Danh mục bài viết

Cập nhật 30/4/2019 - 3:53 - Lượt xem 3552

Thứ Tư tuần 2 Phục Sinh

"Thiên Chúa đã sai Chúa Con đến để thế gian nhờ Người mà được cứu độ".

 

Tin Mừng: Ga 3, 16-21

Khi ấy, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

 

Suy niệm:

1. Thiên Chúa yêu thế gian- Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Khi nghĩ về Thiên Chúa, người ta hình dung ra Ngài với nhiều khuôn mặt. 
Có khi Thiên Chúa giống một ông cảnh sát, luôn để ý theo dõi để trừng phạt, 
hay như một quan tòa cứ theo pháp luật mà kết án nghiêm minh. 
Có khi Thiên Chúa giống một nhà buôn, tính toán sòng phẳng, 
chỉ ban ơn khi nhận được một lợi lộc nào đó, có qua có lại. 
Có khi Thiên Chúa giống một nhà độc tài, áp đặt quyền lực trên con người, 
không cho con người được tự do, bắt con người phải theo một định mệnh có sẵn. 
Có khi Thiên Chúa như một thứ ô dù để người ấu trĩ dựa dẫm trong lúc khó khăn, 
hay như một sản phẩm của người bị áp bức tự ru ngủ mình. 
Có bao nhiêu hình ảnh méo mó về Thiên Chúa như vậy. 
May mắn đó không phải là khuôn mặt Thiên Chúa của các Kitô hữu. 
Ngài chẳng phải là cảnh sát hay quan tòa, là nhà buôn hay nhà độc tài. 
Ngài cũng chẳng phải là người cha độc đoán không muốn cho con mình khôn lớn. 
Đơn giản Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 8). 
Và Tình Yêu vô lượng ấy được thể hiện bằng hành động: 
“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (c. 16). 
Tình yêu của Thiên Chúa Cha ôm lấy thế gian, dù nó nghiêng chiều về sự dữ. 
Như Abraham yêu quý đứa con một là Isaac, và đã chịu sát tế con cho Chúa, 
Thiên Chúa Cha cũng yêu quý người Con Một của Ngài là Đức Giêsu, 
và đã trao ban người Con ấy cho thế gian. 
Cha trao ban Con khi sai Con vào đời mang thân phận xác phàm (Ga 1, 14). 
Cha còn trao ban Con cho thế gian qua cái chết của Con trên thập giá. 
Nơi máng cỏ Bêlem hay nơi đồi Sọ, 
ta thấy Cha đưa hai tay ra để trao món quà tình yêu quý giá nhất cho loài người. 
Và Cha chờ con người đáp lại bằng cách đưa hai tay đón nhận. 
Con người vẫn có tự do để đón nhận hay từ chối món quà ấy 
qua việc tin hay không tin Đức Giêsu. 
Đứng trước Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, 
là đứng trước một chọn lựa nghiêm chỉnh có liên quan đến vận mệnh con người. 
Ai tin vào Ngài thì có ánh sáng, ơn cứu độ và sự sống vĩnh cửu (cc. 16.17.19). 
Tiếc thay có kẻ ghét ánh sáng và thích bóng tối hơn ánh sáng. 
Hãy từ bỏ những việc làm tối tăm, dối trá, xấu xa, 
bạn sẽ dễ dàng đến cùng ánh sáng Giêsu. 

Lạy Chúa Giêsu, 
ánh sáng và bóng tối thì dễ phân biệt, 
còn bóng mờ thì khó nhận ra hơn. 
Con đã mạnh dạn khước từ bóng tối 
nhưng khi nhìn thật sâu vào lòng mình, 
con vẫn thấy có nhiều bóng mờ tác động. 
Con an tâm ở lại trong bóng mờ, 
vì thấy đó chưa phải là một tội. 
Nhưng con cũng áy náy 
vì biết rằng bóng mờ là nơi 
ánh sáng Chúa chưa thấm nhập trọn vẹn. 
Con không muốn bóng mờ thành ánh sáng, 
vì con vẫn muốn giữ lại 
một điều gì đó rất quý đối với con. 
Xin giải phóng con khỏi những tình cảm lệch lạc 
để con được tự do yêu mến và phụng sự Chúa hơn. 
Xin chinh phục những bóng mờ trong lòng con 
để con được thuộc trọn về Chúa. 
Xin kéo con ra khỏi thái độ lấp lửng, nước đôi, 
để dứt khoát đặt Chúa trên mọi sự. 
Ước gì con có đủ can đảm để dám nhìn thẳng 
vào những bóng mờ trong đời con. 
Và ước gì con được trở nên trong suốt 
nhờ để ánh sáng Chúa 
tràn ngập mọi vùng mờ tối nơi con. Amen. 

 

2. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU- Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Khi yêu nhau, người ta có thể làm mọi việc vì nhau và cho nhau. Họ sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của người mà họ thương để mong sao người yêu được hài lòng. Như vậy, yêu là chấp nhận tất cả vì người mình yêu. 

Thiên Chúa cũng vậy, Người yêu thương con người bằng một tình yêu trọn vẹn. Vì thế, Người chấp nhận tất cả để cho con người được hạnh phúc. 

Điều này đã được Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta biết khi nói: 

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(Ga 3, 16). Đây là một mạc khải quan trọng, cốt lõi, vì nó tóm gọn nội dung của Tin Mừng.

Mạc khải này vượt lên trên những suy tư triết học hay lý luận của con người, bởi vì chỉ nhờ mạc khải của Đức Giêsu, Ngài là Con Một Thiên Chúa, Đấng từ Thiên Chúa mà đến và là hiện thân của tình yêu mới giúp cho chúng ta hiểu thấu được.

Thật vậy, thế gian là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, vì thế, Người không chỉ yêu thương có một lần trong quá khứ, nhưng Ngài vẫn còn yêu thương luôn mãi, Qua cuộc đời nhập thể làm người của Đức Giêsu, nhất là nơi cái chết và sự phục sinh của Ngài, Đức Giêsu đã thể hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với con người cách trọn vẹn. Nhưng không chỉ có thế, Đức Giêsu tiếp tục hiện diện với con người trong suốt dòng lịch  sử, nhất là qua các Bí tích, để làm bảo chứng tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại. 

Ước gì chúng ta luôn cảm nhận và tin tưởng vào tình thương của Chúa, và sẵn sàng đi trên cùng một con đường yêu thương mà Thiên Chúa đã đi.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin ban cho chúng con mặc lấy tâm tình của Chúa, để chúng con sống và làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa ngay trong cuộc sống của chúng con hằng ngày. Amen.

 

3. Ði Rao Giảng Tin Mừng

Câu đầu tiên của đoạn Phúc Âm hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại tình trạng tinh thần của các tông đồ lúc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến và trao cho họ sứ mạng làm chứng cho Chúa. Tình trạng đó là tinh thần của nhóm mười một trước và liền sau biến cố Vượt Qua. Các ông chậm hiểu hay chưa hiểu gì về mầu nhiệm Vượt Qua, mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa Giêsu.

Hơn nữa, sau khi Chúa đã sống lại và đã hiện ra cho một số đồ đệ để những người này loan báo tin vui Chúa sống lại cho các ông, thì các ông còn cứng lòng không tin, đến độ bị Chúa khiển trách. Phúc Âm ghi lại cho chúng ta như sau: "Sau cùng, Chúa Giêsu Phục Sinh tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng. Bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người phục sinh". Các tông đồ còn có thái độ tiêu cực như vậy. Mặc dù đã theo Chúa ngay từ đầu và đã được Chúa huấn luyện đặc biệt hơn dân chúng trong suốt thời gian sống bên cạnh Chúa.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không thất vọng, không bỏ đi chương trình cứu rỗi nhân loại, không rút lại những gì Chúa muốn các ngài thực hiện, vì thế, Chúa ra lệnh cho các tông đồ và cho những ai tiếp tục sứ mạng của Ngài trong dòng thời gian:

"Hãy ra đi rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Hãy làm chứng cho Chúa khắp nơi", đây là sứ mạng quan trọng nhất liên quan đến tương lai của Giáo Hội Chúa trong lịch sử nhân loại. Sứ mạng được cô đọng lời Chúa Giêsu cho các tông đồ như sau: "Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ. Còn ai không tin thì sẽ bị kết án". Chúa Giêsu Phục Sinh đã không ngần ngại trao phó cho những con người bất toàn một sứ mạng rất cao cả. Chúa tỏ cho thấy Người cần đến sự cộng tác của con người phàm trần, có và còn rất nhiều khuyết điểm để thực hiện sứ mạng cứu rỗi. Những khuyết điểm của những con người đã được tuyển chọn, không thể làm hư chương trình của Người.

Nơi các Phúc Âm khác, chúng ta biết thêm là Chúa ban Thánh Thần xuống trên các tông đồ để biến đổi các ông thành những con người mới, xứng đáng hơn với sứ mạng. "Các con sẽ lãnh nhận Chúa Thánh Thần và sẽ làm chứng cho Thầy". Phần thánh sử Marcô, thì ngài tóm gọn thái độ đáp trả của các tông đồ nơi câu cuối cùng của sách Phúc Âm của ngài như sau: "Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng".

Hiện tại và tương lai của Giáo Hội Chúa được xây dựng trên kinh nghiệm sống căn bản trên. Chúa luôn hoạt động với các ông, với những ai Người đã chọn và trao cho sứ mạng. Chúng ta hãy tin tưởng, vâng phục và ra đi chu toàn sứ mạng theo Lời Chúa dạy.

Lạy Chúa, nhờ lời khẩn cầu của thánh sử Marcô mà Giáo Hội mừng lễ hôm nay, xin thương biến đổi mỗi người chúng con trở thành những tông đồ, những cộng tác viên xứng đáng và trung thành của Chúa trong mọi hoàn cảnh.

 

4. Ánh sáng đã đến thế gian

“Sự sáng đã đến trong thế gian, nhưng thế gian yêu thích tối tăm hơn sự sáng” (c.19)

Aùnh sáng là một vật rất gần gũi và quen thuộc với con người. Aùnh sáng rất cần thiết. Có thể nói không có sự sống. Từ thảo mộc đến con người không có ánh sáng đều chết. Aùnh sáng làmcho con người thấy được nhau, thấy được đối vật, thấy được màu sắc. Người ta dùng ánh sáng để soi sáng như đèn pha, đèn hải đăng. Người ta dùng ánh sáng để chữa bệnh và thay thế cho nhiên liệu xăng nhớt. Bấy nhiêu ý nghĩa nói lên ánh sáng là cần thiết.

Trong lãnh vực siêu nhiên, Chúa Giêsu cũng nói đến sự cần thiết phải có Ngài. Ngài nói: “Ta là ánh sáng của thế gian” (Gio 8,12,5), và Chúa cũng nói: “chúng con là ánh sáng của thế giới” (Mt 5,14). Thánh Phaolô bảo: “giữa trần gian u tối anh em phải chiếu sáng lên như những vì sao trên vòm trời” (Ph 2,14-15). Thiên Chúa là nguồn sáng, con cái Ngài là thứ gương phản chiếu ánh sáng đó. Với ánh sáng thật, chúng ta sẽ thấy được bộ mặt thực của đối vật. Nếu như chúng ta quay lưng lại với ánh sáng thì không chỉ là bóng tối mà còn che khuất lối đi của nhiều người khác đang mò mẫm tìm ra ánh sáng nữa.

Aùnh sáng lúc nào để cần thiết thật đấy, nhưng cũng có khi chúng ta chán ghét tối tăm hơn ánh sáng. Chẳng hạn như bị đau mắt. Và Kinh thánh nói “Thế gian ưa thích tối tăm hơn ánh sáng vì việc làm xấu xa” (c. 19), là việc dữ. Phải rồi, đời sống luân lý, đức tin chúng ta sa lầy, đó là quay lưng lại ánh sáng và đó là chắn lối anh em đi vào nước trời (Mt 23,13), đó là thích bóng tối bóng đêm.

Đây là một thực tại lưỡng diện. Đêm được Kinh thánh mô tả là kinh hoàng như sự chết. Đêm tối là lúc xuất hiện ác thú (Tv 104,20), là lúc của ôn dịch tăm tối (Tv 91,6), là lúc của sự thù ghét, ngoại tình, trộm cướp, giết người (Gb 24,13-17). Thánh Giop nguyền rủa ngày ông sinh ra, ông ước mong được ẩn mình trong đêm tối của lòng mẹ (3,3-10). Tiên tri Isai xin “Ban đêm linh hồn tôi ước mong Chúa để Ngài đến phán xét tôi” (26,19.Đn 12,2).

Trong Tân ước, Chúa Giêsu bị bắt trong một đêm (Mt 26,47). Đấy cũng là đêm mà Giuda phản bội đắm chìm  (Gio 13,30) và các môn đệ sa ngã bỏ trốn (Mt 26,31). Cũng chính ban đêm mà có dụ ngôn trộm đến bất ngờ (Lc 12,39)... Chúa nói đêm đến không ai làm việc nữa... Đêm đến không ai đi lại nữa, có lẽ đi sẽ vấp ngã vì không còn ánh sáng” (Gio 11,10).

Một khi không còn ánh sáng của Chúa, chúng ta dám làm bất cứ thứ tội ác nào, coi trời bằng vung. Ngược lại, có ánh sáng Chúa, chúng ta sẽ có niềm hy vọng. Thánh Phaolô thường nhắn nhủ chúng ta là con cái sự sáng phải sinh ra hoa quả sự sáng. Hoa quả sự sáng là việc lành, sự công chính và sự thật ...(Eph 5,9).

Giờ này trong lòng chúng ta có chứa đựng bấy nhiêu hoa quả sự sáng không ? Trong lòng có đầy mới tràn ra bên ngoài. Nếu chúng ta không có ánh sáng của Chúa, chúng ta không thể ban cho ai những hoa quả tốt lành ấy. Xin Chúa dùng ánh sáng phục sinh của Ngài quật đổ tính nư hèn của chúng ta như  đã từng quật đổ Saolê trên đường Đamas, để chúng ta thấy được ánh sáng thật. Có ánh sáng thật chúng ta sẽ thấy được màu xanh của sự sống, mầu thiên thanh của hy vọng, màu hồng của reo vui và màu vàng của vinh quang nước trời.

 

5. Thiên Chúa yêu con người

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn dời . Đây là một mạc khải quan trọng tóm gọn nội dung của Tin mừng.

Chúa Gêsu đã đến để mạc khải cho chúng ta biết về tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian, nhất là đối với con người đã được dựng nên then và giống hình ảnh Thiên Chúa. Lý trì tự nhiên của con người qua những suy tư triết học khó có thể, nếu không muốn nói là không thể nào đạt tới kết luận chắc chắn Thiên Chúa là tình yêu. Chỉ nhờ mạc khải của Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi đã cho đi điều quí giá nhất là chính Con của Ngài, để cứu con người khối tội lỗi vô sự chết. 

Thiên Chúa yêu thương con người, nhưng tình yêu này không hủy bỏ sự tự do của con người: con người có thể  chọn sống trong bóng tối hơn là ánh sáng, có thể làm điều xu và tránh né Thiên Chúa để khỏi bị chê trách.

Mỗi người chúng ta hãy nhìn lại phản ứng của mình trước lời mạc khải của Chúa. Chúng ta có cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta không? Thiên

Chúa không chỉ yêu thương có một lần trong quá khứ, nhưng Ngài vẫn còn yêu thương luôn mãi. Qua cuộc đời nhập thể làm người, qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Chúa Giêsu đã thể hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng không chỉ có thế. Là hiện thân của .tình yêu Thiên Chúa, Chúa Giêsu tiếp tục hiện diện với con người trong suốt dòng lịch  sử nhất là qua các bí tích, cho tới khi Chúa lại đến. 

Ước gì chứng ta luôn cảm nhận và đáp lại tình thương của Thiên Chúa. Ước gì chúng ta luôn biết tin tưởng vào tình thương của Chúa, bất chấp khó khăn, thử thách và ngay cả tội lỗi của chúng ta.

 

6. Án xử của Thiên Chúa 

Cách đây 2.400 năm triết gia Hy Lạp là Socrate đã bị mang ra tòa là bị kết án phải uống thuốc độc vì hai tội: làm sa đọa giới trẻ bằng những lý thuyết viển vông và tuyên truyền cho các thần minh mới. Bồi thẩm đoàn xét xử Socrate gồm 501 người được tuyển lựa trong số 6000 công dân Athène. Đây là vụ án nổi tiếng nhất của thế kỷ 4. Vụ án nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 hẳn phải là vụ án của Hosê Simson, một cầu thủ bầu dục trở thành tài tử kiêm phóng viên truyền hình về thể thao tại Hoa kỳ. Simson là một người da đen bị cáo buộc đã giết vợ và bạn trai của cô ta. Đã có quá nhiều chứng cớ hiển nhiên, nhưng sau nhiều tháng xét xử, tòa vẫn chưa đưa ra được một phán quyết nào. Nhiều người cho rằng với một bồi thầm đoàn gồm đa số là người da đen và nhất là với những luật sư nổi tiếng mà Simon đã bỏ tiền ra thuê, rồi ra anh ta có thể được trắng án. Và quả thực tin giờ chót  vừa cho hay tòa tuyên bố Simson vô tội và anh được tha bổng.

Nhà hiền triết bị kết án kẻ sát nhân được tha bổng, bao nhiêu người vô tội bị đầy ải trong các nhà tù. Công lý của con người vốn bất toàn là thế. Chính vì vậy ở thời đại nào, nỗi khao khát công lý trong lòng người vẫn không bao giờ được thỏa mãn. Người Do Thái thời Chúa Giêsu cũng khao khát công lý: Đấng Cứu Thế mà họ mong đợi sẽ là một quan tòa khôn ngoan, có khá năng xóa bỏ bất công, trừng trị kẻ gian ác và tái lập công lý. Các tín hữu tiên khởi phát xuất từ Do thái giáo cũng tiếp tục nuôi dưỡng một niềm mong đợi đó.

Nhưng một cuộc phát xứ như thế đã không diễn ra khi Chúa Giêsu đến. Thay cho một quan tòa nghiêm khắc, người ta chỉ thấy một vị mục tử tốt lành. Thay cho những phán quyết thẳng thừng, người ta chỉ nghe được những lời tha thứ dịu ngọt. Quả thật như Chúa Giêsu đã giải thích cho Nicôđêmô: Thiên Chúa sai Con Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của ngài mà được cứu độ. Chúa Giêsu không xét xử và luận phạt con người. Chính con người tự xét xử rình bằng cách chọn lựa hay khước từ Chúa Giêsu. Mọi hành động xấu tự nó đã là một bản án cho con người. Sự phán xét do đó không là một biến cố bên ngoài con người, mà chính là thái độ đáp trả của con người với lời mời gọi của Chúa Gíêsu. Nếu tôi bước đi trong ánh sáng của Chúa Giêsu: tôi được bình an thư thái; trái lại, khi tôi chọn lựa bóng tối của ích kỷ, thì tôi đã tự ký bản án, tự đày đọa chính mình rồi.

Thiên đàng hỏa ngục, ngày chung thẩm vốn được thêu dệt bởi biết bao hình ảnh thần thoại. Đó là những thực tại vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Tuy nhiên, có điều chắc chắn là Thiên đàng, hỏa ngục, ngày chung thẩm đều gắn liền với cuộc sống tại thế này. Con người cỏ thể hưởng nếm Thiên đàng ngay từ cuộc sống này khi nó bước đi trong ánh sáng chân lý của Chúa Giêsu. Cũng ngay trong cuộc sống này, mỗi khước từ đối với Ngài đã là một thứ hỏa ngục mà con người tự giam mình vào, và ngày chung thẩm cũng đã diễn ra trong con người qua từng chọn lựa của mình.

“Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài. Ngài sai Con Một Ngài đến thế gian không phải để luận phạt thế gian nhưng để thế gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ”. Đó phả là niềm xác tín thúc đẩy chúng ta luôn sống tin tưởng và yêu thương.

 

7. Nhận ra và trở thành tin hiệu của Chúa.

Một thanh niên Hoà Kỳ nọ có thói quen để ra một ngày trong tuần tập trung các em bé nghèo lại, dẫn các em đi sắm sửa, giải trí và ăn uống. Có lần, đang dự bữa ăn, một em bé 8 tuổi bỗng sửng sốt hỏi : "Thưa ông, ông có phải là Chúa Giêsu không?". Đối với em bé này, Chúa Giêsu có nghĩa là bất cứ người nào có lòng quảng đại vượt mọi chờ đợi và tưởng tượng của em.

Nhận ra Chúa Giêsu và trở thành tín hiệu của Ngài, đó là sứ điệp được nhắn gửi cho chúng ta qua Tin mừng hôm nay. Hai môn đệ trên đường về Emmau là những người đã từng sống với Chúa Giêsu và chia sẻ cuộc sống của Ngài. Thế mà khi Ngài hiện ra và đàm đạo với các ông, các ông vẫn không nhận ra Ngài ngay. Mãi đến lúc ngồi vào bàn ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh bẻ ra và trao cho các ông, mắt các ông bỗng sáng lên và nhận ra Ngài. Hai môn đệ Emmau đã nhận ra Thày qua cử chỉ bẻ bánh. Thật thế, bẻ bánh là cử chỉ quen thuộc và tiêu biểu nhất trong con người Chúa Giêsu, cử chỉ ấy là tiêu biểu cho một tấm thân suốt đời tận tụy hy sinh, chịu bẻ ra cho người khác.

Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một Ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục đến với chúng ta như đã từng hiện ra cho các môn đệ. Ngài vẫn còn đến với chúng ta qua cử chỉ trao ban ấy. Ngài đến với chúng ta qua các biến cố cuộc sống, Ngài đến với chúng ta qua những gặp gỡ từng ngày, Ngài đến với chúng ta qua sự tận tụy của người cha, qua tấm lòng quảng đại của người mẹ, qua ánh mắt và nụ cười của trẻ thơ, Ngài đến với chúng ta qua bất cứ ai thể hiện cử chỉ yêu thương đối với người khác.

"Ông có phải là Giêsu không?" Phải chăng đó không là câu hỏi mà những người xung quanh thốt lên khi nhận được một nghĩa cử từ những người kitô hữu. Dấu hiệu để người khác nhận ra các môn đệ của Chúa Giêsu chính là lòng bác ái. Dấu vết riêng trong dung mạo người kitô hữu chính là cử chỉ trao ban. Chúa Giêsu đang cần những cử chỉ ấy để gửi đi tín hiệu loan báo sự hiện diện và tác động của Ngài.

Xin sức sống Chúa kitô Phục sinh tràn nhập tâm hồn chúng ta, để chúng ta đón nhận Ngài trong từng phút giây cuộc sống và trở thành tín hiệu của Ngài cho người khác.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm