một sự giương cao nhục nhã, đau đớn. 
Đức Giêsu bị treo lên cây gỗ như một kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa. 
Những kẻ giương cao Ngài lên là các ông, các nhà lãnh đạo Do-thái. 
Họ đã giết Đức Giêsu vì nhiều lý do. 
Lý do lớn nhất là vì Ngài đã dám sống trọn vẹn cho Cha và cho con người. 
Sống công chính đã khiến Ngài trở nên nạn nhân cho cái chết bất công. 
Cái chết của Đức Giêsu gắn kết Ngài với muôn triệu cái chết khác 
của những người vô tội trong suốt dòng lịch sử. 
Nhưng cái chết của Đức Giêsu còn nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. 
Thiên Chúa đã biến cái chết ghê rợn của Con Ngài thành dấu chỉ của tình yêu. 
Nhìn lên thánh giá, chúng ta thấy tình yêu của Cha tặng trao cho nhân loại. 
Cha đã tặng tình yêu lớn nhất là chính Con Một của mình. 
Vì thế có thể nói chính Cha đã giương cao Con mình trên thánh giá. 
“Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, 
Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy” (Ga 3, 14). 
Đức Giêsu được giương cao bởi chính Thiên Chúa qua cái chết của Ngài. 
Như dân Do thái xưa đã nhìn lên con rắn bằng đồng để được sống, 
ai nhìn lên thánh giá và tin vào tình yêu, người ấy sẽ được cứu độ. 
Thập tự giá không còn là dấu hiệu của cái chết bất lực của một nạn nhân. 
Nó đã trở nên thánh giá với sức mạnh phi thường. 
“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, 
tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). 
Qua việc giương cao này, sức thu hút mạnh mẽ của thánh giá được bày tỏ. 
Cả nhân loại được nâng lên khỏi cái nặng nề tội lỗi của chính mình. 
Đấng chịu đóng đinh vẫn lôi kéo cả vũ trụ này mãi cho đến tận thế. 
Cuối cùng, có thể nói chính Đức Giêsu đã tự giương cao mình trên thánh giá. 
“Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, 
nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10, 18). 
Cái chết là kết quả tất yếu của một cuộc sống dám để Cha chi phối trọn vẹn. 
“Tôi không tự mình làm bất cứ điều gì… 
Chúa Cha dạy tôi thế nào thì tôi nói như vậy… 
Tôi luôn luôn làm những điều đẹp ý Người” (cc. 28-29). 
Đức Giêsu đã sống trung tín như một Người Con, người được Cha sai. 
Cha lúc nào cũng ở với Ngài, nên Ngài không biết đến cô đơn (c. 29). 
Mỗi Kitô hữu cũng được giương cao trên thánh giá riêng của đời mình. 
Và khi tôi gắn thánh giá của tôi với thánh giá của Giêsu, 
thánh giá nhỏ bé ấy sẽ có sức kéo nhiều người lên với Giêsu. 

Lạy Cha, xin ban cho con điều khó hơn cả, 
đó là ơn nhận ra Thánh giá của Con Cha 
trong mọi nỗi khổ đau của đời con, 
và ơn bước theo Con Cha trên đường Thánh giá, 
bao lâu tùy ý Cha định liệu. 
Xin đừng để con trở nên chua chát 
nhưng được trưởng thành nhờ đón nhận đau khổ 
với sự kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ 
và lòng khát khao nóng bỏng 
có ngày sẽ được ở nơi không còn khổ đau. 
Ngày đó, Cha sẽ lau khô mọi giọt lệ 
của những người đã yêu mến Cha, 
đã tin vào tình yêu Cha giữa nỗi thống khổ, 
tin vào ánh sáng của Cha giữa đêm đen. 
Nhờ Cha, ước gì đau khổ của con 
nói lên lòng tin của con 
vào những lời hứa của Cha, 
lòng cậy của con vào tình yêu trung tín của Cha, 
và lòng mến mà con dành cho Cha. 
Lạy Cha, xin cho con yêu Cha hơn yêu bản thân, 
và yêu Cha chỉ vì Cha, 
chứ không mong phần thưởng. 
Ước gì Thánh giá trở nên mẫu gương cho con, 
là ánh sáng cho đêm tăm tối, 
nhờ đó con không còn coi khổ đau 
như một tai họa hay một điều vô lý, 
nhưng như một dấu chỉ cho thấy 
con đang thuộc về Cha mãi mãi. Amen. 
Karl Rahner 

 

2. Đức tin và đời sống - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Tin Mừng hôm nay, tác giả Gioan đề cập đến chuyện Đức Giêsu loan báo Ngài sẽ về cùng Cha và những lời tiên tri cho những ai không tin Ngài.

Khi nói đến việc Ngài sẽ trở về cùng Cha, những kẻ chống đối Ngài không thể hiểu nổi! Ngược lại, họ nghĩ rằng Đức Giêsu tự tử. Lối nói này cho thấy họ mỉa mai Đức Giêsu, vì khi nói đến tự tử, ấy là nói đến nơi sâu thẳm, đau khổ dành cho những người khước từ sự sống bằng việc tự tử. Khi nói như thế, họ tự cho mình quyền không thể tin nổi Đức Giêsu vì Ngài sắp đi vào chỗ chết một cách bi đát!

Khi thấy họ phản ứng như vậy, Đức Giêsu đã nói cho họ biết Ngài bởi đâu mà đến và suy tưởng của họ do đâu! Đồng thời Ngài nói tiên tri về số phận của những kẻ cứng đầu do không tin, Ngài nói: "Các ông bởi hạ giới; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết".

Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta rút ra được những bài học sau cho đời sống đạo của mình:

Thứ nhất, hạnh phúc đích thực tùy thuộc vào chuyện chúng ta tin Chúa hay khước từ Ngài. Tin thì được sống vĩnh viễn và khước từ thì trầm luân muôn đời.

Thứ hai, chúng ta được Thiên Chúa trao ban cho nhiều cơ hội tốt, bổn phận là phải làm cho cơ hội ấy trở nên hữu ích cho phần hồn của mình và tha nhân. Nếu không biết nhạy bén để đón nhận cơ hội Chúa ban, hoặc vì coi thường và khinh dể thì sẽ bị luận tội nặng nề hơn những người không biết.

Ngày nay, chúng ta được học hành nhiều về Chúa, nhận biết có Thiên Chúa, nhưng có sống theo điều mình đã tin hay không mới là quan trọng.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa và đem Lời Ngài ra thực hành trong cuộc sống thường nhật, tránh chuyện môi miệng thì cầu kinh mà lòng không yêu mến. Thật vậy, không phải cứ lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là thực hành những gì Lời Chúa dạy thì mới được ơn cứu rỗi.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một đức tin mãnh liệt và một đời sống đầy lòng mến. Xin cho đời sống và những điều chúng con tin được hòa quyện với nhau thành một. Amen.

 

3. Vai Trò Của Ðấng Messia

Bài Tin Mừng trên đây là đoạn tiếp nối cuộc tranh luận về lời chứng của Chúa Giêsu đối với bản thân Người. Trong đoạn đầu của cuộc tranh luận này, Chúa Giêsu đã nhắc đến Cha mình, nhưng những người pharisiêu không hiểu là Người nói đến Thiên Chúa Cha. Trong đoạn chúng ta nghe đọc hôm nay, Chúa Giêsu lại nói về nguồn gốc thượng giới của Người và lại nhắc đến Cha Người. Chúa Giêsu đứng trên quan điểm của Ðấng Mêssia để rao giảng sứ điệp cứu thế, trong đó Người nói lên nguồn gốc thần linh của mình và giới thiệu chương trình cứu độ mà Chúa Cha đã trao phó cho Người thực hiện ở trần gian.

Kể từ khi công khai ra đi rao giảng, tất cả những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu đều tập trung vào việc phổ biến ý định cứu thế của Thiên Chúa Cha. Từ việc kêu gọi mọi người ăn năn sám hối đến việc thi ân giáng phúc cho những người thành tâm thiện chí và cảnh cáo phê bình những kẻ lầm lạc cố chấp, Chúa Giêsu cho thấy Người luôn luôn làm theo thánh ý Chúa Cha. Những người Pharisiêu thì đứng trên quan điểm phe nhóm họ. Họ cũng nói về vai trò của Ðấng Mêssia, nhưng là một Ðấng Mêssia phù hợp với lối nghĩ lối sống đã bị tục hóa của họ. Bị chi phối mạnh mẽ bởi cách nhìn này, họ đọc nhưng không hiểu được những lời Kinh Thánh tiên báo về sự xuất hiện của Ðấng Kitô. Trong cách hiểu của họ, Ðấng Kitô có lai lịch và diện mạo khác hẳn với con người và tự xưng là Cứu Chúa này. Bởi thế, càng nghe những lời Chúa Giêsu giảng, càng thấy các việc Chúa Giêsu làm, họ càng tìm cách chống đối quyết liệt. Họ muốn chứng minh cho dân chúng thấy rằng Chúa Cha và Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu rao giảng chỉ là một trò bịp bợm mà thôi.

Khi tự xưng mình là Ðấng Hằng Hữu, Chúa Giêsu có ý nhắc cho họ nhớ lại lời Giavê Thiên Chúa đã tỏ danh tánh Ngài ra cho ông Môisen trước khi giao cho ông sứ mạng giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ của người Ai Cập. Kể từ đó, danh xưng Giavê Thiên Chúa là Ðấng Hiện Hữu trở thành một danh xưng tối thượng đối với người Do Thái. Nhắc đến danh xưng này là nhắc đến chính Ðấng Tối Cao. Trong lịch sử Israel chưa hề có một ngôn sứ nào dám dùng danh xưng này để nói về chính bản thân mình, vậy mà Chúa Giêsu dùng đến danh xưng tối thượng ấy, ắt hẳn Người phải có một lý do cực kỳ trọng đại. Những người pharisiêu không hiểu và cũng chẳng muốn hiểu lời Chúa Giêsu nói. Lắm lúc chúng ta cũng sống theo cách nghĩ của những người pharisiêu trên đây. Trong lúc Chúa Giêsu phục sinh đang nỗ lực tác động trên mọi lãnh vực của thế giới hôm nay để kéo con người lên cùng Thiên Chúa, Người tác động qua Giáo Hội, qua Lời Chúa, qua các bí tích, các công việc phục vụ của người Kitô. Người cũng tác động các tập thể thành tâm thiện chí của nhân loại, các hệ thống tư tưởng quảng bá chân thiện mỹ, các mối quan hệ xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho con người, các công cuộc giúp thăng tiến đời sống đích thực và toàn diện của con người. Trong khi Chúa Giêsu làm như vậy, thì chúng ta, chúng ta lại làm theo hướng ngược lại, chúng ta dần dần phàm tục hóa đời sống của chính mình và của những người chung quanh bằng những suy nghĩ và hành động chỉ dựa trên những loài thú vật mà thôi. Con người và vũ trụ có nguồn gốc từ Thiên Chúa Hằng Hữu và sẽ trở về với cội nguồn Hằng Hữu ấy. Nhưng đôi khi chúng ta cứ muốn giữ tất cả nằm lại trong thế giới thụ tạo hữu hạn này mà thôi.

Lạy Thiên Chúa là Ðấng hằng có đời đời và là nguồn gốc của mọi sự. Xin ban cho con ơn biết cộng tác với Chúa và với anh chị em trong việc thăng tiến con người và thế giới, góp phần đưa con người và thế giới về với Chúa, về với nguyên thủy nguồn gốc của mọi loài mọi vật.

 

4. Nếu các ông không tin

Một Tin mừng đầy nghịch lý đối vớt bản chất loài người như trong đoạn văn của Thánh lễ hôm nay.

Một lần nữa, Đức Ki-tô thử giúp những người biệt phái cố chấp cứng lòng tin hiểu về Người.

Người là ai ? Người đang bị họ tìm cách loại trừ bằng bất cứ giá nào, nhưng Người sẽ ra đi theo ý Người, khi Người muốn. Người bị họ tố cáo là kẻ tội lỗi, nhưng Người không khó chịu gì về lời họ, còn họ sẽ bị chết vì lời họ. Người sẽ về trời, còn họ vẫn ở dưới đất. Người sẽ bị họ treo trên thập giá, họ tưởng thế là đã trừ diệt được Người mãi mãi, trái lại khi họ treo Người lên, Người lại vinh quang đời đời.

Đức Ki-tô nói : "Nếu các ông không tin, các ông sẽ chết trong tội của các ông". HoÏ không tin. HoÏ không tin Đấng không tự miønh làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy Người điều gì Người nói như vậy, vì Người là Thiên Chúa như Chúa Cha.  

“Nếu các ông không tin ...”. Vậy chỉ cần tin vào Thiên Chúa này thì được cứu độ, dù có vẻ nghịch lý đối với các ông. Hoàn toàn là thế. Chỉ cần chúng ta biết tiếp nhận một chút ánh sáng, thì sẽ được Người soi sáng cho ta thấy tỏ tường về Người. Chỉ cần chúng ta biết tiếp nhận Người, dù không thể giải nghĩa và thực hiện được theo nhãn quan con người. Chỉ cần chúng ta đừng bỏ qua những lời yêu sách của sứ điệp phúc âm, dù có trái nghịch với bản chất con người chúng ta.  Chỉ cần chúng ta bắt lý trí con người hồi phục chân lý đức tin. Chỉ cần chúng ta biết cảm nghiệm sâu xa mầu nhiệm Đức Ki-tô bằng con tim trong đau khổ thập giá cũng như'vinh quang phục sinh.

Nói khác đi, nếu chúng ta không tin Người, thì cũng không còn tin vào Thiên Chúa. Người trở nên một hữu thể vô danh vô tích sự mà thế giới ngày nay cho rằng Thiên Chúa của Đức Giêsu Ki-tô đã chết rồi.

Nếu chúng ta không tin vào Đức Giê-su Ki-tô của Thiên Chúa thì chúng ta sẽ đúc ra thần tượng khác để thờ vì người ta không thể sống vô thần được, dù người ta nói mình sống không cần thần thánh nào cả. Chúng ta sẽ giống như nhiều dân tộc, qua lịch sử của loài người, chế tạo ra những thần tượng. HoÏ thờ nhân vật thay Thiên Chúa của mặc khải, thờ những minh tinh màn ảnh, bóng đá, ca sĩ thay Đức Giê-su Ki-tô. Thật quá trớn.

 

5. Các ông biết Tôi là ai

Đoạn Phúc âm kể lại cuộc tranh chấp quyết liệt giữa Chúa Giêsu và nhóm biệt phái. Chúa Giêsu nói: “Ta ta đi, các ông sẽ tìm kiếm ta” (c.21). Họ tìm kiếm mà sẽ không gặp được bởi có một Đấng cứu tinh trần tục, bách chiến bách thắng, quật ngã mọi chư dân đem về một mối cho dân Do thái uy hùng. Dù sao thì vị cứu tinh như họ cũng tạm bợ. Cùng lắm cũng chỉ là trăm năm trần thế.

Chúa Giêsu đã không nói đến thỏa mãn thứ tạm bợ đó. Mà Ngài giải quyết vấn đề vĩnh cửu của nước trời. Điều ấy thì họ không ham và không tin, cho nên họ không thể gặp được Ngài, vì để gặp được nhau ít là có một số đồng quan diểm, hay ý thức hệ như nhau. Cho nên không thể gặp được Chúa vì không cùng một lòng tin, không tin vào Ngài thì như Chúa nói với người Do thái là “Chết trong đống tội của mình” (c.21). Đấy là một lời cảnh cáo đầy nghiêm nghị bi thảm. “Chết trong tội” là một kiểu nói ám chỉ trọng trách nặng nề của mỗi cá nhân (Đnl 24,16).

Không tin vào ơn cứu rỗi của Ngài, tức là không đi vào đường cứu rỗi của Ngài, tức là rẽ lối sang ngang thì như vậy làm sao có ánh sáng để đi làm sao để tới đích. Không tin mà cứ bước liều đi thì đó quả là một đại họa và bất an vô chừng. Chúng ta hãy giả thiết có một người lạ dẫn đường chúng ta đi tới một điểm nào đó. Trên con đường đi với người này là một người lạ và đi trên con đường lạ chưa biết đích điểm, chắc chắn chúng ta không thể an lòng ra đi với họ khi mà chúng ta không có lòng tin nơi họ. Vậy trên lãnh vực siêu nhiên, ta tin Chúa chúng ta mới an tâm, chúng ta mới có thể bước về trời. Có Chúa cùng đi con đường Ai cập, con đường Emmau, con đường Damas... nhất định sẽ tới đích.

Trong bài Phúc âm này, Chúa nói với số người biệt phái rằng: “Nơi ta đi các ngươi không thể tới được” (c.21) là Chúa muốn nói rằng nếu ra đi không có Ngài, nếu không tin vào Ngài, tức là không thể bước vào nước của Ngài được. Nhưng người Do thái lúc ấy, lại hiểu cách khác. Hạnh phúc bảo rằng: “Nơi mà họ không tới được thì hẳn phải là nơi tự tử” (c.22). Một tự tử là đáng kiếp trầm luân hỏa ngục (Bell.Jud III, VIII, 5). Người Do thái cho rằng đi tự tử như thế là đúng là họ không thể đến đó được. Họ luôn luôn hiểu ngược lại hay bẻ quặt đi. Và vì thế, Chúa nói: “các ngươi thuộc trần gian, còn Ta thuộc trời cao” (c.23). Trời cao tức là nơi hạnh phúc, là sự thật, chân lý, bình an, tình yêu. Còn trần gian vắng bóng những thứ đó. Trần gian khô chồi và lãnh nhận những lời chúc dữ cảnh cáo ngay khi Chúa tuyên bố về bát phúc (Lc 6,24).

Người Do thái nghe thấy thế, họ nổi sùng và hỏi rằng: “Ngài là ai ?” (c.25). Có lẽ hỏi vậy để mà hỏi, hỏi với tính cách chê bôi dè bỉu, hỏi để mà bắt khoan bắt nhặt chứ không phải để tìm hiểu về một Vì Thiên Chúa là Đấng chân thật, là nguồn sự thật. Chúa biết mình đến từ đâu, cho nên Chúa trả lời: “Là nguyên thủy đang nói với các ông đây” (c.25). Hẳn chúng ta còn nhớ Maisen cũng đã hỏi Thiên Chúa là ai và được Ngài trả lời: “ta là Đấng tự hữu” (Xac 3,14). Các tiên tri khi tiếp xúc với Thiên Chúa đều run sợ muốn biết Đấng sai mình... Ở đây, những người Do thái đã hỏi Chúa Giêsu như vậy. Nhưng họ hỏi không để mà biết mà là cố tình từ chối sự hiểu biết về Ngài.

Thật ra thì những người Do thái này đã không nhận ra mình là ai trước Thiên Chúa. Đã không nhận ra mình thì làm sao nhận ra người khác. Cho nên Chúa Giêsu đã nói: “Khi nào các ngươi đem Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết Con Người là ai” (c.27). Tức là sau khi Chúa chịu treo trên thánh giá và đã phục sinh và khi đạo Chúa lan tràn khắp nơi... và khi chính những người Do thái đang hỏi ấy đã chết thì sẽ nhận ra Ngài là ai. Nhưng lúc ấy nhận ra Chúa thì quá muộn rồi. Lúc ấy mới nhận ra Chúa là Đấng phán xét và nhận ra án phạt cho mình đời đời mà thôi.

 

6. Tin nhận Chúa 

Cụ Alexis đã viết thư cho mình 35 năm trước. Đúng ngày được 60 tuổi, cụ mở thư ra đọc : "Bạn thân mến, mừng kỷ niệm 60 năm sinh nhật của bạn, kể từ hôm nay, bạn bắt đầu bước đi trên một đoạn đường mới. 60 năm đã qua và kể như đời bạn đã xế chiều, dù bạn vẫn còn khoẻ, nhưng sức dẻo dai đã kém hơn trước nhiều. Bạn hãy bảo vệ sức khoẻ để còn đóng góp sức lực vào phúc lợi chung. Bạn hãy biết ra đi, biết rút lui cách nhẹ nhàng và nhường chỗ cho đàn em có khả năng thể xác và tinh thần hơn bạn. Nhưng không phải rút lui để tìm nhàn hạ. Bạn hãy chia sẻ kinh nghiệm của 60 năm đầy nụ cười và nước mắt của bạn cho đàn em, vàbạn hãy sung sướng khi thấy họ thành công hơn bạn, vì nhờ họ Thiên Chúa được vinh danh hơn. Bạn hãy tiếp tục dấn thân cho đến hơi thở cuối cùng theo sức bạn, theo tuổi bạn. Bạn hãy chuộc lại những thời gian bạn đã lãng phí trong suốt 60 năm qua. Hãy kiểm điểm trước mặt Chúa, hãy rút kinh nghiệm từ quá khứ, hãy cảm tạ Chúa và xám hối trước mặt Ngài. Bạn hãy dành quãng đời còn lại để làm một việc gì cho Chúa, một việc mà giờ đây Chúa đang mời gọi bạn cộng tác. Bạn đừng quên rằng bạn đang tiến về Nhà Cha mỗi phút một gần hơn. Bạn hãy sẵn sàng thoát ly địa vị là của cải trần gian. Hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng của đời bạn. Hãy sống đẹp lòng Chúa, vui lòng gia đình và bạn bè. Hãy quyết tâm mãnh liệt, hãy thực hiện nghiêm túc, hãy kết hiệp với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Guise. Aân sủng và bình an của Chúa ở cùng bạn".

Thành tâm thiện chí của cụ Alexis đáng chúng ta suy nghĩ. Thực hiện thánh ý Chúa từng giây phút hiện tại là gì, nếu không phải là tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, để đừng chết trong tội lỗi.

Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng "Tà là", đồng thời mạc khải mầu nhiệm Tử nạn của Ngài để lôi kéo mọi người lên cùng Thiên Chúa. Mạc khải chính mình cho con người, Chúa Giêsu cũng mạc khải mối tương quan giữa Ngài và Thiên Chúa Cha. Tin nhận Chúa Giêsu, thì cũng phải tin nhận Thiên Chúa, Đấng đã sai Con một Ngài xuống trần, để cứu rỗi chúng ta. Đây là mầu nhiệm mà chúng ta cần phải chiêm ngắm và dâng lời cảm tạ để nhờ đó đời sống chúng ta được canh tân đổi mới.

 

7. Đặt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu

Bài Tin Mừng được trích đọc trong thánh lễ hôm nay là cao điểm của một cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và cácngười Biệt Phái. Chúa Giêsu đã tuyên bố một cách rõ ràng thẳng thắn, không úp mở gì nữa rằng, Ngài là Thiên Chúa, bởi trước hết Ngài nói, Ngài thuộc về bên trên, Ngài không thuộc về thế gian, rồi Ngài gọi Thiên Chúa Cha là cha Ngài. Những điều này làm cho người Do Thái vô cùng bực tức và bởi đó họ quyết định giết Ngài.

Nhưng những người Biệt Phái cừ tưởng rằng, họ có thể giết Chúa Giêsu bất cứ lúc nào họ muốn. Còn Chúa Giêsu thì lại quả quyết, Ngài ra đi lúc nào đó là tuỳ ở sự định đoạt của Ngài, bởi chính Ngài mới là Đấng làm chủ cuộc sống của Ngài,

Rồi cả đến cái chết của Ngài cũng thế. Xét theo một khía cạnh, cái chết của Chúa Giêsu là một điều mà Ngài không thể cưỡng lại được. Trước hết vì đó là thánh ý của Thiên Chúa Cha, mà Chúa Giêsu đến trần gian là vâng phục ý của Thiên Chúa Cha một cách trọn vẹn. Mà ý của Thiên Chúa Cha là muốn cho Ngài chết thay cho nhân loại. Bởi đó Chúa Giêsu phải chết. Đàng khác Chúa Giêsu đã chấp nhận thân phận làm người, nên Ngài cũng không thể không chết.

Nhưng Ngài không thụ động chiụ trận trước cái chết đó, mà Ngài đã tự ch5o lấy cái chết đó. Ngài đã nhận lấy cái chết đó với tất cả sự sáng suốt và biến nó trở thành một của tế lễ.

Bởi đó khi người Do Thái quyết địng đinh Chúa Giêsu vào Thập Giá, và coi Thập Giá như là một sự thất bại nặng nề của Ngài, thì chính Ngài, Ngài đã biến Thập Giá thành một đài vinh quang.

Khi người Do Thái muốn cô lập Chúa Giêsu trong cái chếtÀ đau đớn và nhục nhã trên câyThập Giá, thì Chúa Giêsu lại biến Thập Giá nên điểm gặp gỡ rất nhiều người, bởi đó Ngài mới tuyên bố: “Khi nào Con Người bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”.

Nói tóm lại, chính lúc sự độc ác của con người tỏ lộ, thì cũng chính là lúc quyền năng, tình thương và danh tánh của Thiên Chúa được tỏ hiện rạng ngời..

Như vậy đoạn Tin Mừng hôm nay, mời  gọi chúng ta khơi lại niềm tin của chúng ta vào Chúa Giêsu. Câu hỏi mà ngày xưa Chúa Giêsu đã hỏi caÀ1c Tông Đồ Ngài rằng :”Còn các con, các con bảo Con Người là ai?” là câu hỏi Ngài luôn luôn đặt ra cho chúng ta hôm nay.

Nhưng nếu ngày xưa, Phêrô đại diện cho các Tông Đồ, trả lời Chúa Giêsu rằng :”Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” thì ngày hôm nay chúng ta cũng phải trả lờinhư thế, nhưng không phải bằng lời nói như khi chúng ta đọc kinh Tin Kính, mà là bằng cách sống của chúng ta.

-Với lối sống phó thác trọn vẹn cho quyền năng của Chúa Giêsu, chúng ta tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa.

-Với lối sống chấp nhận đi theo con đường khổ giá của Ngài, nghĩa là con đường của từ bỏ, của hy sinh, là chúng ta tuện xưng Ngài là Đức Kitô, nghĩa là Đấng thế gian để giải thoát nhân loại.

Trong Thánh Lê Ôhôm nay, chúng ta hãy cầu xin cho mọi con dân Chúa, mau mắn đáp lại lời mời gọi đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, bằng chính cuộc sống phó thác của mình, để dù trong đau khổ, dù trong thử thách, dù trong chiến đấu cam go, chúng ta vẫn trung thành và tin tưởng vì “Ngài không bỏ ta một mình”. /.

 

8. Đức tin

Trong hai tuần vừa rồi, Chúa Giêsu đề cập đến vần đề đức tin nhất là trong chương 8 mà chúng ta vừa nghe trong tuần vừa qua. Một câu hỏi đặt ra là tại sao người Do thái đã cĩ Kinh Thánh Cựu ước hướng dẫn họ mà họ lại cứng lịng tin như thế.

Khi một vấn đề được lặp đi lặp lại nhiều lần như thế thường cĩ hai lý do: một là vì vấn đề đĩ là một vấn đề rất quan trọng, hai là vì, trong trường hợp nay, Chúa Giêsu gặp phải sự cứng lịng tin của người Do thái nĩi chung và Biệt phái và Pharisiêu nĩi riêng. 

Người Do thái cứng lịng tin, cịn ta hơm nay thì sao? Người Do thái cứng lịng tin, cịn con người thời đại chúng ta, kể cả người Kitơ hữu lại dửng dưng với đức tin: tin cũng như khơng tin, vì đức tin cĩ đem lai bao nhiêu hiệu quả trong đời sống đâu. Hay là vì chúng ta đã học nhiều quá chăng; học giáo lý từ tấm bé, biết rất nhiều nhưng thực hành chẳng bao nhiêu. Khi gặp người anh em phật giáo, tơi cĩ cảm tưởng họ chỉ học cĩ một điều và họ đã đem ra thực hành trong đời sống của mình đĩ là lịng từ bi bác ái. Vì thế mà khi nhìn vào cách sống, lời ăn tiếng nĩi cũng như cách xử sự, nơi con người phật giáo chân chính, tốt ra một vẻ hiền hịa, khiêm tốn, rất dễ mến câu chuyện đụng xe. 

Ngày nay, nhờ học giáo lý, chúng ta nhận biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa thật. Nhưng từ tin đến sống theo đức tin ấy lại là một chuyện khác. Ma quỉ cũng đã tin như thế và đã xuống hỏa ngục. Tin và sống theo đức tin đĩ mới là điều quan trọng.

Trong Mùa chay này, mỗi người chúng ta hãy nhìn lại chính mình, xem đức tin và cuộc sống của chúng ta cĩ đi đơi với nhau khơng. Chính Chúa Giêsu đã cảnh cáo rằng: khơng phải những ngườt cứ nĩi Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời đâu, nhưng là những kẻ sống theo Cha Ta mới được vào mà thơi. Sống theo ý Cha, địi hỏi một sự cố gắng ăn ngay ở lành hằng ngày, cố gắng thực thi những điều Chúa Giêsu dạy; lấy lời Chúa làm lẽ sống của mình.

Chuyện kể rằng nhiều người thay một ơng hàng xĩm luơn luơn vui vẻ và tỏ ra là người hạnh phúc, mặc dầu ơng ta chẳng giàu cĩ gì, bèn hỏi ơng ta làm sao mà  ơng luơn sống vui vẻ và hạnh phúc như thế. Ơng ta trả lời rằng: vì tơi luơn được Chúa ban cho tơi như những điều tơi mong ước. Họ thac mắc: làm sao cĩ thể được như vậy? Ơng trả lời: vì tơi luơn ước muốn những điều Chúa muốn cho tơi. Tơi biết chắc rằng những điều Chúa muốn cho tơi là điều tốt nhất cho tơi. 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm