Danh mục bài viết

Cập nhật hôm nay, lúc 11:2 - Lượt xem 340

Đề tài tĩnh tâm năm 2020: (6) BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU SỐNG YÊU THƯƠNG NHƯ NGÀI

WGPTB – Buổi sáng ngày 19/11/2020 trong kỳ tĩnh tâm năm 2020 của linh mục đoàn giáo phận Thái Bình, quý cha được lắng nghe Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường chia sẻ đề tài số 6: BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU SỐNG YÊU THƯƠNG NHƯ NGÀI.

Đề tài 6

BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU

SNG YÊU THƯƠNG NHƯ NGÀI

Chúa Giêsu đã để lại cho các môn đệ luật sống sau đây: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”(Ga 13,34). “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Hai từ quan trọng nhất trong giới răn này là “NHƯ THẦY”. Chúng ta không chỉ bị đòi hỏi hãy yêu nhưng là yêu như Chúa Giêsu đã yêu chúng ta. Tình yêu Kitô giáo phải mang mức độ như tình yêu của Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Loại tình yêu này là loại nào? Tình yêu của Chúa Giêsu dành cho chúng ta được định tính bởi hai đặc tính cơ bản: phổ quát và nhân từ. Ở đây chúng ta suy niệm đặc tính thứ hai: tình yêu nhân từ: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36).

1. LÒNG NHÂN TỪ hay LÒNG THƯƠNG XÓT có nghĩa là gì?

Nói chung, nhiều người trong chúng ta tin rằng chúng ta là những người nhân từ, ví dụ, chúng ta dễ dàng thương xót khi thấy sự khốn khó và đau khổ của người khác. Điều đó liệu có chính xác không? Nhân từ hay thương xót có nghĩa là “đau khổ với”. Theo nghĩa này, chúng ta phải đi đến nơi bị tổn thương, đi vào chỗ mà người ta đau khổ, mang lấy kinh nghiệm nỗi đau và lo lắng của họ. Chúng ta bị đòi hỏi phải khóc với họ, bị tổn thương với họ và bất lực với họ. Vì thế, nhân từ hay thương xót không chỉ là lòng tốt hay nhân từ chung chung. Nếu hiểu lòng thương xót là “đau khổ với” thì đó không phải là một phản ứng bột phát của con người. Theo bản năng, chúng ta tránh xa một đòi hỏi như thế. Chúng ta không muốn nói tới đau khổ. Cách tự nhiên, chúng ta vốn là những người tránh né đau khổ. Và như thế, lòng thương xót không phải là mối quan tâm hàng đầu của chúng ta.

Thật vậy, nếu nhìn vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ mau chóng nhận thấy rằng lòng thương xót không phải là cái điều khiển thế giới này, nhưng là cuộc cạnh tranh. Ngày từ nhỏ, chúng ta đã được dạy bảo phải khác biệt, phải ganh đua, phải thể hiện mình, phải đứng đầu. Chúng ta được khuyến khích phải chinh phục, phải khẳng định mình… Từ đó, chúng ta có thể so sánh mình với người khác và làm thế nào để mình được đón nhận, được biết đến và được yêu thương; làm thế nào để mình trở nên nổi tiếng. Nhiều cấu trúc của các lời hướng dẫn trong cuộc sống thường là đấu tranh chứ không phải là lòng thương xót. (x. H.Nouwen, D.P McNeill, D.A.Morison, Compassion).

Chúng ta phải thừa nhận rằng lời kêu gọi của Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài là biết thương xót, ngược với khuynh hướng đấu tranh của chúng ta. Điều đó có nghĩa là cần phải loại bỏ các khuynh hướng đấu tranh đã ăn sâu trong chúng ta. Không ai có thể làm được điều đó ngoại trừ việc phải thực hiện cuộc trở về của trái tim và lý trí. Chúng ta phải nhận thức đó là món quà chúng ta chỉ nhận được khi chúng ta để cho Nước Thiên Chúa và sức mạnh của Nước Thiên Chúa thâm nhập vào cuộc sống của chúng ta. Lòng thương xót trở nên kiểu mẫu cho cách ăn nết ở của chúng ta khi tình yêu của Thiên Chúa đâm rễ trong cuộc sống của chúng ta. Đó không phải là nhân đức thuần túy của con người nhưng, đúng hơn, là quà tặng đến từ Thiên Chúa.

2. THIÊN CHÚA CỦA CHÚNG TA LÀ MỘT THIÊN CHÚA GIẦU LÒNG THƯƠNG XÓT

Kinh Thánh có nhiều danh xưng chỉ Thiên Chúa, nhưng danh xưng tương xứng nhất với Thiên Chúa là EMMANUEL, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài là Thiên Chúa thuộc về chúng ta, Đấng chăm sóc chúng ta và là Đấng ở giữa chúng ta. Vậy từ “ở cùng, ở với” có nghĩa là gì?

Ai là bạn hữu đích thực của chúng ta? Họ là những người giúp đỡ, an ủi chúng ta trong những lúc ốm yếu, đau khổ, buồn phiền và cô đơn. Họ là những người ở lại với chúng ta, ở nhà chúng ta mà không nói, không làm gì hết. Chính sự hiện diện có vẻ như vô dụng, khiêm tốn, giản dị này trong những lúc như thế làm cho chúng ta được an ủi và bình an. Họ là những người muốn nói với chúng ta “Tôi không biết nói gì hay làm gì nhưng tôi muốn ở với bạn, tôi sẽ không rời bỏ bạn”. Sự hiện diện không có nghĩa là tôi phải trở nên hữu dụng. Nói “Tôi không thể làm bất cứ cái gì cho bạn nữa; tôi không biết nói cái gì, làm gì đây?” là mất mục đích. Bất cứ ai ở với chúng ta mặc dù chúng ta lầm lỗi, bất cứ ai đau khổ với chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn mà không kết án chúng ta, không dạy luân lý, đạo đức, tất cả những người như thế là bạn hữu của chúng ta.

Chính từ quan điểm này mà chúng ta phải nhìn vào Kinh Thánh để xem tại sao ta nói Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa ở với chúng ta. Ngài là một Thiên Chúa muốn ở với chúng ta trong những lúc chúng ta đau khổ, khốn cùng, cô đơn và lo lắng, những hoàn cảnh mà chúng ta dường như không thể làm gì, nhưng thật sự Ngài ở đó. Ngài muốn an ủi và khích lệ chúng ta với sự hiện diện đầy khiêm tốn. Chúng ta phải hiểu Thiên Chúa của Kinh Thánh từ một viễn tượng như thế, nếu không, chúng ta sẽ không bao giờ biết Ngài thực sự là ai. Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa muốn biết cách đầy đủ nhất về thân phận con người chúng ta. Ngài muốn chịu mọi nỗi khốn khổ và đau đớn với chúng ta. Ngài không muốn cất đi những khổ đau này, trước khi Ngải đã nếm trọn chúng. Thiên Chúa của chúng ta không chỉ là một Thiên Chúa đầy quyền năng mà còn là một Thiên Chúa giầu lòng thương xót. Đó là mầu nhiệm đích thật của Mặc Khải. Và nếu bạn hữu đích thật phải là người sẵn sàng trao ban sự sống của mình cho người bạn mình thì quả thật Thiên Chúa là người bạn đích thật, giầu lòng thương xót nhất.

Cha Anthony de Mello kể câu truyện về một người lính thấy bạn mình không trở về sau một cuộc giao tranh thì xin với vị sĩ quan chỉ huy cho phép anh đi tìm người bạn đó. Vị sĩ quan chỉ huy không cho phép và nói: “Tôi không muốn anh liều mang sống mình cho một người có lẽ đã chết”. Người lính này đã trốn đi tìm người bạn. Một giờ sau anh ta trở về mang theo xác của người bạn nhưng anh ta đã bị thương rất nặng. Vị sĩ quan giận dữ quát: “Tôi đã nói với anh rằng bạn anh đã chết. Giờ đây tôi lại mất cả anh nữa. Hãy nói với tôi việc mang một xác chết về để anh bị thương sắp chết có đáng giá không?” Người lính trong cơn hấp hối nói: “Ô đáng giá lắm chứ, thưa ông! Vì khi tôi đến bạn tôi vẫn còn sống và anh ta đã nói với tôi: “Jack, tôi đã tin chắc bạn sẽ đến tìm tôi” (x. The Prayer of the Frog, Vol 1).

3. THIÊN CHÚA GIẦU LÒNG THƯƠNG XÓT ĐƯỢC MẶC KHẢI NƠI ĐỨC GIÊSU KITÔ

Mầu nhiệm Thiên Chúa giầu lòng thương xót được mặc khải nơi con người Đức Giêsu Nagiareth. Ngài đã mặc khải cho chúng ta mẩu nhiệm lòng thương xót của Thiên Chúa. Nơi Đức Giêsu, mầu nhiệm lòng thương xót trở nên hữu hình. Đức Giêsu không chỉ nói với chúng ta phải có lòng thương xót như Chúa Cha trên trời, mà còn phải làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa xuất hiện trong thế giới này một cách thế cụ thể nữa.

Mọi hành động và công việc của Chúa Giêsu đều được thực hiện vì lòng thương xót. Từ “lòng thương xót hay nhân hậu” trong tiếng Hy Lạp là “splangchna” được dùng để mô tả tâm tình thương xót của Chúa Giêsu, liên quan tới lòng dạ của thân xác, tới ruột gan, tới vị trí mà cảm xúc thâm sâu nhất và mãnh liệt nhất cư ngụ. Trong tiếng Hipri, từ này là “rachamin”, có nghĩa là một chuyển động của cung lòng Thiên Chúa, trung tâm hiện hữu của Ngài.Trong Thánh Vịnh 51, chúng ta kêu cầu lòng thương xót Chúa vì trong lòng thương xót Chúa, chúng ta bảo đảm được tha thứ: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xóa tội con đã phạm” (51,3).

Ở đây, từ lòng thương xót hay nhân từ hay nhân hậu có thể được thay thế bằng động từ YÊU. Từ YÊU, tiếng Hipri “ra-hamin” có nghĩa là “trái tim, cung lòng”. Đó là một từ đậm chất nữ tính hay người mẹ, chỉ rõ khả năng chịu đau khổ với, nhập vào hoàn cảnh cách sâu xa, tràn ngập sự đồng cảm. Từ này thực sự có nghĩa là có thể chia sẻ đau khổ và nỗi khốn cùng của người khác, cũng như chia sẻ niềm vui và hạnh phúc của người khác. Chỉ những ai biết tình yêu vô điều kiện là gì, với tất cả đặc tính con người của họ, trong sự từ bỏ mình và với tình yêu nồng nàn, mới có thể hiểu được từ này.

Lòng thương xót của Thiên Chúa được mặc khải trong đời sống và cái chết của Chúa Giêsu.

3.1 Lòng thương xót được mặc khải trong đời sống của Chúa Giêsu

Tất cả các phép lạ Chúa Giêsu đã làm đều phát xuất từ lòng thương xót của Ngài. Chúng ta thấy từ “lòng thương xót” được lặp đi lặp lại 12 lần trong Tân Ước. Sau đây là một số câu đáng lưu ý nhất:

Mt 18,23-35: Dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót: “Tôn chủ của tên đầy tớ ấy chạnh lòng thương cho y về và tha luôn món nợ”(câu 27).

Lc 15,11-32: Dụ con về đứa con hoang đàng: “ Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để ”(câu 20).

Lc 10, 30-35: Dụ ngôn người Samari tốt lành: “ Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương ” (câu 33).

Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, người cha chạnh lòng thương khi thấy con mình đang trở về nhà. Sự chạnh lòng thương này trở nên hữu hình nơi Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu nhìn thấy nỗi đau khổ và khốn cùng của dân chúng, Ngài chạnh lòng thương, Ngài cảm nghiệm nỗi đau đó trong trái tim của Ngài.

Mt 14,4: “Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương

Mc 1,40: Khi nhìn thấy người bị phong cùi, “Ngài chạnh lòng thương

Lc 7,13: “Trông thấy bà, Chúa động lòng thương…”

Bất cứ khi nào Chúa Giêsu thấy dân chúng đau khổ, Ngài đã động lòng thương. Ngài cảm thấy chiều sâu nỗi đau của họ. Ngài cảm thấy đau khổ sâu xa hơn chính họ. Ngài đau yếu hơn, đói khát hơn, buồn sầu hơn họ. Chính ở đây mà chiều sâu thực sự của tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải. Mầu nhiệm đích thật của Thiên Chúa chúng ta không phải là Ngài cất đi nỗi đau và khốn cùng của chúng ta, nhưng trước hết, Ngài muốn chia sẻ những nỗi đau với chúng ta. Chỉ khi nào Ngài đã cảm nếm chúng, kinh nghiệm chúng thì chúng mới được thay đổi; rồi cuộc sống mới sẽ đến. Thiên Chúa của Chúa Giêsu, trước tiên, không phải chỉ là một Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng còn là một Thiên Chúa giầu lòng thương xót. Cái mới thực sự trong sứ điệp của Chúa Giêsu là Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa cách, không động lòng thương khi chúng ta đau khổ, nhưng là một Thiên Chúa ở với chúng ta, Đấng động lòng thương trước sự khốn cùng của chúng ta, Đấng tham dự vào thân phận con người tội lỗi của chúng ta, một Thiên Chúa là THIÊN CHÚA CỦA CHÚNG TA. Tình yêu giầu lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu được định tính bằng chiều đi xuống. Toàn bộ đời sống và sứ vụ của Chúa Giêsu mặc khải rằng, Ngài, bằng sự chấp nhận tự hủy cách tuyệt đối, bày tỏ sự không giới hạn của tình yêu giầu lòng thương xót của Thiên Chúa cho tạo vật của mình: “Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên Thập Giá” (Pl 2,6-8).

Lòng thương xót được mặc khải nơi Đức Giêsu không phải là sự cúi xuống tầng lớp dưới từ một tầng lớp có đặc quyền. Đó không phải là việc đi ra khỏi giai cấp cao đến với những người cùng khổ và bên dưới, không phải là một cử chỉ của đồng cảm hay thương xót đối với những người thất bại. Ngược lại, lòng thương xót của Thiên Chúa có nghĩa Ngài đến trực tiếp với những người đó và cư ngụ nơi nỗi đau hữu hình và cụ thể, cắm lều ở đó và không quay trở lại trước khi đã có kinh nghiệm về tất cả những nỗi khốn cùng, lo âu, cô đơn, đau đớn và đau khổ của con người. Thiên Chúa có thể được tìm thấy nơi những người bị loại trừ, người bên lề. Đây là mầu nhiệm đích thật của Thiên Chúa, Đấng mà Chúa Giêsu đã mặc khải. Tình yêu vô điều kiện mà Thiên Chúa dành cho chúng ta trở nên một tình yêu giầu lòng thương xót trong một thế giới tràn ngập tội lỗi. Đó là một tình yêu cứu độ thế giới, trước hết, bằng đau khổ do hệ quả của việc chống lại Thiên Chúa và, sau đó, biến đổi cái cũ trở nên cái mới. Cái chết của Chúa Giêsu là bằng chứng tối hậu cho tình yêu giầu lòng thương xót của Thiên Chúa.

Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Giêsu tự đồng hóa với chúng ta, mặc dù Ngài không có tội lỗi nào. Chính Ngài mang lấy thân phận của chúng ta, tình trạng hiện hữu dễ vỡ của chúng ta. Ngài đi vào thế giới của con người không có đất nền để đứng vững, bị cắt đứt khỏi Thiên Chúa và người khác. Ngài muốn dấn mình vào tình trạng của chúng ta để nên một với chúng ta – EMMANUEL. Cuộc sống của Ngài được định hướng bởi hai nguyên tắc:

 3.1.1. “Lương thực của Thầy là làm theo ý của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34)

Từ Chúa Cha, Ngài đã rút ra cách sống của mình; Chúa Cha là đá tảng, trên đó Ngài đứng; Ngài dâng hiến toàn bộ cuộc sống của Ngài cho Thiên Chúa.

 3.1.2. Ngài tự hiến toàn thể sứ vụ của mình cho chúng ta.

“Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu mình” (Ga 15,13). “Ngài luôn yêu thương những kẻ thuộc về mình và Ngài đã yêu thương họ đến cùng”… và Ngài tỏ lộ tình yêu tới cùng đó qua cuộc khổ nạn và tử nạn của Ngài (x.Ga 13,1tt).

 Sứ vụ của Ngài là lôi kéo mọi người vào tương quan thân tình với Thiên Chúa mà chính Ngài đã kinh nghiệm và diễn tả qua từ LẠY CHA – ABBA.

3.2. Lòng thương xót của Thiên Chúa được mặc khải nơi cái chết của Chúa Giêsu

 Chúa Giêsu đã rao giảng sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa hết sức nhiệt thành và hy vọng dân Israel sẽ đáp trả cách quảng đại sứ điệp của mình. Nhưng chẳng mấy chốc Chúa Giêsu nhận thấy rằng dân Israel đã không nghe sứ điệp của mình. Vậy Ngài đã làm gì? Ngài thấy rằng chỉ có một cách hoàn thành sứ vụ của mình là chứng tỏ tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với chúng ta, đó là yêu đến cùng (x. Ga 13,1:). Thập giá là cách thế duy nhất chứng tỏ tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử ngập tràn tội lỗi của nhân loại. Các nhà chú giải nói về một “cuộc khủng hoảng Galilê” đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Đức Giêsu. Từ Galilê, sự chú ý của Ngài hướng về cuộc khổ nạn và tử nạn của Ngài ở Giêrusalem.

 Một khi nhận thức rằng ý của Chúa Cha là hướng Ngài đến Thập Giá để chứng minh tình yêu tới cùng của Thiên Chúa cho nhân loại, thì cũng như mọi người đều sợ hãi trước cái chết, Chúa Giêsu cũng sợ hãi khi điều đó đến gần:

- “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12,50).

- “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà Con đã đến” (Ga 12,27).

- “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (Dt 5,7).

- “Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mc 15,34).

Những trang Tân ước này nói gì với chúng ta? Phải chăng Chúa Giêsu sợ cái chết thể lý? Ở đây, chúng ta có thể cảm thấy trương lực giữa đời sống thân mật với Chúa Cha và đời sống vì loài người của Ngài, nghĩa là, sự trung thành của Ngài với sứ vụ của Ngài. Sứ vụ đòi hỏi hai nhiệm vụ: đồng hóa và đại diện.

Thứ nhất, Đồng hóa: Dường như Chúa Giêsu cảm thấy rằng Ngài càng đồng hóa với chúng ta thì Ngài càng có kinh nghiệm về tội lỗi của chúng ta, về đau khổ của chúng ta, sự bất an của chúng ta, sự bất an của những kẻ từ chối quà tặng tình yêu của Thiên Chúa như là sự an toàn duy nhất của một tạo vật cho đến cùng. Ngài nhận thức rằng nếu Ngài thi hành sứ mạng của mình, Ngài sẽ có kinh nghiệm đầy đủ của một tạo vật bị cắt khỏi Chúa Cha, Đấng là tất cả, là sự sống cho tạo vật đó. Ý tưởng này làm cho Ngài sợ hãi. Chúa Cha có thể coi Ngài như “ loài người bị Chúa bỏ rơi”.

 Thứ hai, Đại diện: Chúa Giêsu có kinh nghiệm “Đồng Hóa” hoàn toàn với chúng ta trong tội lỗi và tương quan với chúng ta như là “Vị Đại Diện” của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Tiếng kêu trên Thập Giá là lúc mà Chúa Giêsu đồng hóa Ngài với thân phận bị Thiên Chúa bỏ rơi của chúng ta nhất: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mc 15,34). Vào lúc này, dường như tình yêu của Chúa Cha, tình yêu ban sự sống dừng lại. Lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho tạo vật của Ngài đã đạt tới tận cùng. Thánh Phaolô đã diễn tả điều này bằng nhiều cách khác nhau:

- Thiên Chúa “sai chính Con mình mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình”(Rm 8,3).

- “Đức Kitô đã chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ” (Gl 3,13).

- “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21).

3.3. Thập giá không mặc khải một Thiên Chúa trả thù, nhưng mặc khải hai thực tại căn bản:

3.3.1.Sự bao la và sự không thể hiểu nổi về tình yêu giầu lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho tạo vật của Ngài.

Tình yêu giầu lòng thương xót có nghĩa là Thiên Chúa đã không cứu độ thế giới bằng việc cúi xuống từ trên cao nhưng qua việc đi vào sự khốn khổ của loài người chúng ta và yêu nó bằng sự trải nghiệm nó tới những giới hạn cuối cùng. Khi trải nghiệm hậu quả của tội lỗi như một sự kết án, chính Thiên Chúa đã mang lấy, trong Đức Giêsu Kitô, thân phận của loài người đã từ chối chính nền tảng sự hiện hữu của mình - “Ngài đã xuống địa ngục!”

3.3.2.Sự vô vọng hoàn toàn của nhân loại chúng ta, là những kẻ tội lỗi, đã chối bỏ tình yêu của Thiên Chúa.

Thập giá nói với chúng ta tội lỗi thực sự là gì. Cái chết của Chúa Giêsu, theo Thánh Marcô 15, 38-39: “Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Chúa Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: Quả thật, người này là Con Thiên Chúa ”, đặt ra một số câu hỏi đáng cho chúng ta suy nghĩ: Thiên Chúa có thể được tìm thấy ở đâu? Trong nơi Cực Thánh của Đền Thờ? Thánh Marcô viết rằng vào lúc Chúa Giêsu chịu chết, bức màn khổng lồ treo nơi Cực Thánh bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Thánh nhân muốn nói với chúng ta điều gì? Người Do Thái tin rằng bàn chân của Thiên Chúa chạm vào trái đất ở nơi Cực Thánh đó. Ở đó, người ta chắc chắn sẽ tìm thấy Thiên Chúa. Một mình Thầy Cả Thượng Phẩm mới được đi vào nơi Cực Thánh này một năm một lần và chỉ được vào đó sau khi đã ăn chay và cầu nguyện vì vị đó sẽ đứng trước Thiên Chúa. Với cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa không còn được tìm thấy nơi Cực Thánh nữa. Nơi đó hoàn toàn trống rỗng. Thiên Chúa đã mặc khải cách tối hậu rằng Ngài thực sự ở nơi cái chết của Con Ngài trên Thánh Giá. Đây là mặc khải cô đọng nhất và cao điểm nhất của Thiên Chúa. Đối với người Do Thái đó là một cớ vấp phạm và với người ngoại, đó là một sự điên rồ (x. 1Cr 3,18). Có ai nghĩ rằng một Thiên Chúa mặc khải mình theo cách này - trong vị thế không còn bất cứ quyền lực nào – để bày tỏ tình yêu giầu lòng thương xót cho tạo vật của Ngài không? Thiên Chúa không lựa chọn phương thế nào khác để cứu tạo vật của Ngài ngoài tình yêu và để cứu chúng ta, Ngài chứng minh tình yêu của Ngài tới mức chịu đau khổ và bị bỏ rơi để cứu độ chúng ta. Trong tiếng kêu trước cái chết trên Thập Giá của Đức Giêsu Nagiareth, Thiên Chúa đã mặc khải bản tính đích thật của Ngài, “tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta vượt quá sức hiểu biết” (x. Ep 3,14-19). Ai nhận thấy Đức Giêsu trên Thập Giá là Con Thiên Chúa? Các thần học gia? Không, viên đại đội trưởng ngoại giáo (x. Mc 15,39).

  • “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18)
  • “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một… Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để để cứu thế gian” (x.Ga 3,16-17).

Thập Giá còn là nơi mặc khải tình yêu vô điều kiện, tình yêu giầu lòng thương xót của Thiên Chúa. Giờ đây có thể chỉ ra một biến cố hữu hình, mang tính lịch sử, ở ngay trong không gian và thời gian, đó là cây Thập Giá và nói: “Đây là thông tin tối hậu của Thiên Chúa cho chúng ta. Thiên Chúa không bao giờ có thể rút lại”.

4. BƯỚC THEO CHÚA GIẦU LÒNG THƯƠNG XÓT

Cách thế để chúng ta sống yêu thương, sẽ mãi mãi nằm trong câu “Như Thầy đã yêu anh em”. Loại tình yêu này không có nơi loài người. Đó là một thứ chúng ta chỉ có thể đón nhận như một quà tặng từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, quà tặng này luôn có sẵn nếu chúng ta mở lòng ra với Nước Thiên Chúa và để sức mạnh của nó đi vào đời sống chúng ta: HÃY NHÂN TỪ (THƯƠNG XÓT) NHƯ CHA ANH EM LÀ ĐẤNG NHÂN TỪ”.

Điều này sẽ mãi mãi là nguyên tắc cho mọi mối tương quan của chúng ta, nếu chúng ta quyết định sống tình bằng hữu với Chúa Giêsu, trở nên môn đệ của Ngài. Bằng cách đặt bàn chân của chúng ta vào dấu chân của Ngài và luôn nhìn vào Ngài, vào cách thế Ngài đã mặc khải lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời nói và hành động của Ngài, dần dần, chúng ta có thể cảm nghiệm lòng thương xót đích thật, và yêu với lòng thương xót như Ngài đã yêu. Chúng ta sẽ trở nên người biết thương xót, và như thế, chúng ta sẽ bắt đầu hành động như Thiên Chúa hành động. Chúng ta sẽ trở nên giống như Ngài.

CÂU HỎI ĐỂ SUY NGHĨ

1. Tôi có nhận thức rằng việc Thiên Chúa không sử dụng quyền lực trong thế giới là thích hợp với tình yêu thương xót, là thứ tình yêu không thể dùng quyền lực nhưng chỉ chịu đau khổ với chúng ta trước khi cứu chúng ta không?

2. Cái gì hướng dẫn mối tương quan của chúng ta với người khác: thương xót hay lề luật? Cái nào đúng đắn nhất?

3. Tôi có cố gắng trải nghiệm, chia sẻ niềm vui, thành công, đau khổ, thất bại của người khác hay thường nhìn người khác để so sánh, đấu tranh?

4. Vào lúc được kêu gọi từ bỏ chính mình, để sống cho và sống với người khác như Chúa Giêsu đã sống, tôi cảm thấy thế nào?

 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm