Danh mục bài viết

Cập nhật 12/5/2019 - 15:32 - Lượt xem 2584

Thứ Hai tuần 4 Phục Sinh

"Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên".

 

Tin Mừng: Ga 10, 1-10

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ".

Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào".

 

Suy niệm:

1. Tôi đến để chiên được sống- Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Trong Tin Mừng Gioan, 
Ðức Giêsu thường ví mình với điều cụ thể: 
“Tôi là bánh, là Ánh Sáng, là Ðường...” 
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài ví mình như Mục tử. 
Người mục tử chân chính đi qua cửa mà vào chuồng chiên. 
Anh gọi chiên của anh bằng một tiếng gọi riêng, 
chiên nhận ra tiếng của anh và đi theo. 
Còn mục tử giả hiệu thì trèo tường mà vào chuồng. 
Chiên không theo anh ta, nhưng sợ hãi chạy trốn, 
vì chúng không nhận biết tiếng người lạ. 
Ðức Giêsu gọi những mục tử giả hiệu là trộm cướp. 
Họ chỉ đến để giết hại và phá hủy đàn chiên. 
Còn Ngài đến để chiên được sống, và sống dồi dào. 
Giữa chiên và Ngài có một mối dây thân thiết: 
“Tôi biết chiên tôi và chiên tôi biết tôi.” 
Chiên đã trở thành điều vô cùng quý giá đối với Ngài, 
đến nỗi Ngài dám hy sinh mạng sống mình cho chúng. 
Giáo Hội muốn đặc biệt dành Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh, 
để cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, tu sĩ. 
Ðây là vấn đề sống còn của Giáo Hội. 
Nhiều nơi trên thế giới đang thiếu linh mục trầm trọng, 
nhiều nhà thờ phải giao cho giáo dân coi sóc. 
Cũng có những dòng tu phải đóng cửa cơ sở của mình 
vì không có lớp người trẻ kế tục. 
Giáo Hội hôm nay cũng như mai ngày 
vẫn cần đến sự hướng dẫn của các mục tử 
để đoàn chiên được sống trong đồng cỏ xanh tươi. 
Giáo Hội vẫn cần đến các tu sĩ sống đời thánh hiến, 
để thế giới hiểu được thế nào là tình yêu, 
thấy được những thực tại vô hình, 
và vươn lên khỏi cái tự nhiên, bình thường, hợp lý. 
Ðược làm Kitô hữu là một ơn gọi của Thiên Chúa. 
Mọi Kitô hữu đều có nhiệm vụ làm chứng cho Tin Mừng, 
nhưng một số người được mời gọi đặc biệt 
để dấn thân cách trọn vẹn hơn cho Nước Chúa 
và bắt chước Ðức Giêsu tận căn hơn. 
Chúng ta băn khoăn trước câu hỏi 
tại sao Giáo Hội hôm nay thiếu ơn gọi linh mục, tu sĩ. 
Vì đời tu không hấp dẫn người trẻ? 
Vì bầu khí của thời đại: thực dụng, hưởng thụ, 
Mất cảm thức về đức tin, xa lạ với Thiên Chúa? 
Hay vì chúng ta chưa có can đảm để cổ võ ơn gọi? 
Trong sứ điệp năm 1996 về ơn gọi, 
Chân phước - giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc đến việc phải chăm lo cho mảnh đất 
nơi hạt giống ơn gọi được nảy mầm và lớn lên. 
Mảnh đất đó là cộng đoàn giáo phận và giáo xứ. 
Ngài đã phác họa những nét chính của cộng đoàn này như sau: 
Một cộng đoàn biết lắng nghe Lời Chúa. 
Khi đã quen nghe tiếng Chúa trong Thánh Kinh, 
người trẻ sẽ dễ nghe được tiếng Chúa mời gọi 
vang lên từ sâu thẳm của con tim mình. 
Một cộng đoàn biết chuyên tâm cầu nguyện, 
dành ưu tiên cho đời sống tâm linh, 
coi trọng việc cầu nguyện riêng tư, lặng lẽ trước nhan Chúa. 
Chỉ trong bầu khí trầm lặng của cầu nguyện, 
người trẻ mới dám đáp lại tiếng Chúa kêu mời, 
quên mình để phục vụ cho lợi ích của tha nhân. 
Một cộng đoàn biết hăng say làm việc tông đồ, 
khao khát làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa. 
Từ đó những bạn trẻ quảng đại sẽ được thúc đẩy 
dâng trọn đời mình để làm cho Chúa Kitô được nhận biết. 
Một cộng đoàn quan tâm phục vụ người nghèo, 
chọn đứng về phía những người khổ đau, túng thiếu. 
Cộng đoàn này sẽ sản sinh những bạn trẻ 
biết phục vụ vô vị lợi và hiến thân vô điều kiện. 
Như thế ơn gọi chỉ nảy nở từ vùng đất màu mỡ. 
Nó là hoa trái của một Giáo Hội đầy sức sống. 
Một Giáo Hội mạnh mẽ sẽ cho nhiều ơn gọi. 
Nhiều ơn gọi sẽ làm cho Giáo Hội mạnh hơn. 
Giới trẻ hôm nay không thiếu lòng quảng đại, 
không thiếu lý tưởng và những ước mơ cao cả. 
Họ cần có ai đó giúp họ gặp được Ðức Giêsu, 
say mê con người Ngài, 
và chia sẻ nỗi bận tâm của Ngài về thế giới. 
Họ cần có ai đó giúp họ nghe được tiếng kêu 
của bao người đói khát chân lý và công lý, 
giúp họ cảm nhận được bổn phận lớn lao 
là xây dựng trái đất thành mái ấm yêu thương. 
Giới trẻ cần những người thầy, người bạn 
dám sống điều mình tin giữa muôn vàn khó khăn 
và giúp họ đứng vững trước cơn lốc của cám dỗ. 
Giáo Hội thiếu ơn gọi là do lỗi của mỗi người chúng ta. 
Cần phải cầu nguyện 
và cũng cần phải canh tân cuộc sống. 

Lạy Chúa Giêsu, 
xin ban cho chúng con những linh mục 
có trái tim thuộc trọn về Chúa, 
nên cũng thuộc trọn về con người. 
Xin cho chúng con những linh mục 
có trái tim biết yêu bằng tình yêu hiến dâng, 
một trái tim đủ lớn 
để chứa được mọi người và từng người, 
nhất là những ai nghèo khổ, bị bỏ rơi. 
Xin cho chúng con những linh mục biết cầu nguyện, 
có tình bạn thân thiết với Chúa 
để các ngài giới thiệu Chúa cho chúng con. 
Xin cho chúng con những linh mục thánh thiện, 
có thể nuôi chúng con bằng tấm bánh thơm tho, 
tấm bánh Lời Chúa và Mình Chúa. 
Cuối cùng, xin cho chúng con những linh mục 
có trái tim của Chúa, 
say mê Thiên Chúa và say mê con người, 
hy sinh đời mình để bảo vệ đoàn chiên 
và dẫn đưa chúng con 
đến với Chúa là Nguồn Sống thật. Amen. 

 

2. Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên

“Ta là cửa chuồng chiên” (c.9). Nói tới chữ cửa ai ai cũng quen thuộc và dễ hiểu. Cửa mở là dấu để người ta qua lại, ra vào tự do. Ra vào tự do có nghĩa là bình an vô sự (cf. Ds 27,17. Đnl 31,2. 1Sm 17,16). Cái cửa diễn tả sự đón tiếp (Gb 31,32), cửa còn diễn tả một sự chờ đợi sẵn sàng tiếp đón ai (1C 16,19). Còn cửa đóng là để ngăn ngừa một sự qua lại, một sự bảo vệ nào đó (Gio 20,19), hoặc biểu lộ một sự từ chối (Mt 25,10). Vì thế cửa bao hàm một ý nghĩa lựa chọn.

Tân ước nhiều lần đề cập đến chữ cửa này ở bình diện siêu nhiên. Chẳng hạn khi chịu phép Rửa ở sông Giodan chín tầng trời mở ra và chính Ngài trở nên của trời đích thật xuống với trần gian (Gio 1,51. Stk 28,17). Người là cửa dẫn vào đồng cỏ tươi có Thiên Chúa ban ơn lành dồi dào (Gio 10,9). Người là đấng trung gian duy nhất, nghĩa là nhờ Người mà loài người đến được cùng Thiên Chúa Cha (Eph 2,18. Dt 10,19). Chúa Giêsu đã ví nước trời có cửa mà Ngài trao chìa khóa cho thánh Phêrô (Mt 16,19) mà đường đi vào đó là một lối đi phải lách qua một cánh cửa hẹp là sự hoán cải (Mt 7,13. Lc 13,24), là đức tin (Sđcv 14,27. Eph 3,12) và những ai là sẵn sàng thì cửa ấy đóng lại (Mt 25,10). Sách Khải huyền diễn tả nước Trời có 12 cửa, dẫn vào phòng tiệc (Kh 21,12-27.22,14-15). Đó là ý nghĩa của chữ cửa trong Kinh thánh mà Chúa Giêsu đã dùng mà ám chỉ chính Ngài khi nói “Ta là cửa chuồng chiên” (c.9).

Người Do thái sống nghề chăn chiên nên chuồng chiên nhan nhản khắp xứ. Đấy là một hàng rào hình chữ hhật hoặc hình vuông dùng để nhốt chiên thuộc nhiều bầy, nhiều đàn khác nhau về ngủ ban đêm. Đêm đến, có người canh giữ chuồng chiên, tảng sáng thì chủ hoặc người chăn thuê đến tìm chiên. Người canh kia mở cửa cho chủ đó. Người chủ dùng tù và hoặc tiếng kêu riêng để gọi chiên của mình, dẫn vật ra đi từng con qua một cánh cửa hẹp, trong lúc đó người chăn chiên dùng gậy đếm từng con hoặc xem xét sức khỏe từng con. Khi chiên ra khỏi chuồng, người mục tử đi trước và dẫn chúng đến đồng cỏ xanh tươi , có suối nước để uống và tắm mát.

Như vậy, chúng ta thấy chuồng chiên chỉ có một cửa mà thôi, cho nên khi Chúa Giêsu tự xác nhận “ta là cửa chuồng chiên”, Chúa muốn nói lên chân lý Ngài là cửa duy nhất đặc điểm vào nước trời. Cũng như chính Ngài đã xác nhận: “không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Gio 14,6). Chính thánh Phaolô cũng quả quyết chỉ có một nền tảng duy nhất là đức Kitô. Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một phép rửa”.

Chúa nói: “Ta là cửa chuồng chiên”: chuồng chiên của Ngài là Giáo hội được vây tư  bề bằng các giới răn và lề luật. Tuy buổi đầu có vẻ chật hẹp nhưng là lối dẫn về nước trời bao la mai sau. Ngay ở trần gian này họ đã được tái sinh bởi nước và Thánh Thần (Gio 3,3-5), được sự thật bang trợ cứu rỗi  (3,16-17), được nên như con cái trong nhà (8,34-44) và họ sẽ tìm được thức ăn thỏa là bánh Chúa nước hằng sống (6,35).

Chúa Giêsu là mục tử nhân hậu, đức độ, tha thứ, yêu thương, đến thí mạng mình để nuôi sống bầy chiên. Còn tình yêu nào hơn thế nữa ? Thiên Chúa vẫn cứ tiếp tục mối ưu tư duy nhất của Ngài là nuôi bầy chiên sống và dẫn chúng về trời. Chúng ta có bằng lòng ở lại trong bầy chiên của Ngài để được Ngài che chở bang trợ và đưa vào nước trời không ?

 

3. Những mục tử mới. 

Khi nói về mục vụ trong Giáo hội, ta dễ dàng quên rằng mình dùng một hình ảnh khá xa lạ đối với phong tục của chúng ta, dù là ở thôn quê hay thành thị, và hoàn toàn được vẽ theo những hình tượng rất giả tạo và sai lầm: người mục tử tóc quăn đầu mềm mại gục xuống, dựa vào con chiên bệnh hoạn được quấn quanh cổ mình... Trong khi đó người chăn chiên thực sự vùng thảo nguyên phương đông phải là một con người cứng cáp, có khả năng đi bộ không bao giờ mệt mỏi trước đàn chiên và ngủ ngoài trời qua những đêm nhiều khi rất lạnh, một con người dũng cảm và táo bạo để bảo vệ đàn chiên chống lại chó sói, chồn, và xưa kia là sư tử, một người tài tình có khả năng tìm ra những đồng cỏ và nơi trú ẩn thích hợp. Vì điều lý tưởng không phải là một vòng rào vững chắc, mà là một người chăn chiên đích thực biết yêu thương đàn chiên mình, đặt cho chúng những cái tên mà chúng nhận ra, và không muốn mất đi một con nào, dù phải hy sinh mạng sống.

Không, không bao giờ được quên nguồn gốc của những từ “mục tử” và “mục vụ” để hiểu được Chúa là gì đối với chúng ta và chúng ta là gì đối với Ngài. Hãy một lần dứt khoát gạt đi những liên hệ mang chất hạ thấp đối với đàn chiên và bầy cừu, thường là biểu tượng cho sự thụ động và rập khuôn? Hãy bỏ đi tất cả những gì mà chữ mục tử có thể gợi lên theo hình ảnh một nhà độc tài hay một con chó giữ nhà ? Hãy đi thẳng vào điều chính yếu trong việc làm của Chúa và những người Ngài sai đi: qui tụ con người trong sự hiệp thông huynh đệ, nơi mà Thần Khí làm cho tình yêu ngự trị. Tốt hơn ta hãy nói về người qui tụ, một người không ao ước cai trị và huênh hoang, nhưng chỉ mong phục vụ.

Sống với tư cách mục tử, làm việc với tư cách mục tử, ấy là cùng nhau phục vụ con người cụ thể trong một hoàn cảnh cần sự hiện diện của Chúa Kitô Cứu Thế, của Phúc âm và Giáo hội Ngài. Theo hình ảnh của dụ ngôn, điều này chỉ thực hiện được trong một bầu không khí tin tưởng nhau, hiểu biết nhau. Dùng mánh khoé mà chiếm đoạt con chiên - ở đây, Chúa Giêsu trả lời cho các biệt phái ganh tức vì những phép lạ và danh tiếng của Ngài - ấy là hành động không màng gì đến người khác, không ở trong sự thật. Ngài là người mục tử đích thực hơn là người mục tử hiền lành theo nghĩa tinh thần; lòng trung tín của Ngài đối với vai trò mà Cha giao phó đã làm cho Ngài trở nên người duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu của những ai khao khát sự sống đích thực; chỉ có Ngài mới là cửa chuồng chiên mở ra trên đồng cỏ đời đời. 

 

4. Cuộc sống sủa đoàn chiên

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hướng về Chúa Kitô Phục sinh như vị chủ chăn nhân lành chăm sóc chu đáo từng con chiên của mình.

Cuộc sống của người môn đệ trên trần gian không phải là cuộc sống dễ dãi thoải mái, nhưng Chúa Giêsu đã so sánh đó là cuộc sống của đàn chiên giữa bầy sói, sẽ có thời sói dữ đến là cho đàn chiên tan tác.

Theo tâm thức thường tình trong xã hội, càng có liên hệ với những người chức quyền, thì địa vị của con người càng được bảo vệ. Đối với người ki tô hữu, vì là con cái Thiên Chúa và đã được Chúa Ki tô cứu chuộc bầng chính mạng sống Ngài, họ có một mối hên hệ sâu sắc, không phải với con người ai là với Thiên Chúa. Thế nhưng mối liên hệ này không miễn chuẩn cho người ki tô hữu những thử thách, bách hái. Chúa Giêsu không hứa cho các môn đệ một cuộc sống lợi lộc, nhưng Ngài cảnh giác họ: người ta đã đối xử với Thầy như thế vậy thì cũng đối xử với các con như vậy. Người ta đã bắt bớ Thầy thì cũng sẽ bắt bớ các con. Các con sẽ bị điệu ra trước tòa  Danh Thầy, nhưng ai bền chí đến cùng thì sẽ được cứu rỗi .

Chúa Giêsu cũng không hứa sự dễ dãi, nhưng hứa sẽ hiện diện và chăm sóc các môn đệ của Ngài:  Các con đừng sợ Thầy Ơû với các con mọi ngày cho đến tận thế.

 

5. Cửa chuồng chiên

Thấy người Do Thái không lãnh hội được ý nghĩa về người chăn chiên, Chúa Giêsu nói rõ hơn: “ta là cửa chuồng chiên”. Tại vùng Palestina  có nhiều người sống bằng nghề chăn chiên và thường có những chuồng chiên chung. Mỗi tối, họ lùa chiên vào qua một cửa duy nhất và chỉ những người chăn chiên thật mới lùa qua cửa này. Ai không qua cửa mà vào là quân trộm cướp.

Chúa Giêsu không những là người chăn chiên nhân lành mà còn là cửa chuồng chiên. Qua cửa mà vào, chiên sẽ tìm được của nuôi thân. Tuy nhiên, đứng trước cửa, chiên luôn có những thóang giây ngần ngại. Chiên không muốn vào vì còn luyến tiếc những giây phút thảnh thơi chạy nhảy, nhưng chiên đâu biết rằng sau những giây phút ngắn ngủi ấy, bóng tối sẽ ập đến sói dữ sẽ vồ xé. Thiên không muốn vào vì còn quyến luyến bầu trời nhưng chỉ một lát nữa khi mặt trời ngả bóng, bầu trời sẽ trở nên âm u lạnh giá. Chiên không muốn vào vì bên trong cửa không có gì hấp dẫn, vì tưởng rằng còn có những  cửa khác thoải mái hơn.

Chuồng chiên chỉ có một cửa duy nhất. Cửa chuồng chiên vẫn có đó và rộng mở để mời đón. Cửa buồn lòng khi thấy chiên không muốn vào để phải chịu cạnh lạnh giá hoặc rơi vào nanh vuốt của sói dữ. Cửa buồn lòng nhưng không biết làm gì hơn là nhẫn nại đợi chờ.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chùng ta bước qua cửa chuồng chiên là chính . Đức Kitô để tìm được của tôi thân và được sống đời đời. Nhưng, để bước qua cửa, chúng ta phải sẵn sàng bỏ lại những gì là dễ dãi cho bản tính tự nhiên, những gọi là hấp dẫn chóng qua, vì biết rằng bên trong cửa, chúng ta sẽ tìm được nơi ẩn náu an toàn và dược hạnh phúc mãi mãi.

 

6. Mục tử nhân lành

Hình ảnh mục tử và đàn chiên là một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do thái lúc bấy giờ, vì nguồn gốc của họ là một dân du mục làm nghề chăn nuôi. Trong bài Tin Mừng hôm nay có một ít chi tiết khá quan trọng cần được tìm hiểu để nắm bắt được lời dạy của Đức Giêsu.

- Tôi là mục từ nhân lành: nhân lành là một phẩm tính của Thiên Chúa: sao anh bảo tôi là nhân lành, chỉ có một Đấng nhân lành là Thiên Chúa. Hôm nay Chúa lại gán phẩm tính ấy cho mình, tức là cách gián tiếp, Chúa Giêsu tỏ mình ra la Thiên Chúa. Bầy chiên mà Chúa Giêsu muốn nói đến đây là dân Israel, và mục tử duy nhất là Thiên Chúa. 

- Mục từ nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Chúa Giêsu nói về cái chết của Chúa sắp tới: chết cho dân, cái chết cứu chuộc, một cái chết vì muốn chống lại sói dữ là ma quỉ, một cái chết giải phóng. Việc hy sinh mạng sống mình cũng là dấu chỉ của sự nhân lành của Chúa: Có tình thương nào cao trọng hơn tình thương của kẻ hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu?

- Tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi 

Chữ “biết”trong Kinh Thánh có một ý nghĩa đặc biệt, như vợ chồng biết nhau: Abraham đã biết Sara và đã sinh ra Isaac : biết không chỉ là hiểu rõ nhau mà còn là thương yêu nhau và thuộc về nhau. Vì thế khi Môsê muốn biết Thiên Chúa hiện ra với ông trong bụi gai bốc lửa, thì Thiên Chúa chỉ trả lời: Ta là Ta, vì làm sao con người biết Thiên Chúa trong nghĩa Thiên Chúa thuộc về con người được.

Ở đây Chúa Giêsu nói: Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta: vì những ai tin Người thì thuộc về Người; đàng khác, Người đến thế gian để tỏ mình ra cho con người. Người vừa là con người cũng là Con Thiên Chúa. Vì thế mà Chúa Giêsu đã dùng chữ biết ở đây là rất đúng. Và kể từ đó, con người ở trong vòng thân mật của Thiên Chúa, trở nên con của Thiên Chúa.

Sau khi phân tích được như thế, ta mới thấy rõ hơn mối liên hệ chặt chẽ giữa Chúa Giêsu và người Kitô hữu, cũng như với Hội Thánh, đồng thời cũng cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta, gắn bó, thâm tình biết chừng nào.

Tôi có những chiên khác không thuộc về đàn này,

Chúa muốn nói đến dân ngoại, những ai tin theo Chúa đều là chiên của Chúa. Sau nầy trong bài đọc I hôm nay, sách Công vụ viết: Hồi ấy các tông đồ và các anh em ở Giudê nghe tin cả dân ngoại cũng đã đón nhận lời Thiên Chúa. Đàn chiên mới, dân mới của Chúa là Giáo hội, không phân biệt sắc tộc, màu da hay điạ lý.

Chiên của tôi biết tôi :

Lạy Chúa Giêsu nếu chữ biết theo nghĩa của Kinh Thánh trên đây, thì đối với phần đông chúng con, chưa dám nói là chúng con đã biết Chúa, vì chúng con chưa hẳn đã ý thức chỗ đứng quan trọng của Chúa trong đời sống, cũng như chưa yêu mến và thuộc về Chúa như Chúa muốn. Chiên tôi thì nghe tiếng tôi ; nhưng nhiều khi tuy là chiên của Chúa mà chúng con lại ít nghe tiếng Chúa hơn nghe những lời mời gọi của thế gian. Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ cho chúng con.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm