Danh mục bài viết

Cập nhật 2/4/2019 - 21:40 - Lượt xem 840

Tóm tắt tông huấn Christus Vivit – Đức Kitô sống

“Đức Kitô sống. Ngài là niềm hy vọng của chúng ta và là sự trẻ trung đẹp nhất của thế giới này. Tất những gì Ngài chạm đến đều trở nên trẻ, mới và đầy sức sống”. Đây là những lời mở đầu tông huấn “Christus vivit – Đức Kitô sống” hậu Thượng hội đồng về người trẻ, được ký ngày 25/3/2019 tại Loreto, gởi đến “người trẻ và toàn dân Chúa”. Tông huấn gồm 9 chương, chia ra làm 299 đoạn.

Tông huấn Christus Vivit

Tóm tắt nội dung tông huấn:

Chương 1: “Lời Chúa nói gì về người trẻ?”

Đức Thánh Cha nhắc rằng “trong thời đại mà người trẻ chỉ đóng vai trò thứ yếu, thì một số bản văn cho thấy Thiên Chúa nhìn với cặp mặt khác” (6) và được thể hiện trong hình ảnh của một số người trẻ trong Cựu Ước: Giuse, Ghít-ôn (7), Samuen (8), vua Đavít (9), Salomon và Giêrêmia (10), cô bé giúp việc nhà ông Naaman và cô Rút (11). Trong Tân Ước, “Chúa Giêsu không thích thấy việc người lớn nhìn những người trẻ với cặp mắt coi thường hay bắt họ phục vụ theo lối độc đoán. Ngược lại, Ngài đòi: “Giữa anh em, ai muốn làm lớn phải trở nên nhỏ hơn” (Lc 22,26). Đối với Ngài, tuổi tác không tạo nên đặc quyền, và ai ít tuổi không có nghĩa là ít giá trị hơn”. Đức Thánh Cha khuyến khích: “Đừng hối tiếc tiêu xài tuổi trẻ để trở thành người tốt, mở con tim cho Chúa, và sống một cách khác” (17).

Chương 2: “Đức Giêsu Kitô luôn trẻ”

Không thể tưởng tượng ra một “Giêsu niên thiếu đơn độc hay một Giêsu trẻ chỉ nghĩ cho riêng mình. Tương quan của Ngài với dân chúng thực sự là tương quan của một người trẻ chia sẻ cuộc sống gia đình trong sự hoà hợp nơi xóm làng” (28). Đức Giêsu niên thiếu, “nhờ sự tin tưởng của cha mẹ… Ngài lớn lên trong tự do và học cách bước đi với tất cả những người khác” (29).Những yếu tố này trong đời sống của Đức Giêsu không nên bị bỏ qua trong mục vụ người trẻ, “để không tạo ra những dự án tách rời người trẻ khỏi gia đình và thế giới, hay biến họ thành một thiểu số được tuyển chọn và được bảo quản khỏi mọi lây nhiễm.” Nhưng ngược lại, “những dự án giúp người trẻ cứng cáp, đồng hành với họ và hướng họ đến việc gặp gỡ người khác, phục vụ quảng đại và vì sứ mạng” (30).

Chúa Giêsu “không soi sáng chúng con, những người trẻ, từ xa hay từ ngoài, nhưng khởi đi từ chính tuổi trẻ của Ngài, Ngài chia sẻ với chúng con” (31).

Giáo hội có thể bị cám dỗ mất đi lòng nhiệt huyết và tìm kiếm “những an toàn giả tạo của thế gian. Chính người trẻ có thể giúp Giáo hội giữ được sự trẻ trung” (37).

Chương 3: “Các con là hiện tại của Thiên Chúa”

Đức Thánh Cha khẳng định chúng ta không thể tự giới hạn mà nói rằng: “người trẻ là tương lai của thế giới. Họ là hiện tại, họ hiện đang làm phong phú thế giới bằng những đóng góp của họ” (64). “Ngày nay, người lớn chúng ta có nguy cơ liệt kê ra một danh sách những hư hỏng, lầm lỗi của tuổi trẻ trong thời đại chúng ta… Đâu là kết quả của thái độ này? Một khoảng cách ngày càng lớn hơn” (66). Ai được kêu gọi để trở thành cha, mục tử, người hướng dẫn giới trẻ phải có khả năng “nhận ra được những con đường ở nơi mà người khác xem chỉ là bức tường, và biết được cơ hội nơi người khác chỉ thấy nguy hiểm. Đây là cách nhìn của Thiên Chúa Cha, khả năng nhận ra giá trị và làm nảy mầm những hạt giống trong trái tim tuổi trẻ. Bởi thế, trái tim của mỗi người trẻ phải được xem là ‘nơi thánh’” (67).

Về những người trẻ sống trong vùng chiến tranh, nhiều người trẻ bị nhồi nhét ý thức hệ, trở nên dụng cụ và bị sử dụng như bia đỡ đạn hoặc như một lực lượng để tiêu diệt, đe dọa hoặc chế giễu người khác (73). Một số lớn hơn chịu đau khổ ở những hình thức bị loại trừ và gạt sang bên lề xã hội vì những lý do tôn giáo, chủng tộc hoặc kinh tế. Đức Thánh Cha nói đến những trẻ vị thành niên và những người trẻ “có thai và nỗi nhức nhối về nạn phá thai, sự phát tán HIV, những hình thức nghiện ngập (thuốc phiện, cờ bạn, phim ảnh xấu,…) và những hoàn cảnh trẻ em và người trẻ đứng đường (74); tình huống trở nên đau đớn và khó khăn gấp đôi đối với nữ giới. “Chúng ta không thể là một Giáo hội không biết khóc trước những thảm kịch của những con cái trẻ của mình” (75).

“Trong một thế giới tuyệt đối nhấn mạnh đến tình dục, thì thật khó để giữ một tương quan tốt với chính thân xác của mình và sống bình thản với những tương quan tình cảm”. Cũng vì thế, luân lý tính dục thường trở thành nguyên nhân “hiểu lầm và xa tránh Giáo hội” như thể Giáo hội là “nơi xét xử và kết án” (81). Đức Thánh Cha, đứng trước những phát triển của khoa học về kỹ thuật y sinh và khoa học thần kinh, nhắc rằng “chúng có thể làm cho chúng ta quên rằng sự sống là một món quà, rằng chúng ta được tạo dựng và giới hạn, rằng chúng ta dễ bị công cụ hoá bởi những người nắm giữ quyền lực công nghệ” (82). “Môi trường số” đã tạo nên “một cánh thức mới về truyền thông” và “có thể dễ dàng tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin độc lập”. Tại nhiều nước, website và mạng xã hội trở thành “nơi không thể thiếu để tiếp cận và hoà đồng với người trẻ” (87). Nhưng “đây cũng là lãnh địa của sự cô đơn, lèo lái, khai thác và bạo lực đến trường hợp cực đoan của web đen. Phương tiện số có thể cho thấy nguy cơ phụ thuộc, tách mình và dần mất đi tương quan với thực tế cụ thể” (88).

Tông huấn cũng đề cập đến “di dân như là một mô hình của thời đại chúng ta” vì các lý do “chiến tranh, bạo lực, bách hại chính trị hay tôn giáo, hoặc để tránh những thảm hoạ tự nhiên do biến đổi môi trường và sự nghèo đói cùng cực” (91), họ cũng có thể đi tìm một cơ hội và mơ ước một tương lai tốt hơn.

Đức Thánh Cha cũng nói đến việc lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, ngài diễn tả lòng biết ơn “đối với những người can đảm tố cáo sự dữ ngay lập tức (99), và “cảm ơn Chúa”, những linh mục phạm phải “tội ác kinh khủng này không phải là đa số, nhưng ngược lại nhiều linh mục thi hành sứ mạng trung thành và quảng đại”. Đức Thánh Cha kêu gọi những người trẻ khi thấy một linh mục có nguy cơ lạc đường, hãy can đảm nhắc vị ấy về sự dấn thân cho Chúa và cho dân của Ngài (100).

Nhưng dù thế nào, thì vẫn luôn có một “con đường để bước ra” khỏi những tình huống u tối và đau buồn. Hãy nhớ là tin vui được ban vào sáng Phục Sinh (105).

Chương 4: “Lời loan báo vĩ đại cho tất cả người trẻ”

Đức Thánh Cha loan báo với tất cả người trẻ ba sự thật lớn:

Thứ nhất: “Thiên Chúa là tình yêu” và “Thiên Chúa yêu con, đừng bao giờ nghi ngờ về điều đó”(112). Trí nhớ của Chúa Cha “không giống như một ổ cứng ghi nhớ và lưu trữ mọi dữ kiện, trí nhớ của Ngài là một trái tim đầy nhân hậu, ngài vui lòng xoá sạch mọi vết nhơ của chúng ta… Bởi vì Ngài yêu con. Hãy tìm cách ở lại trong những giây phút thinh lặng, cảm nhận mình được Ngài yêu (115).

Thứ hai: “Đức Kitô cứu con”. “Đừng bao giờ quên là Ngài tha thứ bảy mươi lần bảy. Ngài trở lại để vác chúng ta trên vai hết lần này đến lần khác” (119). “Tình yêu của Chúa lớn hơn tất cả những phản nghịch, yếu đuối và lỗi lầm của chúng ta” (120).

Thứ ba: “Ngài đang sống”. “Chúng ta nhớ đến Ngài… nhưng với nguy cơ là nhìn thấy Chúa Giêsu Kitô chỉ như một gương sáng quá khứ, một tưởng niệm, như một người đã cứu chúng ta 2000 năm trước (124). “Ngài đang sống, đây là một bảo đảm rằng điều thiện có thể đi vào đời sống chúng ta. Do đó, chúng ta không càm ràm nhưng luôn hướng nhìn về phía trước (127).

Chương 5: “Hành trình của người trẻ”

“Tình yêu Thiên Chúa và tương quan của chúng ta với Đức Kitô hằng sống không cản trở chúng ta ước mơ, không hạn chế tầm nhìn của chúng ta. Ngược lại, tình yêu này thúc đẩy chúng ta, khuyến khích chúng ta và hướng chúng ta đến một cuộc sống tốt hơn và đẹp hơn (138). Nghĩ về người trẻ, Đức Thánh Cha nhìn thấy một người đặt sẵn bước chân phía trước, sẵn sàng lên đường, sẵn sàng lao mình về phía trước (139). Tuổi trẻ không thể ở trạng thái “thời gian treo”, bởi vì “đây là tuổi của những chọn lựa” về nghề nghiệp, xã hội, chính trị, và cả chọn người yêu hay chọn có những đứa con. “Ước mơ lớn nhất đạt được với hy vọng, kiên nhẫn và dấn thân… Đừng sợ nguy hiểm và phạm những sai lầm” (142).

Đức Thánh Cha mời người trẻ đừng đứng nhìn cuộc sống từ ban công, đừng để cuộc sống lướt qua trước màn hình, đừng nhìn thế giới như một khách du lịch, nhưng “các con hãy cảm nhận! Loại bỏ đi sợ hãi làm tê liệt các con… Các con hãy sống đi (143). “Sống giây phút hiện tại”, tận hưởng mọi món quà nhỏ của cuộc sống với lòng biết ơn (146).

“Con sẽ không biết sự tròn đầy thật sự của tuổi trẻ, nếu… con không sống tình bạn với Giêsu” (150). Như một người bạn, “chúng ta nói chuyện, chia sẻ, ngay cả những điều thầm kín nhất với Giêsu”. “Đừng để thiếu đi tình bạn này trong tuổi trẻ của con”, “con sẽ sống kinh nghiệm đẹp khi biết mình luôn được đồng hành” như các môn đệ trê