Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 21:6 - Lượt xem 4041

Đào luyện Truyền thông lấy Thần học Truyền thông làm cơ sở Paul A. Soukup, sj*

Truyền thông đương đại và những thay đổi nó tạo ra trong xã hội đang ảnh hưởng tới việc đào luyện linh mục và thần học cũng như mọi lãnh vực khác. Để chứng minh rõ hơn tại sao các chủng viện và các phân khoa thần học phải chú ý tới truyền thông, bài này sẽ xét xem một khoa “thần học truyền thông” góp phần như thế nào vào sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa, Hội Thánh, và cuộc sống con người. “Thần học truyền thông” ở đây được hiểu là một thần học chú ý tới truyền thông và chất chứa truyền thông. Bài sẽ đi theo bốn bước: (1) duyệt lại tầm ảnh hưởng của truyền thông đối với Hội Thánh và xã hội; (2) lược qua một số hệ quả của truyền thông đối với thần học; (3) lược qua một số hiệu quả của truyền thông đối với thừa tác vụ linh mục; và (4) lược qua các hệ quả của một thần học truyền thông đối với cuộc sống con người.

 

1. Ảnh hưởng của Truyền thông
 
Hai mươi năm vừa qua đã chứng kiến sự phát triển mau lẹ của công nghệ truyền thông tại hầu hết mọi khu vực trên thế giới. Theo sau sự phát minh ra vi mạch điện tử, các thiết bị viễn thông đã trở nên rẻ hơn, nhỏ hơn và dễ sử dụng hơn. Được hỗ trợ bởi mạng lưới truyền thông phủ khắp thế giới, các công cụ truyền thông nối kết với nhau và liên kết những con người và địa phương qua mạng dữ liệu (Internet), mạng phát thanh và truyền hình. Nhưng cùng với sự phát triển hạ tầng này, mạng lưới và thiết bị cũng được thương mại hóa với các cấu trúc chương trình, quảng cáo và sự phát triển một nền văn hóa truyền thông đại chúng. Dựa vào các nghiên cứu về ảnh hưởng của những phương tiện truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể thấy được thế giới truyền thông đang lớn lên này ảnh hưởng như thế nào đến xã hội con người nói chung và thần học nói riêng, bằng cách lược qua 9 lãnh vực sau đây.1
 
1. Các nguồn nhận thức. Ngày nay con người tiếp cận đươc một lượng thông tin khổng lồ về thế giới: hằng giờ hay thường xuyên hơn, các bản thông tin, các tường thuật từ khắp mọi ngóc ngách trên thế giới, bình luận và thảo luận hết vấn đề này đến vấn đề khác. Trước đây, con người chỉ biết về những gì họ trải nghiệm được, những gì hàng xóm láng diềng nói cho họ biết, hay những gì họ nghe được ở những nơi như nhà thờ hay quán xá. Ngày nay chúng ta trải nghiệm một cách gián tiếp một thế giới rộng hơn rất nhiều – thế giới truyền thông. Phần đa kiến thức đến với chúng ta qua mạng lưới truyền thông hơn là do tiếp cận trực tiếp. Quá trình này diễn ra quá tự nhiên rõ ràng khiến chúng ta đôi khi quên rằng thông tin chúng ta nhận được đều thông qua các trung gian. Nó đã bị sàng lọc qua các phóng viên, các tổng biên tập, nhà sản xuất chương trình và hệ thống truyền thông. Dù sao, chúng ta cũng có được lượng thông tin về thế giới nhiều hơn những thế hệ trước.
 
2. Sử dụng thời gian. Tất cả chúng ta chỉ có một thời lượng giới hạn và vì thế chúng ta chia thời gian của mình giữa bổn phận và những điều mình quan tâm, giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã vẽ biểu đồ sử dụng thời gian dành cho thông tin đại chúng. Báo chí, tạp chí, phim ảnh, truyền thanh và truyền hình chiếm một lượng thời gian xếp vào hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc, đó là cách người ta thường sử dụng thời gian. Một người trưởng thành tiêu biểu ở phương Tây mất ba giờ xem truyền hình mỗi ngày. Đây là cách người ta sử dụng giờ nhàn rỗi: từ bỏ giao tiếp cộng đồng, không tham gia việc Hội Thánh, bỏ các cuộc vui chơi cùng gia đình và những hoạt động giao tiếp khác chỉ để giải trí với phương tiện thông tin đại chúng. Một cuộc nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng việc sử dụng Internet chiếm thời gian nhiều nhất trong các phương tiện thông tin đại chúng khác. Lần đầu tiên trong nhiều thập niên, xem truyền hình ở Mỹ đã tụt hạng và được thay thế bởi trò chơi vi tính, e-mail, và những hoạt động khác trên Internet.
 
3. Phán đoán về tầm quan trọng. Con người phụ thuộc vào phương tiện truyền thông để nhận định điều gì là quan trọng trên thế giới. Các bản tin nêu bật một số biến cố và làm cho nó trở thành đối tượng được quan tâm. Từ 40 năm trước, nhà xã hội học người Mỹ Bernard Cohen từng nhấn mạnh điều này khi ông viết rằng tin tức truyền thông “có thể không thành công khi muốn người ta nghĩ thế nào, nhưng nó đã thành công một cách đáng ngạc nhiên khi muốn họ nghĩ về cái gì.”2 Càng nghe nhiều về đề tài nào đó trên truyền thanh, xem thấy trên truyền hình hay đọc trên báo, chúng ta càng cho nó là quan trọng. Điều tương tự xảy ra đối với phim ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh, không phải vì có sự phán đoán hợp lý, nhưng chỉ vì những ngôi sao này xuất hiện trên phương tiện thông tin đại chúng. Một số tác giả, đáng chú ý là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng phương tiện truyền thông còn hoạt động theo một cách khác: chúng ta kết luận rằng những gì không xuất hiện trên phương tiện truyền thông thì không quan trọng, việc này dẫn đến một “sự hủy diệt có tính biểu tượng” các nhóm sắc tộc, phụ nữ và nghề nghiệp. Tương tự như thế, nếu Thiên Chúa và Hội Thánh không tìm được một chỗ đứng trong thế giới truyền thông, thì Thiên Chúa và Hội Thánh bắt đầu mất đi tầm quan trọng đối với các thành viên trong văn hóa truyền thông.
 
4. Kiến thức so với thực hành. Nhiều người tự nhiên nghĩ truyền thông là truyền đi một thông điệp, kiến thức, hay ý tưởng từ nơi này sang nơi khác. Nhà nghiên cứu người Mỹ, James Carey, nhắc nhở chúng ta rằng mô hình “chuyển tải” làm chúng ta nghĩ một cách thực nghiệm về truyền thông, nó không thể diễn tả sự trải nghiệm về khía cạnh nhân văn một cách đầy đủ. Ông mô tả sơ lược “mô hình nghi thức” truyền thông để vẽ ra bức tranh về thực hành truyền thông. Truyền thông mang tính nhân văn không chỉ là mang thông điệp hay những gói kiến thức từ nơi này sang nơi khác. Đối với con người, ngay cả việc sử dụng truyền thông cũng tạo ra nghi thức: đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình truyền hình ưa thích nào đó, nghe truyền thanh đang khi đi đến nơi làm việc – tất cả gắn liền chúng ta bằng nghi thức với một cộng đồng rộng lớn hơn. Ngoài việc xử lý kiến thức, truyền thông còn tích lũy sự hiệp thông, đây là một quá trình tạo nên những loại hiểu biết gián tiếp của riêng mình.
 
5. Cách diễn tả hiệu quả. Phương tiện thông tin đại chúng còn dạy cho người ta biết cái gì được coi là diễn tả có hiệu quả. Truyền hình đã cho chúng ta thấy rằng những phát biểu ngắn gọn, rõ ràng thường lôi kéo sự chú ý và tóm tắt được một lập trường. Ít người ngày nay thi hành đường lối của mình bằng những phát biểu dài dòng; chỉ những người có ưu thế in ấn làm điều này. Nói thế không có nghĩa là truyền thông đại chúng không thể diễn đạt được những vấn đề nghiêm túc và phức tạp. Nó làm được nhưng bằng những phương thức phù hợp với tính chất của nó như: kể truyện, dùng hình ảnh và những bài diễn thuyết gây cảm xúc. Bằng cách nêu lên vấn đề, phương tiện thông tin đại chúng trở nên một “diễn đàn văn hóa” trong đó người ta thảo luận và tranh luận những vấn đề thời sự.4 Một hình thức bổ sung khác kém hấp dẫn hơn, và vì thế có thể không được ưa thích, đó là trình bày vấn đề dưới hình thức văn bản và những bài diễn thuyết nặng về lý luận.
 
6. Chuyển dịch chỗ. Phương tiện truyền thông còn ảnh hưởng sâu rộng tới xã hội, chứ không chỉ đơn thuần tạo ra kiến thức hay diễn đạt ý tưởng. Joshua Meyrowitz5 cho thấy những phương tiện như truyền hình, phim ảnh, truyền thanh thay đổi “ý thức về nơi chốn” theo hai cách. Trước hết chúng ta trải nghiệm nơi chốn ảo, tức là khả năng hiện diện ở hai nơi cùng một lúc: ngồi thoải mái tại nhà, chúng ta đồng thời xem thấy những điều đang xảy ra trên thế giới. Nhưng khả năng nhìn vượt ra ngoài chỗ mình đang ở cũng làm cho người ta muốn xem, muốn tiếp cận những điều mà trước đây họ không thể. Những thế hệ trước người ta chỉ có thể trải nghiệm được những gì địa vị xã hội cho phép. Người dân thường không thể tương tác được với ông thống đốc hay những viên chức cao cấp của Hội Thánh. Nhưng thói quen nhìn bất kỳ chỗ nào (thế giới, hậu trường, và đời tư của người khác được phim ảnh hay truyền hình kịch hóa) làm cho người ta muốn nhìn thấy mọi chỗ. Và như thế con người mất ý thức về nơi chốn riêng tư cần phải tôn trọng, và mất ý thức tôn trọng người có quyền bính. Ngày nay con người thậm chí còn muốn biết cả những chi tiết thầm kín nhất trong đời sống riêng tư của các chính trị gia, diễn viên và ngay cả tu sĩ.
 
7. Kiểm soát. Sự xuất hiện phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiên kỹ thuật số ngày nay đã thay đổi sự kiểm soát tin tức. Trong quá khứ, nhà nước và các tổ chức như Hội Thánh nắm quyền kiểm soát thông tin ở một mức độ nào đó, quyết định nhà in nào có thể xuất bản hay người công dân có thể công bố những gì. Tuy nhiên cơ cấu tổ chức của các hãng thông tấn và công nghệ giải trí đã giành quyền kiểm soát khỏi tay nhà nước và tuyên bố có quyền phát hành (hay không phát hành) thông tin. Tìm được tự do trong luật pháp, họ cũng khẳng định tác quyền để bảo vệ việc đầu tư thông tin của họ. Tuy nhiên ngay cả những điều này cũng đã bị kỹ thuật số phá hỏng, như mới đây các vụ kiện liên quan tới Napster và các chương trình chia sẻ âm nhạc cho thấy. Hội Thánh cũng mất hầu hết sự kiểm soát đối với giới xuất bản: chỉ có một số ít xin ý kiến xuất bản từ Hội Thánh; mạng Internet làm cho bất kỳ ai cũng có thể đưa tài liệu tôn giáo công khai trên mạng.
 
8. Khán giả trở nên tinh tế hơn.  Năm mươi năm của truyền hình và hơn một trăm năm của điện ảnh đã giúp cho khán giả trở nên hết sức tinh tế. Người ta không còn ngây thơ tin vào những gì mình xem. Thay vào đó họ chọn lựa chương trình theo nhu cầu và phán đoán theo quan điểm xã hội, kinh tế, giáo dục và giới tính. Nhiều khán giả đến với sản phẩm truyền thông với một tâm trạng ngờ vực nào đó – nghi ngờ về động cơ của nhà sản xuất hay nhà quảng cáo, sự điều phối của nhà nước, về một ai đó muốn họ định hình một quan điểm. Ngày nay ít người làm chương trình và nhà sản xuất quyết định được thông điệp họ muốn truyền đạt như trước đây. Thay vào đó họ cùng với khán giả tranh luận để cùng đi đến kết luận. Điều này không có nghĩa là khán giả không thể bị nhào nặn hay hướng dẫn, nhưng họ đi một cách từ từ theo hướng của nhà làm chương trình. Khán giả có những kỹ năng này nên Hội Thánh cũng nên chuẩn bị đón nhận sự ngờ vực và nhận xét tinh tế đối với hoạt động truyền thông của mình.
 
9. Chuyển dịch về nhận thức. Không chỉ truyền đạt thông điệp hay mô tả sự việc, những phương tiện truyền thông khác nhau cũng ảnh hưởng đến cách người ta suy nghĩ. Các nghiên cứu về văn hóa nói và văn hóa viết cho thấy chữ viết đã định hình kiến thức và tổ chức thế giới như thế nào.6 Văn hóa nói sử dụng trí nhớ để giữ gìn các giá trị và tạo dựng kiến thức theo lối kể truyện, sử dụng những nhân vật có ý nghĩa để liên kết các câu truyện lại với nhau. Họ cô đọng những gì họ biết được thành những mẫu chuyện dễ nhớ và có vần. Họ bám vào những biến cố và con người cụ thể, và họ sử dụng cách diễn tả ở thì hiện tại. Lịch sử trong nền văn hóa truyền khẩu là hiện tại đối với những thành viên của xã hội đó, đây là cách các thành viên trong xã hội đó nắm giữ quá khứ theo trí nhớ. Văn hóa truyền khẩu dựa vào phương pháp trí nhớ và thực hành trong nhóm để đảm bảo được sự chính xác khi truyền đạt.
Văn hóa chữ viết hiểu biết thế giới theo một cách thức khác. Nó có tính phân tích hơn khi nó tách tri thức ra khỏi trí nhớ bằng cách viết ra. Với khoảng cách mà văn bản cung cấp, người biết đọc có thể xem xét một cách phê phán những gì họ biết. Họ có thể mở rộng kiến thức bằng cách chia sẻ tài liệu viết trong khi tích lũy kiến thức. Người ta không còn cần phải hiện diện để cùng chia sẻ kiến thức trong một nhóm. Văn hóa viết cũng tổ chức sự vật theo một cách khác nữa. Cách tổ chức không còn cần phải theo vần hay nhóm sự vật cụ thể. Thay vào đó nó trở nên trừu tượng hơn, thí dụ như sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Thêm nhiều người biết đọc và viết hơn nhờ có sách vở với sự ra đời của máy in. Văn hóa sách mở rộng ảnh hưởng in ấn. Việc học hành chuyển dịch từ học nghề hay thuộc lòng những truyền thuyết văn hóa sang đọc sách. Học trở nên riêng tư hơn và những thói quen tư tưởng mới lan rộng, như trong Kỷ Nguyên Khai Sáng ở Tây Âu.
Sự chuyển dịch này cũng ảnh hưởng tới thần học. Trong Kỷ Nguyên Kitô Giáo, thần đã dịch chuyển trước tiên từ di sản Kinh Thánh theo lối kể chuyện truyền khẩu sang tập hợp những niềm tin được các nhà thần học thời trung cổ tranh luận. Rồi với sự lan truyền của chữ viết, nó chuyển một lần nữa thành môn học được viết ra với phân tích và lý luận.7 Cũng như các nền văn hóa đương thời ưa chuộng phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta chứng kiến một lần nữa sự chuyển dịch trong suy nghĩ và tổ chức kiến thức, với sự trở về một vài mô hình truyền khẩu (kể chuyện), nhưng những mô hình này dựa vào văn bản viết. Mạng Internet là một sự cố gắng của nền văn hóa đương đại nhằm tổ chức kiến thức bằng các đường liên kết siêu văn bản và các công cụ khác.
 
Những điều này ảnh hưởng tới thần học như thế nào? Thứ nhất, vì là một môn học dựa vào chữ viết, thần học mất đi khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới một bộ phận lớn những nền văn hoá ngày nay muốn xem các hình ảnh và tường thuật như là những cách để lưu trữ kiến thức và tìm hiểu thế giới. Càng lúc nó càng trở thành một lãnh vực riêng của các chuyên gia. Thứ hai, nó không còn là nguồn kiến thức đối với những người không coi nó là quan trọng – thần học lý thuyết không xuất hiện trong thế giới truyền thông mà rất nhiều người đang sống. Thứ ba, vì nhấn mạnh kiến thức hơn thực hành và vì đòi hỏi độc giả phải theo, thần học lý thuyết đã tự làm cho mình trở nên cách ly với thế giới hiện đại.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa là con người đã mất đi sự quan tâm tới thần học. Họ vẫn còn tìm kiếm giải đáp cho những câu hỏi thần học cơ bản, nhưng tìm kiếm nó trong thế giới truyền thông đa phương tiện của họ. Thậm chí cách đây chỉ mười năm, có bao nhiêu nhà thần học (hay những viên chức Hội Thánh) đã đoán được sự quan tâm mạnh mẽ tới đề tài thiên thần học, như ta đã xem thấy trong chương trình truyền hình được ưa thích, “Touched by an Angel” (“Được Thiên Thần chạm vào”)? Phim ảnh và truyền hình thường xuyên nêu lên những vấn đề như cái ác trên thế giới (được đại diện bằng ma quỉ và những mối đe dọa khác), hay sự có mặt của những siêu nhân tốt bụng (như những vị khách đến từ ngoài không gian), hay khả năng có một vị cứu tinh (do nền công nghệ của chúng ta, như thấy trong phim “Ma Trận”). Nhà văn, nhà sản xuất, đạo diễn và những người hoạt động đa phương tiện đã trở thành những nhà thần học của thời nay ở mức độ họ giải quyết các vấn đề nòng cốt của thần học: chúng ta nói về Thiên Chúa bằng cách nào hôm nay? Chúng ta trải nghiệm Thiên Chúa như thế nào? Mục đích cuộc đời chúng ta là gì?
 
Thế giới truyền thông hiện đại cho thấy thần học và việc thảo luận về tôn giáo đang đối diện với một thế giới khác hẳn với những gì mà nền thần học lý thuyết đã thừa hưởng. Nói thế không có nghĩa là thần học lý thuyết thiếu một chỗ đứng hay một mục đích, nhưng có nghĩa là thần học phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề truyền thông.
 
2. Vài hệ quả của truyền thông đối với thần học
 
Nhìn thần học theo quan điểm truyền thông không có nghĩa là đưa truyền thông hay đa phương tiện vào thành một môn trong giáo trình thần học. Đúng hơn, trước hết nó cống hiến các nhận thức sâu sắc vào các đề tài thần học, rồi tìm cách vận dụng sự hiểu biết thần học này để đối diện với các vấn đề của thế giới hôm nay. Mục dưới đây sẽ vắn tắt xét xem bằng cách nào có thể làm được điều này trong bốn lãnh vực thần học: thần học hệ thống và Kitô học, mặc khải, Giáo hội học và thần học luân lý.
 
 1. Thiên Chúa tự truyền thông. Hiến Chế Mặc Khải Dei Verbum và các tác phẩm của các nhà thần học như Karl Rahner nói về lịch sử cứu độ như là việc Thiên Chúa tự truyền thông, việc Thiên Chúa tỏ lộ dần dần mầu nhiệm của Người, được ban không cho chúng ta để có thể biết về Thiên Chúa. Đồng thời có thể nói rằng, vì được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, chúng ta được tham dự vào hoạt động tự mặc khải của Thiên Chúa8 qua việc truyền thông của chính loài người chúng ta. Trong viễn tượng nhân loại học thần học này, việc xem xét về truyền thông nhân loại có thể dẫn chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, trong khi mầu nhiệm đó định hình cho sự truyền thông của chúng ta.
Mọi việc truyền thông đều bắt đầu với Chúa Ba Ngôi là sự hiệp thông giữa các ngôi vị Thiên Chúa,9 đồng nhất với nhau một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự hiệp thông này với các tạo vật, và trong ý định nhiệm mầu, Người muốn hiệp thông với loài người chúng ta. Và như thế trong hành vi tự truyền thông đầu tiên của Người, Thiên Chúa tạo dựng muôn loài và sau đó quyết định hoàn thiện sự truyền thông ấy với tạo vật bằng cách đi vào tạo vật trong mầu nhiệm Nhập Thể. Toàn thể lịch sử cứu độ là sự tỏ lộ dần dần kế hoạch cứu độ và việc tự truyền thông này. Thiên Chúa Chúa đề nghị với chúng ta một giao ước để chúng ta có thể trải nghiệm được sự hiệp thông và Người sẽ hoàn thành giao ước đó để chúng ta có thể biết được sự sung mãn của việc Thiên-Chúa-tự-truyền thông.
Nói theo kiểu truyền thông, Nhập Thể trở thành sự truyền thông (communio) của Ba Ngôi trong lịch sử và trong tạo dựng. Đó không chỉ là truyền đi một thông điệp, mà là thực hành sự truyền thông, là “nghi thức” hay nếp sống ngày này qua ngày khác để đưa chúng ta vào tình bằng hữu với Thiên Chúa (xem 1.4 ở trên).
Ở đây chúng ta thấy sự truyền thông này được hoàn toàn ban không cho chúng ta, một sự truyền thông được thúc đẩy bởi tình yêu. Chúng ta cũng thấy truyền thông như là một sự mở ra dần dần mầu nhiệm của một ngôi vị, ở đây là ba ngôi vị của Thiên Chúa. Sự truyền thông này không thể xảy ra tức thời hay hoàn bị ngay lập tức, nhưng tồn tại trong một biện chứng của mặc khải và kín ẩn. Bởi vì Thiên Chúa dựng nên chúng ta để truyền thông – để chúng ta nhận được sự tự-truyền-thông của Thiên Chúa – nên khả năng truyền thông của chúng ta chuẩn bị cho chúng ta thoáng thấy được mầu nhiệm của Thiên Chúa: đó là một sự hiệp thông giữa các ngôi vị, bằng việc Ngài cho chúng ta được chia sẻ sự hiệp thông ấy một cách vô điều kiện, coi chúng ta như những ngôi vị, và dần dần tỏ lộ cho từng người chúng ta.10
Kiểu nhân loại học truyền thông trong viễn tượng thần học này giúp chúng ta vừa hiểu biết mình vừa đồng thời hiểu biết Thiên Chúa. Nó cũng đòi hỏi chúng ta phải thực sự tôn trọng lãnh vực truyền thông, bởi vì truyền thông đánh dấu hành vi sáng tạo của Thiên Chúa. Sau cùng, nó đề xuất một mục tiêu và chuẩn mực cho việc truyền thông nhân loại, một sự truyền thông rập theo khuôn mẫu truyền thông của Đức Kitô.11
 
2. Mặc khải.  Áp dụng những quan niệm về truyền thông vào những chân lý thần học có thể đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về những chân lý đó, cụ thể là cho phép chúng ta mở rộng điều mà David Tracy gọi là “tưởng tượng tương đồng (analogical imagination).” Đọc lại Hiến chế Dei Verbum về Mặc Khải của Công đồng Vaticanô II dưới ánh sáng này mời gọi chúng ta đi vào một suy niệm đổi mới về hành động của Thiên Chúa và việc chúng ta tiếp nhận hành động của Người. Một cách tương tự, chúng ta cũng áp dụng các khái niệm truyền thông vào mặc khải của Thiên Chúa và đồng thời gán các đặc tính của các khái niệm ấy cho việc truyền thông nhân loại và mặc khải của Thiên Chúa.
Hiến Chế mở đầu bằng sự thừa nhận nhu cầu truyền thông. Khi trích dẫn phần mở đầu Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, Hiến Chế đưa ra động cơ truyền thông: chia sẻ món quà của Thiên Chúa – điều chúng tôi đã được thấy, điều chúng tôi đã được nghe, điều chúng tôi đã chạm tới. Hiến Chế tiếp tục bằng việc nói rằng hoạt động và lời nói của Thiên Chúa liên quan với nhau. Lời Chúa là hành động của Thiên Chúa và Chúa Kitô vừa là đấng trung gian vừa là sự sung mãn của mặc khải (#2). Đa số các phân tích về truyền thông thường tách rời trung gian với thông điệp, coi đó là hai phần riêng biệt. Nhưng quan niệm như thế là coi truyền thông chỉ thuần túy là phương tiện và điều này bỏ qua khía cạnh truyền thông nhân bản sâu sắc nhất trong đó mỗi cá nhân bộc lộ chính con người của mình. Lời nói và hành động có thể gắn kết với nhau, như Gerard Manley Hopkins viết, “Each mortal thing does one thing and the same: / deals out that being indoors each one dwells; / Selves goes itself; myself it speaks and spells, / Crying what I do is me: for that I came.” 12 (Tạm dịch: “Mọi tạo vật đều chỉ làm một chuyện: /bộc lộ ra bên ngoài điều thầm kín bên trong; /Cái tôi đòi đi ra khỏi mình; bản thân tôi, nó nói ra và bộc lộ, /La lên rằng cái tôi làm là tôi: tôi sinh ra là để làm điều ấy.”) Vì bản tính Thiên Chúa đươc tỏ lộ như là sự truyền thông, bản tính con người cũng như vậy, nó vừa là phương tiện của thông điệp vừa là chính thông điệp. Hiến Chế tiếp tục (#4) phác họa vai trò của Thánh Linh: mặc khải là hành động của Ba Ngôi. Thánh Thần là sức mạnh truyền thông nói lên bên trong chúng ta, khi than thở thay cho tiếng nói con người (Thư Rôma 8:26). Thánh Thần là sức mạnh truyền thông, nhắc chúng ta những gì Chúa Giêsu đã dạy (John 14:26).Cũng như nền văn hóa truyền khẩu có nhu cầu duy trì việc truyền đạt thông điệp một cách toàn vẹn, Thánh Linh bảo đảm sự toàn vẹn mặc khải của Thiên Chúa (xem 1.9).
Hiến Chế Dei Verbum tiếp tục xem xét sự đáp ứng của con người đối với mặc khải của Thiên Chúa: sự tuân thủ đức tin (#5). Hiến Chế này nhắc chúng ta rằng truyền thông không chỉ cho mà còn nhận. “Người ta không thể không truyền thông” là một cụm từ được các học giả truyền thông sử dụng.13 Thậm chí im lặng cũng là một câu trả lời, một loại truyền thông. Ý này mời gọi chúng ta xem sự đáp ứng của nhân loại chúng ta đối với việc Thiên Chúa tự truyền thông trong những khái niệm rộng hơn, đụng tới trọn cuộc đời của một con người. Sự kiện mặc khải đến với chúng ta dưới hai hình thức Kinh Thánh và Truyền Thống (#8) củng cố điều này bằng cách gợi ra các cách thức truyền thông: bằng văn bản, bằng lời nói và bằng hành động. Như vậy loài người chúng ta đáp ứng Thiên Chúa bằng toàn thể việc truyền thông của chúng ta. Trong vai trò là đầy tớ và là người canh giữ Kinh Thánh, chúng ta nghĩ về Hội Thánh như một cộng đồng văn bản, một thuật ngữ được giới nghiên cứu truyền thông áp dụng cho những nhóm được tổ chức quanh một bản văn nhất định. Mọi hoạt động của Hội Thánh như cầu nguyện, phụng vụ, suy niệm giáo lý, thần học, các công cuộc bác ái — tất cả xuất phát từ Kinh Thánh và được định hình trong Kinh Thánh (#9).
 Hội Thánh có thẩm quyền dạy dỗ và nhận được sứ mạng giải thích Kinh Thánh một cách trung thành (#10), sự kiện này làm nổi bật bản chất truyền thông của Kinh Thánh. Hai chức năng này tồn tại với danh nghĩa truyền thông tập thể, không phải truyền thông riêng tư. Như thế Kinh Thánh gợi ra chiều kích cộng đồng của truyền thông, như chúng ta thấy trong hình thức văn hóa truyền khẩu hay trong công trình viết tập thể. Truyền thông tập thể tác động như một sự sửa chữa niềm tin thông thường vốn rằng truyền thông có tính cá nhân và riêng tư (phát sinh có lẽ do việc đọc trong thinh lặng và riêng tư); nó mạnh đến nỗi làm cho người ta không thấy sự phối hợp sản xuất tập thể của hầu hết các sản phẩm truyền thông.
Một điểm cuối cùng: Dei Verbum dạy rằng mầu nhiệm cứu độ được tỏ lộ trong Chúa Giêsu như được thuật lại trong Kinh Thánh Tân Ước (#17) và do đó được mặc khải cho chúng ta. Quan điểm truyền thông thường hỏi bằng cách nào mà một bản ghi chép, một phương tiện trung gian, có thể làm được điều mà “bản gốc” đã làm. Để bắt đầu phân tích điều này, chúng ta có thể áp dụng các lý thuyết về sự biểu thị ý nghĩa. Mỗi một trung gian, như một bản dịch chẳng hạn, thì đồng thời cũng là một bản gốc14 và vì thế tác động trên người tiếp nhận giống như bản gốc của nó. Quan điểm này cho phép chúng ta giải thích tác động của Chúa Thánh Thần trong Kinh Thánh theo cách mà việc tự truyền thông của Thiên Chúa hoạ lại trong việc truyền thông của nhân loại, nhờ đó mà hoạt động biểu thị ý nghĩa đặt chúng ta vào trong tương quan với cái được biểu thị.
Cách tiếp cận thần học qua truyền thông này dựa vào một lý thuyết nhân loại học thần học. Sử dụng một loại phương pháp siêu nghiệm, khoa nhân loại học này đặt câu hỏi về những điều kiện để có thể có sự truyền thông. Chính những điều kiện của khả năng truyền thông này là tiền đề để chúng ta tiếp nhận lời mặc khải của Thiên Chúa.
 
3. Giáo hội học.  Trong một số tiểu luận của ông, Avery Dulles đã lý luận rằng “Hội Thánh là truyền thông”15và “Thần học truyền thông là nghiên cứu về cách thức Thiên Chúa tạo ra các niềm xác tín và dấn thân liên kết với đức tin tôn giáo.”16 Theo quan điểm này, truyền thông là một phần của Giáo hội học, bởi vì nghiên cứu về Hội Thánh bao gồm sự mở rộng đức tin trong lịch sử và duy trì đức tin trong đời sống của các thành viên của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Trong một tác phẩm trước đó, Dulles đề cao khoa Giáo hội học của Công Đồng Vaticanô II, đồng thời ghi nhận rằng Công Đồng chấp nhận ít nhất năm mô hình Hội Thánh: Hội Thánh là một định chế hay là một phẩm trật, Hội Thánh như là ngôn sứ, Hội Thánh như là bí tích, Hội Thánh như là hiệp thông, và Hội Thánh như người tôi tớ.17 Trong tiểu luận năm 1989, ông liên kết năm mô hình này với những loại truyền thông đặc trưng. Chúng ta có thể thấy được giá trị ở chỗ không một mô hình riêng rẽ nào diễn tả được Hội Thánh một cách hoàn toàn; tương tự, không một loại truyền thông riêng biệt nào thỏa mãn được các nhu cầu truyền thông của Hội Thánh.
Mô hình Hội Thánh như là định chế hay phẩm trật thích hợp với truyền thông đại chúng vì tổ chức tập quyền của phẩm trật tương thích tốt với tổ chức tập quyền của truyền thông đại chúng, trong đó một trung tâm phát ra một thông điệp giống nhau cho mọi người. Dulles mở rộng mô hình với lược đồ sau đây:
 
            Ai truyền thông?
Phẩm trật
            Truyền thông điều gì?
Giáo thuyết
            Bằng cách nào?
Sách vở, in ấn
            Với đáp ứng thế nào?
Vâng phục, chấp nhận
 
Mô hình này làm cho người ta chú ý tới một khía cạnh của Hội Thánh; nó cũng cho thấy truyền thông có thể phù hợp với nhu cầu của mô hình này như thế nào.
Hội Thánh như là ngôn sứ làm nổi bật việc Hội Thánh rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu và là tiếng nói của một ngôn sứ trong thế giới. Ở đây phương tiện truyền thông được ưa chuộng là rao giảng có thể sử dụng dưới nhiều hình thức mặc dù hình thức được ưa chuộng là dùng lời nói trực tiếp. Đặc tính chủ yếu của nó là giao tiếp người với người.
 
            Ai truyền thông?
Toàn thể Hội Thánh
            Truyền thông điều gì?
Tin Mừng của Chúa Giêsu
            Bằng cách nào?
Rao giảng
            Với đáp ứng thế nào?
Theo đạo
 
Mô hình bí tích hiểu Hội Thánh như là một dấu chỉ hay là bí tích của Chúa Kitô, đấng là bí tích của giao ước của Chúa. Truyền thông diễn ra qua con người và những biến cố, bởi vì Chúa Kitô chính là dấu chỉ bí tích do chính con người của Ngài và những việc Ngài làm (cf.2.1 and 2.2). Là Nhiệm Thể Chúa Kitô, Hội Thánh tiếp tục sự hiện diện của Chúa Kitô trên thế giới.
 
            Ai truyền thông?
Thiên Chúa và Hội Thánh
            Truyền thông điều gì?
Ơn cứu độ
            Bằng cách nào?
Hoạt động bí tích: phụng vụ, v.v...
            Với đáp ứng thế nào?
Thánh hóa
 
Hội Thánh cũng có thể theo mô hình hiệp thông, cộng đồng hay đối thoại. Dulles ghi chú rằng mô hình này có nền tảng là thần học đối thoại-trần thế, một nền thần học tìm ra giá trị ở trần gian và kêu gọi Hội Thánh tiếp xúc với thế giới để học hỏi từ nó. Quan điểm này có nền tảng sâu xa từ sự kiện Thiên Chúa vừa là đấng tạo thành thế giới vừa là Đấng cứu chuộc và vì thế Người có thể nói lên tiếng nói cứu rỗi trong bất kỳ tạo vật nào. Phương pháp truyền thông thích hợp theo mô hình này là đối thoại, một sự đối thoại có thể mang lại sự hiệp thông với Hội Thánh.
 
            Ai truyền thông?
Hội Thánh và Thế Giới
            Truyền thông điều gì?
Hiểu biết lẫn nhau, hữu nghị, cuộc sống, sự thật
            Bằng cách nào?
Đối thoại
            Với đáp ứng thế nào?
Tôn trọng nhau hơn
 
Sau cùng, chúng ta mô tả Hội Thánh như người đầy tớ vì noi gương Chúa Kitô, đấng đến không phải để được phục vụ mà để phục vụ. Hội Thánh có vị trí của mình ở trần thế như một người đầy tớ qua công việc làm cho người khác, những hành vi công lý, những công cuộc bác ái . . .
           
 
            Ai truyền thông?
Toàn thể Hội Thánh
            Truyền thông điều gì?
Tình yêu thương đồng loại
            Bằng cách nào?
Các hành vi phục vụ
            Với đáp ứng thế nào?
Nhiều cách khác nhau
 
Liên kết các mô hình Hội Thánh với các trạng thái truyền thông khác nhau mời gọi sự hiểu biết sâu sắc hơn về Hội Thánh và sự đáp ứng truyền thông từ Hội Thánh nhiều hơn. Nó cũng đề xuất một chiến thuật truyền thông nhiều mặt để Hội Thánh có thể hiện diện trong thế giới với mọi người theo nhiều cách khác nhau. Cuối cùng nó sửa chữa một sai lầm về giáo hội học chỉ ưa chuộng một hình thức truyền thông duy nhất khiến người ta hiểu sai về bản chất của chính Hội Thánh.
 
4. Thần học luân lý. Tuy không phải là mục đích duy nhất của chúng, nhiều văn kiện về truyền thông của Hội Thánh phác họa một nền thần học luân lý để qua đó người ta có thể phán đoán về các sản phẩm truyền thông. Các nguyên tắc nêu ra trong những văn kiện này cũng còn minh họa một cách thức khác để đưa thêm viễn tượng truyền thông vào thần học. Các văn kiện truyền thông trong vòng 50 năm qua đã nhất quán nhắc chúng ta rằng truyền thông và phương tiện truyền thông là những quà tặng của Thiên Chúa18 và vì vậy đòi hỏi con người sử dụng chúng như thế nào cho phù hợp. Đức Giáo Hoàng Piô XII tiếp tục ý tưởng này bằng cách chỉ ra vai trò kép của truyền thông: chia sẻ quyền lực sáng tạo của Thiên Chúa và chia sẻ quá trình tự truyền thông của Thiên Chúa. Những phát biểu thần học này đồng thời đặt ra một đòi hỏi luân lý, phát xuất từ một dạng lý thuyết về luật tự nhiên. Khi hiểu truyền thông như là quà tặng của Thiên Chúa và như là được chia sẻ sự truyền thông của Thiên Chúa, chúng ta sẽ dễ hiểu hơn loài người phải sử dụng những món quà này như thế nào.
Các văn kiện gần đây của Hội Thánh còn đi xa hơn khi nhìn nhận khả năng của tội lỗi và nhắc nhở chúng ta lời dạy của Đức Giêsu rằng truyền thông là một hành vi luân lý,19 như thế buộc con người phải thực hiện hành vi hoàn hảo. Trong viễn tượng luân lý này, truyền thông nhân loại là một cuộc hành trình xuất phát từ Babel, nơi mà sự truyền thông bị đổ vỡ.20 Tuy nhiên người Công Giáo chấp nhận lời dạy của Thánh Phaolô, ở đâu có tội, ở đó ân sủng càng nhiều. Và như thế truyền thông có thể mang tính luân lý nếu trước tiên người ta hiểu rõ bản chất của truyền thông và những con đường dẫn đến chỗ thất bại của truyền thông.
Quan điểm này gợi ý rằng thần học luân lý có thể quan tâm nhiều hơn tới truyền thông trong mọi hoàn cảnh. Trong khi các văn kiện Hội Thánh tập trung vào truyền thông đại chúng, sự thất bại hay suy đồi của truyền thông dẫn đến nhiều cảnh suy đồi luân lý: bất trung trong hôn nhân, lừa dối, bất công, trộm cắp, v.v... Thần học luân lý có thể tìm thấy trong truyền thông một dụng cụ phân tích mới.
Cái nhìn khái quát này gợi ra rằng truyền thông có thể liên quan đến nhiều lãnh vực thần học, không phải như một cái gì ở bên ngoài, nhưng tự bên trong các lãnh vực ấy. Mỗi lãnh vực điển hình — thần học hệ thống và Kitô học, mặc khải, Giáo hội học, và thần học luân lý — cống hiến một phương pháp luận hơi khác làm cho chúng ta có thể dễ thấy hơn rằng truyền thông có thể được dùng làm cơ sở cho một sự đào luyện thần học rộng lớn.
 
3. Những Hệ quả của Truyền thông đối với Thừa tác vụ Linh mục
 
Truyền thông gợi ra ít là hai hệ quả đối với thừa tác vụ linh mục, một được rút ra từ văn hóa, và một từ vai trò của linh mục trong giáo hội và xã hội. Một nền thần học truyền thông nhấn mạnh sự hội nhập văn hóa, nhưng ở đây không chỉ về văn hóa địa phương hay sắc tộc, nhưng chỉ về điều mà trong Thông Điệp Sứ Mạng Đấng Cứu Chuộc (Redemptoris Missio #37c), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “một nền văn hóa mới,” văn hóa của các phương tiện truyền thông. Văn hóa ngày nay, đặc biệt đối với giới trẻ, là văn hóa kỹ thuật số, văn hóa đại chúng, văn hoá thị trường, văn hóa này có thần học riêng của nó. Giống như mọi văn hóa khác, văn hoá này cũng đặt ra và trả lời câu hỏi thần học: “Cứu rỗi là gì?” “Chúng ta làm gì để được cứu rỗi?” Những câu hỏi rất thường được trả lời trong quảng cáo nói cho chúng ta biết phải mua sản phẩm nào, ăn mặc thế nào, hành động thế nào để được cứu. Trong thần học về quảng cáo và văn hóa nhạc pop, người ta tìm thấy giá trị con người trong các sản phẩm và việc tiêu thụ.
Văn hóa được ưa chuộng này là văn hóa của các chủng sinh và văn hóa của những người họ sẽ chăm sóc. Thần học truyền thông đòi hỏi họ phải hiểu văn hóa này và hiểu biết cách thức diễn đạt hiệu quả trong nền văn hóa đó. Chúng ta không thể phục vụ chủng sinh bằng cách không cho họ tiếp xúc với nền văn hóa đó, không thể nói với họ rằng xem truyền hình là xấu hay Internet có hại. Các chủng sinh phải có thời gian nghiên cứu nền văn hóa của họ, để hiểu nó, để họ có thể công bố lời Chúa cho nền văn hóa đó một cách mạnh mẽ hơn.
Hoàn cảnh của các linh mục và linh mục tương lai trở nên phức tạp hơn do hai sự kiện không thể chối cãi. Trước hết nền văn hóa đa phương tiện được ưa chuộng này cộng tồn với văn hóa sắc tộc, văn hoá khu vực và văn hóa truyền thống. Thứ hai, con người ngày nay sống trong môi trường đa văn hóa khi họ tham gia vào nhiều hoạt động, mỗi hoạt động có những định nghĩa cục bộ về vai trò của họ. Một người có thể là một người cha, một người thợ ống nước, một người Công Giáo hay thành viên công đoàn; một phụ nữ có thể là một người vợ, một giáo viên, một huấn luyện viên của một môn thể thao trẻ em, một giáo lý viên, và một nhà hoạt động chính trị. Mỗi một hoạt động xã hội này đòi hỏi những mong đợi và hành vi văn hoá phù hợp. Với sự tách biệt ngày càng lớn giữa văn hóa và tôn giáo, tôn giáo trở thành một sinh hoạt như bao sinh hoạt khác. Đây là tình huống mà người linh mục ngày nay đang hoạt động. Họ phục vụ những con người sống trong nhiều văn hóa khác nhau, tất cả đều bị sự tác động của nền văn hóa truyền thông đại chúng. Vì thế họ phải trở thành một chuyên gia trong nền đa văn hóa này.
Thứ hai, thần học truyền thông kêu gọi quan tâm tới nhiều vai trò của người linh mục. Cũng như một khoa Giáo hội học hoàn bị mô tả Hội Thánh theo nhiều mô hình mà không một mô hình duy nhất nào có thể mô tả đầy đủ sự phức tạp của Hội Thánh, thì cũng thế, một sự hiểu biết hoàn bị về chức linh mục nhìn nhận rằng người linh mục cùng một lúc thể hiện nhiều vai trò khác nhau. Trong truyền thống, Chúa Kitô được mô tả trong các vai trò là tư tế, ngôn sứ và vua. Là những người đại diện Chúa Kitô, linh mục cũng có những vai trò khác nhau. Tuy không diễn tả được hết, chúng ta có thể nói linh mục là một người ban bí tích, một người thánh, một người thầy, một người rao giảng hay truyền giáo, một người đại diện Hội Thánh, một lãnh đạo hay người huấn luyện cộng đoàn, một người đại diện cộng đồng dân sự. Thần học truyền thông cho chúng ta biết rằng mỗi vai trò nói trên nhấn mạnh một đặc điểm truyền thông khác nhau.
Vai trò ban bí tích của linh mục và vai trò là một người thánh nhắc chúng ta rằng con người không thể tách biệt truyền thông xã hội ra khỏi truyền thông cá nhân. Ở đây linh mục theo gương Chúa Kitô, đấng đã nêu gương thống nhất trong hành động, lời nói và đời sống (cf.2.1). Linh mục được tạo thành bởi Lời Chúa, vì thế linh mục phải diễn tả Lời Chúa. Cũng như trong Phép Thánh Thể, chúng ta trở nên cái chúng ta ăn (Augustine), thì cũng thế, trong Lời Chúa, chúng ta truyền thông cái chúng ta nghe. Linh mục trên hết phải theo gương Chúa Kitô, người truyền thông hoàn hảo, và “đồng hóa mình hoàn toàn với những người tiếp nhận truyền thông của mình và trao ban cho họ thông điệp không phải chỉ bằng lời mà còn bằng cách sống của mình” (Communio et Progressio #11).
Vai trò làm thầy và rao giảng Tin Mừng của linh mục đòi linh mục phải sử dụng mọi phương tiện truyền thông,21 từ kỹ thuật truyền thông giữa người với người cho tới truyền thông đại chúng và kỹ thuật số. Để làm được điều này, linh mục phải học những phương cách diễn đạt thích hợp trong mỗi lãnh vực: tu từ, hình ảnh, lời nói. Ngày nay khán giả càng lúc càng tinh tế (cf. 1.8), vì thế truyền thông tôn giáo cũng phải như vậy, dù là một sự tinh tế đơn sơ.2 Một cách cơ bản, linh mục phục vụ trong vai trò một người làm trung gian Lời Chúa và là người “diễn dịch” mặc khải (cf. 2.2). Giảng thuyết có lẽ là hình thức thích hợp nhất cho những vài trò này.
Trong vai trò lãnh đạo hoặc người đào luyện cộng đoàn, người linh mục noi theo mô hình hiệp thông hay mô hình đối thoại của Hội Thánh (cf. 2.3). Sự hiệp thông của Chúa Ba Ngôi thúc đẩy linh mục tăng cường sự hiệp thông trong Hội Thánh một cách tương tự. Truyền thông của linh mục phải trợ giúp tự truyền thông của Chúa để toàn thể Hội Thánh có thể tham dự vào giao ước được Chúa kêu mời trong Chúa Giêsu Kitô. Đặc trưng truyền thông của linh mục với cộng đồng dân sự là tinh thần đối thoại giống như thế, trong cộng đồng này Hội Thánh địa phương tìm thấy chính mình.
Thần học truyền thông vạch ra một chỗ nguy hiểm thực sự cho linh mục, đó là lẫn lộn phương cách truyền thông trong những vai trò khác nhau mà linh mục phục vụ. Dùng thuyết giảng trong khi phải đóng vai trò đối thoại có thể khiến cho linh mục bị cô lập nơi những người cần được linh mục lắng nghe và như thế làm cho truyền thông có thể thất bại ngay tại nơi linh mục cần củng cố. Cũng vậy, thay thế thuyết giảng bằng đối thoại có thể làm hỏng vai trò sứ ngôn của linh mục. Trong hoạt động truyền thông của mình, linh mục phải học biết cách phân biệt.
 
4. Hệ quả đối với cuộc sống con người
 
Một suy tư về truyền thông nhân loại đề xuất một cách nghĩ khác: thần học truyền thông đóng vai trò thế nào trong đào tạo ở chủng viện. Đức Hồng Y Carlo Martini của Giáo Phận Milan phác họa việc suy niệm Kinh Thánh về truyền thông trong lá thư mục vụ năm 1992.23 Phần sau đây lấy ý tưởng từ lá thư này. Phương pháp của Ngài mở ra một cách thức đọc Kinh Thánh theo quan điểm truyền thông, để chúng ta có thể nhìn truyền thông dưới ánh sáng Kinh Thánh. (Cách tiếp cận này khác với phương pháp được phác họa trong đoạn 1.9, ở đó câu hỏi được đặt ra là chúng ta học được gì trong Kinh Thánh từ nghiên cứu truyền thông – tính chất truyền khẩu của văn bản, v.v...). Còn ở đây chúng ta nghĩ về điều chúng ta học được về truyền thông nhân loại từ sự truyền thông của Chúa Giêsu.
Đức Hồng Y Martini bắt đầu với lời kể của Máccô về việc chữa cho một người câm điếc (Mc 7:31-37). Máccô nói rằng người ta mang anh này đến cho Chúa Giêsu và Ngài đã đưa anh ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh, sau đó nhổ nước bọt và chạm vào lưỡi anh. Rồi Người cầu nguyện, “Ephphatha, Hãy mở ra!” Lưỡi anh lỏng ra và tai anh mở ra và anh bắt đầu ca tụng Chúa.
Câu truyện chữa bệnh này có ba phần: mất khả năng truyền thông (câm và điếc), các dấu hiệu và cử chỉ chữa bệnh, và sau hết là phép lạ và hậu quả của nó. Áp dụng điều này vào chúng ta, chúng ta cũng sẽ đi vào từng phần của ba giai đoạn này.
Vì sao chúng ta không có khả năng truyền thông? Mặc dù chúng ta nghe được và nói được chúng ta có thể bị trở ngại khi truyền thông. Hồng Y Martini đưa ra ba nguyên nhân mất khả năng truyền thông. (1) Chúng ta có một ý niệm sai lầm hoặc lý tưởng về truyền thông. Khi tìm kiếm một sự truyền thông hoàn hảo chúng ta trở nên thất vọng vì những giới hạn của mình. Chúng ta kỳ vọng quá nhiều vào người khác và kết án những giới hạn của họ (và của chính chúng ta). (2) Truyền thông của chúng ta phát xuất từ ước muốn sở hữu người khác. Chúng ta truyền thông không phai để chia sẻ, nhưng để chiếm lấy, và điều này làm cho người khác đề phòng và do đó không muốn truyền thông. (3) Chúng ta sử dụng truyền thông như một cách diễn tả ý muốn thống trị người khác. Chứ không phải tìm kiếm sự thông hiệp, chúng ta tìm kiếm quyền lực. (4) Chúng ta vội vã truyền thông, tìm kiếm một sự đáp ứng ngay lập tức, một sự ràng buộc ngay lập tức với người khác, tìm kiếm sự hoàn toàn về thông tin. Những trở ngại truyền thông này ảnh hưởng tới chúng ta như những con người, nhưng nó cũng mô tả ra những triệu chứng truyền thông bị cản trở trong Hội Thánh hay trong bất cứ thể chế nào khác.
Trong phần thứ hai của câu truyện chữa bệnh, chúng ta thấy những dấu hiệu và cử chỉ của việc ‘mở ra’. Chúa Giêsu đưa người câm điếc ra chỗ vắng người và khi làm như thế ngài đã làm một cử chỉ tôn trọng. Ngài chữa bệnh không phải để trình diễn những cử chỉ cho mọi người thấy và càng không phải để giải khuây cho họ. Bước đầu trong việc chữa bệnh, bước đầu trong truyền thông không bị trở ngại là nhờ tôn trọng người khác. Kế đến, Chúa Giêsu tiếp xúc với người này qua mọi hình thức truyền thông, được biểu tượng bằng cách chạm vào bệnh nhân. Rồi Người nói vài lời, biểu trưng cho sự truyền thông được phục hồi. Những dấu hiệu và cử chỉ chữa bệnh mang mô hình của sự tự truyền thông của Chúa: tôn trọng và yêu mến; tiếp xúc hay chủ động; ngôn từ diễn đạt.
Trong phần thứ ba của phép lạ, chúng ta thấy không những sự chữa lành bệnh mà còn hậu quả của nó: người đàn ông này trở về cộng đồng của mình, hội nhập hoàn toàn với cộng cồng. Anh ta và những người khác cùng nhau ca ngợi Chúa. Điều này gợi ra mô hình truyền thông của chúng ta khi chúng ta nối kết cộng đồng nhân loại với việc phụng thờ Thiên Chúa.
Hồng Y Martini lưu ý rằng truyền thông tốt của con người phải lấy mô hình tự truyền thông của Thiên Chúa làm khuôn mẫu. Truyền thông được chuẩn bị trong sự thinh lặng của Thiên Chúa và dần dần mở ra trong lịch sử con người. Sự truyền thông này tiếp diễn và hoạt động một cách biện chứng qua sự mặc khải và dấu kín vì nó không bao giờ đạt tới sự hoàn tất. Và sự truyền thông của Chúa là cá nhân và liên cá nhân, vì nó đến với chúng ta qua từng người, gọi chính tên của chúng ta. Truyền thông của chúng ta phải đi theo mô hình này. Nó cũng phải sinh ra trong thinh lặng, trong sự tự hiểu biết dần dần. Chúng ta phải biết rằng truyền thông cần phải có thời gian, ở cả hai phía. Chúng ta cần thời gian để hiểu chính mình và thời gian để hiểu người khác. Truyền thông không bao giờ có thể diễn ra tức thời. Chúng ta được tạo dựng qua thời gian, chúng ta cần nhớ rằng mọi việc truyền thông đều có ánh sáng và bóng tối – đây là chuyện bình thường và đừng để nó làm ta thất vọng. Bởi vì truyền thông bao gồm các bên trò chuyện và đối thoại, lắng nghe chính là một khía cạnh chủ yếu.
Sự áp dụng Kinh Thánh này có hệ quả đối với đời sống chúng ta và sự đào tạo chủng viện. Cả hai truyền thông cá nhân và truyền thông Hội Thánh phải được sửa soạn trong thinh lặng, trong sự lắng nghe Chúa và người khác. Chúng ta phải để người khác được tự do, gạt sang một bên ước muốn thống trị và quyền lực. Ở điểm này, Chúa Kitô luôn là kiểu mẫu của chúng ta, Ngài đã không bám vào thân phận thần linh, nhưng đã từ bỏ và mang lấy thân phận người nô lệ (Ph 2:7). Truyền thông là một quá trình diễn ra trong thời gian, nó không bao giờ hoàn tất. Nó cũng mời gọi chúng ta kiên nhẫn để hiểu. Truyền thông suôn sẻ đòi hỏi chúng ta hiểu chính mình và hiểu người khác.
Đào tạo truyền thông xã hội như thế bao gồm một số bước thực hành mà chúng ta đã lược qua trong bài này. Tôi sẽ tóm tắt lại như sau. (1) Chúng ta học hỏi văn hóa của người khác bằng cách lắng nghe họ. (2) Chúng ta phải cảm nghiệm những nền văn hóa đó để (3) tìm ra những phương cách phát biểu phù hợp. (4) Chúng ta phải nhận ra những trở ngại truyền thông, xem xét chính mình và các tình huống. (5) Chúng ta phải biết sử dụng những công cụ truyền thông có sẵn. Về vấn đề này, chúng ta phải biết rằng các công cụ truyền thông không phải là vô thưởng vô phạt. Một mặt nó là một công cụ cực kỳ linh hoạt, nó mang một giá trị nào đó ảnh hưởng một cách tinh vi tới việc truyền thông của chúng ta. Lấy ví dụ, truyền thông đại chúng củng cố và minh định quyền lực trung tâm – một người có thể diễn giải cho nhiều người. Một cách tinh vi nó có thể làm hỏng ý niệm thông hiệp và cộng đồng mặc dù trong đó cũng có hình thức cộng đồng người nghe. (6) Chúng ta luôn phải có ước vọng xin giúp đỡ, ước vọng được phản hồi từ người khác để có thể hiểu được họ và yêu mến họ. (7) Cuối cùng chúng ta phải hiểu rõ thông điệp mình truyền đạt. Chúng ta làm được điều này khi cầu nguyện, suy niệm Kinh Thánh và suy niệm việc tự truyền thông của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Truyền thông xã hội và thần học truyền thông công nhận Chúa Kitô là sự sung mãn truyền thông, Chúa Kitô là trung tâm sự truyền thông của chúng ta. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Người, theo hình ảnh Ba Ngôi Đấng truyền thông và qua truyền thông ban tặng sự sống và ơn cứu rỗi cho mọi người.
 
 
Chú thích
 
1.     Tài liệu trong phần thứ nhất này dựa vào Soukup, Paul A., Francis J. Buckley, và David C. Robinson. “The Influence of Information Technologies on Theology.” Theological Studies. (May 2001).
2.     Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy. Princeton: Princeton University Press, 1963, p. 13.
3.     James W. Carey, A Cultural Approach to Communication. Được in lại trong J. W. Carey, Communication as Culture: Essay on Media and Society. Boston: Unwin Hyman, 1989., pp. 13-36.
4.     Horace Newcomb and Paul Hirsch, Television as a cultural form, H. Newcomb (Ed.), Television: The Critical View, 4th ed. New York: Oxford University Pres, 1987, pp. 455-470.
5.     Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: the Impact of Electronic Media on Soial Behavior, New York: Oxford University Press, 1985.
6.     Walter J. Ong, S.J., Truyền khẩu và Văn chương: Công nghệ hóa từ ngữ (Orality and Literacy: Công nghệ hóa từ ngữ. (London: Methuen, 1982).
7.     Walter J. Ong, S.J., Phương tiện truyền thông và trạng thái thần học. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.
8.     Pius XII, Miranda Prorsus, #25.
9.     Pontifical Council for Social Communication, Communio et Progressio #8.
10. Cf. Carlo Maria Cardinal Martini. Effata, Apriti. Communicating Christ to the World: The Pastoral Letters Effata, Apriti and Il Lembo del Mantello.  Trans. Thomas Lucas, S.J. Kansas City: Sheed & Ward, 19924,  pp. 1-76.
11.Pontifical Council for Social Communication, Communio et Progressio, #11.
12. Gerard Manley Hopkin, As Kingfishers Catch Fire (poem34). Poems and Prose of Gerrd Manley Hopkins. Ed. W.H. Gardner. London: Penguin, 1988: p. 51 (Original edition 1953).
13. Paul Watzlawick, Janice Beavin, and Don Jackson. The Pragmatics of Human Communication: A study of interactional patterns, pathologies, and paradoxes. New York: Norton, 1967.
14. Ulbaldo Stecconi. “Peirce’s Semiotics for Translation.” Fidelity and Translation: Communicating the Bible in New Media. Eds. Paul A. Soukup and Robert Hodgson. Frankln, WI: Sheed& Ward; New York: American Biblr Society, 1999: pp. 249-261.
15. Avery Dulles. “The Church is Communication.” Multimedia International (1971).
16. Dulles, Avery. “Vatican II and Communication.” In Latourelle, R. (Ed.) Vatican II: Assessment and Perspectives. 3vols. (Vol 3, pp. 528-547). New York: Paulist Press, 1989: p. 529.
17. Dulles, Avery.  Models of the Church. Garden City, NY: Doubleday, 1987: pp. 34-102. (Original edition 1974).
18. Pius XI,  Vigilanti Cura, #9; Pius XII, Miranda Prorsus, #24; Second Vatican Council, Inter Mirifica, #1.
19. Pontifical Council for Social Communication, Ethics in Communication, #32.
20. Ethics in Communication, #3.
21. Cf. Paul VI,  Evangelii Nuntiandi, #42 ff.
22. Thánh Augustinô thảo luận vấn đề này trong Quyển IV của tác phẩm De Doctrina Christina,dưới khía cạnh sử dụng hình thức tu từ — phương pháp truyền thông hàng đầu vào thời Ngài.
23. Martini, op. cit., especially pp. 16-19.
 
 



 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm