Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 21:7 - Lượt xem 3596

Một số điều kiện cho việc đào luyện truyền thông

Kết thúc các suy tư trên đây về đào luyện truyền thông cho thừa tác vụ linh mục, chúng ta liệt kê dưới đây là một ít yếu tố có vẻ là cơ bản trong tiến trình đào luyện truyền thông:

1. Thinh lặng và Linh đạo
Mọi việc truyền thông Kitô giáo đều bắt đầu bằng sự thinh lặng. TGM Carlo Martini (1990, số 30) liệt kê nó như là tiêu chuẩn đầu tiên trong các tiêu chuẩn về sự truyền thông của Thiên Chúa. Sự truyền thông của Thiên Chúa được chuẩn bị trong thinh lặng và trong nơi bí ẩn của Thiên Chúa. Nó là một “mặc khải về mầu nhiệm được giấu kín tự ngàn xưa” (Rm 16:25). Nó là một mầu nhiệm “đã được giấu kín tự ngàn xưa nơi Thiên Chúa, Đấng dựng nên mọi sự” (Ep 3:9). Vì các quan tâm mục vụ đối với tổng giáo phận Milan của ngài, TGM Martini nói:
“Mọi việc truyền thông đều phát sinh trong thinh lặng; nhưng không phải cái thinh lặng trống trải u buồn, mà là cái thinh lặng thấm nhuần sự chiêm ngưỡng những kỳ công Thiên Chúa đã làm cho dân Người. Chúng ta cần phải xét mình lại về thời gian chúng ta dành cho thinh lặng, dù là trong đời sống thường ngày, trong phụng vụ, hay trong các kỳ tĩnh tâm chính chúng ta tham dự hay tổ chức cho cộng đoàn mình... Một điều quan trọng nữa là, bắt đầu với sự thinh lặng của Đức Maria đón nhận lời của thiên sứ với lòng ngạc nhiên và kính sợ, chúng ta phải tự hỏi mình rằng chúng ta có biết nhìn thực tại, các biến cố, cuộc sống, và mầu nhiệm Thiên Chúa với con mắt ngạc nhiên hay không...” (Số 58).
Việc truyền thông Kitô giáo nói chung, nhưng đặc biệt người linh mục truyền thông cần phải có một ‘con tim biết lắng nghe’ (xem 1V 3:9) trong tâm tình cởi mở đối với Thiên Chúa và người khác. Giống như Ađam trong bức danh hoạ về tạo dựng của Michelangelo tại Nhà Nguyện Sixtine ở Vatican, hoàn toàn mở rộng để đón nhận sự sống từ tay Thiên Chúa, người linh mục truyền thông cũng cần một linh đạo của sự mở rộng hoàn toàn.
 
Mẫu Truyền thông Kitô giáo
 
Trong một khoá giảng dạy của tôi tại Đại học Thánh Tôma ở Manila, một số sinh viên của chúng tôi đã triển khai một ‘Mẫu Truyền thông Kitô giáo.’ Dựa trên Thánh Augustinô, họ đặt thông điệp Kitô giáo vào vị trí trung tâm, và người đưa tin chỉ là một công cụ để phục vụ thông điệp. Trong các mẫu truyền thông bình thường theo hàng dọc với Người Gửi-Thông Điệp-Người Nhận, Người Gửi giữ vị trí trung tâm và hầu hết việc nghiên cứu được tập trung một cách trực tiếp hay gián tiếp vào Người Gửi. Trong mẫu truyền thông Kitô giáo mới, chính Thiên Chúa cùng với thông điệp của Người giữ vị trí trung tâm. Có nghĩa là người đưa tin càng biết lắng nghe và đồng hoá mình với thông điệp, họ càng phản ánh và truyền thông nó nhiều hơn.
 
 
Trong một bức tranh do Martin Knoller vẽ năm 1722 trong nhà thờ tu viện Muri-Gries ở Bolzano, Bắc Ý, một tia sáng chảy từ miệng Đức Kitô xuống tay Thánh Augustinô để phi bác những người lạc giáo. Có thể coi đây như là hình ảnh minh hoạ ‘Mẫu Truyền thông Kitô giáo’, đặc biệt cũng là vì tia sáng đi thẳng tới tay và bút của Thánh Augustinô, vị thánh quan thầy của nhà thờ này. Theo cách bố cục của bức tranh, Đức Kitô là Lời đứng ở vị trí trung tâm và Thánh Augustinô người truyền thông chỉ là sứ giả mà thông qua đó Lời Đức Kitô đến với những người nhận. Thực ra tia sáng rơi đúng vào cây bút lông chim trong tay Thánh Augustinô. Ngài, tay ngài và cây bút chỉ là những dụng cụ để phục vụ Đức Kitô là chính thông điệp!
Trong cuộc đời Đức Kitô, Chúa Cha là trung tâm; vì vậy việc truyền thông của linh mục cũng phải bắt đầu với Chúa Cha trong Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chính đời cầu nguyện của linh mục là nguồn mạch từ đó mọi việc truyền thông tuôn chảy. Việc truyền thông của Thiên Chúa xuất phát trong thinh lặng, suy niệm và cầu nguyện, và linh mục là người đầu tiên đi theo con đường này.
Một linh mục không có thời giờ cho đời sống thiêng liêng và kinh nguyện cá nhân thì chẳng khác gì cái cây không lá, cái bàn không thức ăn, người lính không vũ khí. Chỉ có sự thinh lặng sâu thẳm và lắng nghe trong kinh nguyện mới có thể đem lại cái nền thiêng liêng cần thiết cho sứ vụ truyền thông của linh mục.
Liên kết với thinh lặng và kinh nguyện cũng có việc phục vụ của linh hướng. Linh hướng là và phải là sự truyền thông sâu xa giữa hai người đồng hành đến với Chúa. Trong các chủng viện của chúng ta, linh hướng thường có vẻ là một bổn phận phải làm và dễ bị mắc kẹt về phương diện hoạt động. Đây không phải là truyền thông thực sự, mà là một việc tuân giữ các luật lệ mà hiếm khi có tác động thực sự. Linh hướng đích thực là một thách đố đặc biệt đối với sự cởi mở truyền thông của chủng sinh cũng như của vị linh hướng, chính linh hướng là người trước tiên và trước hết cần có một ‘con tim biết lắng nghe’ và đời sống sâu xa với Chúa.
 
2. Đối diện với thực tại
 
Đức Giêsu truyền thông qua việc gặp gỡ con người trong thực tế đời sống của họ. Cũng vậy, người truyền thông/linh mục cần phải mở ra với các thực tại của chính mình và của người khác. Rất thường xuyên các linh mục và chủng sinh có vẻ khó chấp nhận thực tại của mình. Các kinh nghiệm đau thương và thậm chí tội lỗi thường bị che giấu để có thể được thụ phong hay để giữ được một ‘hình ảnh’ tốt đẹp. Bí tích hoà giải bị biến chất thành một việc chỉ đơn thuần nghe tội mà không có một sự giải quyết nào.
Các điều tiêu cực bị mắc kẹt như thế thường cản trở người linh mục trở thành một người truyền thông cởi mở. Tất cả những gì bị đè nén trong thời kỳ đào luyện dễ xuất hiện trở lại sau khi thụ phong và gây sức ép trên năng lượng cảm xúc và tâm lý, làm cản trở việc truyền thông với những người được trao phó cho chúng ta chăm sóc. Johannes Bours, Linh Hướng một thời gian dài tại một chủng viện ở Đức, đã liệt kê những dấu hiệu khủng hoảng sau đây trong đời sống linh mục:
 
·           Trốn chạy: rượu, chia trí thái quá, ‘giải trí’;
·           Nói huyên thuyên;
·           Thiếu khả năng giữ thinh lặng;
·           Hiếu hoạt thái quá;
·           Nhu cầu khẳng định mình quá cao;
·           Thường xuyên phê bình, có cái nhìn tiêu cực;
·           Khó ngủ;
·           ‘Bất thường’ về tính dục;
·           Khó giao tiếp... cô lập, sợ hãi;
·           Khả năng hành động bị tê liệt;
·           Gắn chặt vào một số mối quan hệ (xem Eilers, 1999, tr. 132).
 
Tất cả những dấu hiệu này là bằng chứng của một sự truyền thông bị méo mó. Phát triển và nâng đỡ sự truyền thông chân chính trong đời sống linh mục và thừa tác vụ có nghĩa trước hết là đối diện với thực tại cuộc đời của chính chúng ta, nhưng cũng có nghĩa là ý thức về các thực tại của những người sống xung quanh chúng ta. Tuy nhiên, rõ ràng một thái độ như thế bắt đầu với thực tại của chính chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng chúng ta đối diện vào những lúc thinh lặng trong kinh nguyện hằng ngày của chúng ta.
 
3. Dạy một Thần học ‘truyền thông’
 
Nếu chúng ta theo Avery Dulles nhìn mọi lãnh vực của thần học như là những cách diễn tả sự truyền thông của Thiên Chúa, việc giảng dạy thần học của chúng ta cũng phải mang chiều kích này. Nó phải bắt đầu với thực tại của đời sống và bao gồm thực tại này, sự truyền thông giữa con người với nhau cũng như thực tại của nền văn hoá truyền thông đại chúng của chúng ta. Nếu truyền thông đại chúng phản ánh thực tại xã hội, và nếu theo Gerbner, chúng là những dấu chỉ xã hội, nghĩa là những dấu chỉ về tình trạng và tình hình của xã hội chúng ta, thì chúng cũng có thể dạy chúng ta điều gì đó về tình hình của những người sống quanh chúng ta và thế giới của họ.
Vì vậy chúng ta phải học biết đánh giá một cách có phê phán ‘văn hoá mới’ này (Redemptoris Missio số 37c) của truyền thông, và điều này đòi hỏi các linh mục và chủng sinh phải có ít là một nền giáo dục cơ bản về các phương tiện đại chúng và truyền thông. Đồng thời họ cũng phải học biết sử dụng các phương tiện này một cách đầy sáng tạo. Do đó chúng ta phải phát hiện và phát triển các tài năng có thể phát sinh từ việc lắng nghe sâu xa (xem số 1) thông điệp Kitô giáo và có khả năng ‘sử dụng’ cả một chuỗi đa dạng các phương tiện hiện đại, gồm cả Internet, vì lợi ích của dân chúng. Chúng ta cần có các linh mục và chủng sinh theo mẫu truyền thông Kitô giáo để họ mở rộng lòng ra với thông điệp và nhờ đó trở thành những sứ giả đương đại cho Lời của Thiên Chúa.
 
4. Chứng tá đời sống
 
Sau cùng, chính chứng tá đời sống của chúng ta là cái truyền thông nhiều nhất cho dân chúng. Một giám mục xây một dinh thự trị giá nhiều triệu đôla giữa khu dân cư nghèo đói bần cùng sẽ là một phản chứng tá cho đức tin chúng ta.
Không phải vô lý khi Đức Phaolô VI trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi đã nhấn mạnh ít là ba lần về nhu cầu làm chứng tá. Trong danh sách các phương tiện Rao giảng Tin Mừng, ngài đặt chứng tá lên số một.
Con người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy, và nếu họ có nghe các thầy dạy, thì đó là vì những người này là những chứng nhân. Thánh Phêrô đã diễn tả rất hay điểm này khi ngài nêu lên gương sáng của một cuộc đời đáng kính và trong sạch không cần nói lời nào mà vẫn có thể chinh phục được những người không tin Lời Chúa (xem 1P 3:1). Vì vậy, chủ yếu nhờ hạnh kiểm và đời sống của mình mà Hội Thánh sẽ có thể rao giảng Tin Mừng cho thế giới, nói khác đi, nhờ sống chứng tá lòng trung thành của mình với Chúa Giêsu―chứng tá về nghèo khó và từ bỏ, về tự do trước các quyền lực của thế gian này, tóm lại, chứng tá về sự thánh thiện.” (Số 41).
Hội Thánh là một tổ chức công cộng và vì thế không thể tránh khỏi bị để ý hay phê phán. Với mọi linh mục cũng thế. Họ là một nhân vật công cộng. Họ không thể tránh khỏi người ta nhìn và phê phán và từ đó phát sinh các thái độ mà có thể được kích thích bởi chính linh mục. Nếu linh mục cởi mở và giỏi giao tiếp, thì những người sống quanh họ cũng sẽ tỏ ra một thái độ giống như thế. Nếu linh mục là một người truyền thông đích thực, những người sống quanh họ cũng sẽ truyền thông với họ.
Đây chỉ là một số hậu quả cần phải xét đến cho việc đào luyện truyền thông trong thừa tác vụ linh mục. Một sự đào luyện như thế phải là toàn diện và đồng thời đặt nền vững chắc trên linh đạo sâu xa của cá nhân và cộng đồng. Sự đào luyện này cố gắng nhìn và xử lý các thực tại cá nhân và cộng đồng, và phát huy một sự sáng tạo có thể được diễn tả qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông đương đại, là những cái ngày càng ảnh hưởng mạnh trên xã hội.
 
Nguồn tham khảo
 
Franz Berger/Harald Gleissner: Das Pauluspreinzip. Die erfolgreichste Marketingstrategie der Weltgeschichte. Muenchen (Econ) 1998.
Avery Dulles: The Craft of Theology. From Symbol to System. Dublin (Gill & MacMillan) 1992.
Franz-Josef Eilers: Communicating in Community. An Introduction to Social Communication. Manila (Logos/Divine Word) 1994. Third Edition 2002.
Church and Social Communication. Basic Documents. Manila (Logos/Divine Word) 1997. Supplement I 1998-2002. Manila 2002.
― Priestly Spirituality. Treasure and Experiences. Manila (Logos/Divine Word) 1999.
Bernhard Haering: Free and Faithful in Christ. Moral Theology for Priests and Laity. Vol. 2. Middlegreen (St. Paul) 1979.
Bernard Lonergan: Method in Theology. New York (Herder) 1972.
Carlo Martini: Communcating Christ to the World. Kansas (Sheed and Ward) 1994. Philippine Edition, Manila (Claretians) 1996.
Fran Plude (ed.): Communication Theology. Thematic edition of: Catholic International, The Documentary Window to the World. Baltimore, MD Vol. 12,4; November 2001.
 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm