Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 20:51 - Lượt xem 3616

Phụ lục

I. Trích các văn kiện của Hội Thánh về Đào tạo Truyền thông và Huấn Luyện Truyền Thông cho linh mục I.1 Sắc lệnh Inter Mirifica của Công Đồng Vaticanô II về Truyền Thông Xã Hội (1963) I.2 Huấn Thị Mục Vụ Communio et Progressio của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội (1971) I.3 Huấn Thị Mục Vụ Aetatis Novae của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội (1992)

PHỤ LỤC I 
Trích các văn kiện Hội Thánh về Đào Tạo Truyền Thông
và Huấn Luyện Truyền Thông cho linh mục
Phụ lục I. 1
Sắc lệnh Inter Mirifica của Công Đồng Vaticanô II về các Phương tiện Truyền Thông Xã Hội (1963), số 13.
 
(13) Mọi con cái Hội Thánh phải đồng tâm hiệp lực, chẳng những không ngần ngại mà phải hết sức hăng say, sử dụng ngay những phương tiện truyền thông xã hội cách đắc lực vào các công việc tông đồ khác nhau tùy theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh và thời gian; họ cũng phải ngăn ngừa những tổ chức tai hại, nhất là ở những miền mà sự phát triển luân lý và tôn giáo cần phải được họ can thiệp khẩn cấp hơn.
Vậy các Chủ Chăn phải nhiệt thành chu toàn phận vụ mình trong lãnh vực này, vì nó liên hệ chặt chẽ với những nhiệm vụ của các Ngài là giảng dạy; những giáo dân tham gia vào việc sử dụng những phương tiện này cũng phải cố gắng làm chứng về Chúa Kitô: trước hết bằng cách hoàn tất mọi công tác cho thành thạo với tinh thần tông đồ, rồi tùy khả năng kỹ thuật, kinh tế, văn hóa và nghệ thuật mà trực tiếp trợ giúp hoạt động phụng vụ của Hội Thánh.
 
Huấn Thị Mục Vụ Communio et Progressio
của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội (1971), số. 106, 108 & 111.
 
(106) Là những người đại diện Hội Thánh, các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân càng ngày càng được mời gọi tham gia viết báo, xuất hiện trên truyền thanh hay truyền hình hay cộng tác trong phim ảnh. Họ được khẩn thiết mời gọi đảm đương công việc này, những việc có kết quả quan trọng hơn người ta thường nghĩ. Nhưng sự phức tạp của truyền thông đa phương tiện đòi hỏi kiến thức vững chắc về cách sử dụng và ảnh hưởng của nó. Vì vậy nhiệm vụ của các trung tâm quốc gia và những tổ chức chuyên môn là phải đảm bảo sao cho những người sử dụng đa phương tiện nhận được sự huấn luyện thích hợp và đúng lúc.
 
(108) Toàn bộ vấn đề truyền thông xã hội đáng được các nhà thần học chú ý, đặc biệt trong lãnh vực thần học luân lý và mục vụ. Giáo dục tôn giáo đòi hỏi phải bao gồm những chỉ dẫn về đa phương tiện truyền thông hiện đại và các hệ quả của nó. Điều này chỉ có thể đạt được khi các thần học gia học hỏi về những đề nghị ở Phần Thứ Nhất của Huấn thị và phong phú hóa nó bằng sự tìm tòi nghiên cứu của mình.
 
(111) Nếu các chủng sinh và những người được huấn luyện để thành tu sĩ muốn trở thành một phần của cuộc sống hiện đại và có hiệu quả trong công việc tông đồ, họ phải hiểu cách thức đa phương tiện truyền thông tác động đến cấu trúc xã hội như thế nào và biết kỹ thuật sử dụng chúng. Kiến thức này là một phần không thể thiếu trong việc giáo dục thường ngày của họ. Thực vậy thiếu kiến thức này không thể làm việc tông đồ một cách hiệu quả trong một xã hội càng ngày càng được định hình bởi phương tiện truyền thông. Linh mục và tu sĩ cũng nên hiểu được ý kiến công chúng hình thành như thế nào, để họ có thể trở nên phù hợp với tình huống và với người họ gặp trong thời đại của mình. Họ có thể thấy rằng đa phương tiện là một trợ giúp lớn cho việc loan báo lời Chúa cho người thời đại mới. Những sinh viên có năng khiếu đặc biệt về truyền thông cần được huấn luyện nâng cao.
 
Huấn thị Mục vụ Aetatis Novae
của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền thông Xã hội (1992), số 18.
 
(18) Giáo dục và đào tạo truyền thông phải là một phần không thể thiếu của việc đào tạo linh mục và người làm công tác mục vụ. Cần có một số yếu tố và quan điểm về giáo dục và đào tạo. Thí dụ, trong thế giới ngày nay, bị ảnh hưởng truyền thông mạnh mẽ, người của Hội Thánh ít nhất hiểu được tác động mà kỹ thuật tin học và đa phương tiện truyền thông ảnh hưởng lên cá nhân và xã hội. Tương tự họ phải sẵn sàng để phục vụ những người “giàu tin học” và cả những nguời “nghèo tin học”. Họ biết cách mời gọi người khác đối thoại, tránh kiểu đối thoại mang tính cách thống trị, thao túng hay mưu lợi cá nhân. Còn đối với những người tích cực tham gia vào công việc truyền thông cho Hội Thánh, họ cần có kỹ năng chuyên môn về đa phương tiện cùng với sự đào tạo về thần học và giáo lý.
Phụ lục I. 2 
Hướng dẫn Đào Tạo Linh Mục Tương Lai về Truyền Thông Xã Hội
(Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, 1986)
Giới thiệu
Dựa trên nền tảng các văn kiện Công Đồng Vaticanô II về đào tạo linh mục (“Optatam totius”) và thừa tác vụ linh mục (“Presbyterorum Ordinis”), Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo đã ấn hành năm 1971 tài liệu “Ratio Fundamentalis” (“Chỉ Nam Đào Luyện”) như là kế hoạch cơ bản cho việc đào tạo linh mục và thi hành các tài liệu công đồng. ‘Kế hoạch cơ bản’ này từ đó được coi như nguyên tắc hướng dẫn cho mọi chương trình đào tạo chủng sinh và các nhà đào luyện. Theo sau ‘kế hoạch cơ bản này’ Thánh Bộ cũng đã ấn hành một số ‘hướng dẫn’ khác hay tài liệu tương tự để khai triển thêm và mô tả chi tiết một số lãnh vực đào tạo linh mục. Như vậy, ngoài văn kiện cơ bản “Ratio Fundamentalis”, Thánh Bộ cũng đã ấn hành các tài liệu hướng dẫn và các tài liệu tương tự về đào tạo thần học (1976), nghiên cứu thần học (1972), đào luyện linh đạo (1979), giảng dạy Giáo luật (1975), độc thân linh mục (1974), các khía cạnh đào luyện linh đạo (1980), nghiên cứu và giảng dạy các học thuyết của Hội Thánh (1988), hay nghiên cứu về Chức Linh Mục của Hội Thánh (1989). Hướng dẫn “Đào tạo các linh mục tương lai về Phương tiện Truyền thông Xã hội” (1986) phải được xem dưới ánh sáng của các ấn phẩm này.
Chỉ nam đào luyện linh mục “Ratio Fundamentalis” trong mục nói về “Việc học các môn Khoa học và Nghệ thuật” đoạn 68 bắt đầu bằng những lời sau đây: “Con người ngày nay nhận được thông tin và niềm xác tín không những từ sách vở và thầy dạy, nhưng nhiều hơn từ các phương tiện nghe nhìn. Vì vậy linh mục cần phải giỏi trong các lãnh vực này. Tuy nhiên họ phải có một thái độ đúng trong lãnh vực này; sẵn sàng sử dụng một cách có phê phán, không chỉ là khán thính giả thụ động.” Trong khi văn kiện “Ratio Fundamentalis” nói về “phương tiện nghe nhìn”, thì các hướng dẫn quan tâm trước tiên tới “đa phương tiện truyền thông ngày nay” hay còn gọi là “truyền thông đại chúng hay các kỹ thuật truyền bá hay truyền thông đại chúng, hay nghe-nhìn”. Về điểm này, có vẻ như văn kiện này không quan trọng bằng Sắc lệnh công đồng “Inter Mirifica” trong đó có ghi chú nói rằng các cụm từ này không diễn tả hữu hiệu điều mà ban trù bị sắc lệnh muốn truyền đạt. Vì thế “Inter Mirifica” đề nghị cụm từ mới “truyền thông xã hội”, nó rộng hơn “truyền thông đại chúng” và bao gồm mọi phương tiện truyền thông của và trong xã hội loài người. Quan điểm rộng về truyền thông này quan trọng đặc biệt cho việc đào tạo linh mục trong những nước thế giới thứ ba, nơi đó các phương tiện truyền thông khác trong nền văn hóa địa phương thường quan trọng hơn và được sử dụng nhiều hơn truyền thông đại chúng. Không may điều này không được hướng dẫn đầy đủ trong “Hướng dẫn” liên quan đến đa phương tiện truyền thông đại chúng. Cũng trong ‘hướng dẫn’ đó, có sự thừa nhận rằng nhu cầu mục vụ đôi khi đòi hỏi chúng ta cũng phải học và thực hành phương tiện truyền thông và các công cụ diễn đạt và truyền thông như kịch nghệ, nghệ thuật biểu trưng, v.v..., mặc dù những hình thức này quá giới hạn, như chúng ta đã nói ở trên” (số 7).
Khi giới thiệu tài liệu “Hướng dẫn” này, Hồng Y William Baum Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo đề cập đến sự kiện Thánh Bộ đã “tham vấn rộng rãi các chuyên gia trong lãnh vực này, và đặc biệt là với Ủy Ban Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội.” Ngài tin rằng các viện đào tạo linh mục “ngày nay phải khẩn trương chăm lo những vấn đề cơ bản liên quan tới hành vi tiếp nhận của cá nhân, quan tâm mục vụ đối với truyền thông đại chúng, và đào tạo đặc biệt cho một số lãnh vực.”
Trong văn kiện ‘Hướng Dẫn’ năm 1986, nhu cầu truyền thông đối với nhà giáo dục, giáo sư và chủng viện “như là trường học truyền thông” được mô tả xa hơn hướng truyền thông đại chúng trong quá khứ: “… nhà giáo dục phải là một nhà truyền thông giỏi, có thể trình bày rõ ràng những giá trị và những ý tưởng là mục tiêu đào tạo, làm cho nó trở nên thích hợp cho việc tiếp nhận của sinh viên. Chủng viện, trọng điểm giáo dục, phải trở nên một trường học truyền thông kích thích sức sống, chuẩn bị cho những linh mục tương lai nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng đầy khó khăn. ‘Huấn thị’ năm 1986 cũng nói về nhu cầu tạo ra một bầu khí truyền thông giữa sinh viên và nhà giáo dục để huấn luyện họ tham gia vào đối thoại nhóm và đối thoại liên cá nhân, để tâm đến sự chính xác ngôn ngữ, phát biểu rõ ràng, v.v... (39).
Trong một văn kiện khác về “Đời Sống Huynh Đệ trong Cộng Đoàn” (tháng 2, 1994) ‘Thánh Bộ Các Dòng Tu thánh hiến và Các Tu Hội tông đồ’ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “truyền thông để cùng nhau lớn lên”, điều này cũng phải được áp dụng trong các cộng đoàn chủng viện và phải được nhìn trong tương quan với bản ‘Hướng dẫn’ (các số 29-34; cf. Eilers: Communicating in Community 2nd ed., Manila 1994, tr. 228t).
“Hướng Dẫn” có hai phụ lục không được in lại ở đây. Đó là (1) liệt kê các trích dẫn từ 41 văn kiện chính thức của Hội Thánh từ năm 1935 tới 1985 về huấn luyện truyền thông đại chúng cho tu sĩ, bao gồm những đoạn liên quan trong Bộ Giáo Luật mới (666, 747, 761, 779, 804, 822, 823, 1063, 1369); (2) danh mục “các bộ môn” liệt kê các môn học được đề nghị học và dạy dưới các tiêu đề: (a) Truyền thông con người, (b) Phương tiện và dụng cụ truyền thông và Hội Thánh. (3) Tổng quan phương pháp tiếp cận mục vụ đối với truyền thông đa phương tiện và (4) Phương pháp mục vụ đối với truyền thông cá nhân.
“Hướng Dẫn” được gửi “cho các Hội Đồng Giám Mục, các giám mục địa phận, các bề trên và giáo sư đại chủng viện” (no. 6)

 


Bài viết mới

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm