Danh mục bài viết

Cập nhật 8/11/2019 - 9:7 - Lượt xem 3286

Các bài Suy niệm Chúa nhật 31 Thường Niên năm C

Lời Chúa: Kn 11,23-12,2; 2 Tx 1,11-2,2; Lc 19,1-10

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: Kn 11, 23 - 12, 2

"Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa yêu thương mọi tạo vật".

Trích sách Khôn Ngoan.

Lạy Chúa, trước mặt Chúa, cả vũ trụ ví như hạt gạo trên đĩa cân, và như hạt sương sa trên mặt đất trước lúc rạng đông. Nhưng Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chúa yêu thương mọi tạo vật, và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì, thì Người đâu có tác tạo nó.

Nếu Chúa không ưng, thì làm sao một vật có thể tồn tại được? Hoặc vật gì Chúa không kêu gọi, thì làm sao nó duy trì được? Nhưng Chúa dung thứ hết mọi loài: vì chúng thuộc về Chúa. Lạy Chúa, Chúa yêu thương các linh hồn.

Ôi lạy Chúa, thần trí của Chúa tốt lành và hiền hậu đối với mọi loài là dường nào! Vì thế, lạy Chúa, Chúa từ từ sửa phạt những kẻ lầm lạc, khuyên răn và dạy bảo những kẻ phạm lỗi, để họ từ bỏ tội ác mà tin theo Chúa.

 

Bài Ðọc II: 2 Tx 1, 11 - 2, 2

"Danh Chúa được vinh hiển trong anh em, và anh em được vinh hiển trong Người".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.

Anh em thân mến, chúng tôi hằng cầu nguyện cho anh em: Thiên Chúa chúng ta đoái thương làm cho anh em nên xứng đáng ơn Chúa kêu gọi anh em, và xin Người dùng quyền phép mà kiện toàn những ý định ngay lành do lòng tốt của anh em và công việc của lòng tin anh em, để danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, được vinh hiển trong anh em, và anh em được vinh hiển trong Người, do ân sủng của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô.

Anh em thân mến, nhân về ngày trở lại của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và về sự chúng ta tập họp bên cạnh Người, chúng tôi nài xin anh em chớ vội để mình bị giao động tinh thần, và đừng hoảng sợ bởi có ai nói tiên tri, hoặc bởi lời rao giảng hay bởi thư từ nào được coi như do chúng tôi gởi đến, mà nói như thể ngày Chúa gần đến.

 

Tin Mừng: Lc 19, 1-10

"Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu vào Giêricô và đi ngang qua thành, thì kìa, có một người tên là Giakêu, ông thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có. Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào, nhưng không thể được, vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó.

Khi vừa đến nơi, Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: "Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi". Ông vội vàng trụt xuống và vui vẻ đón tiếp Người. Mọi người thấy vậy, liền lẩm bẩm rằng: "Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi".

Ông Giakêu đứng lên thưa cùng Chúa rằng: "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn". Chúa Giêsu bảo ông ấy rằng: "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất".

 

B. SUY NIỆM

1. Con Người đến để tìm và cứu _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

Giakêu là một người thu thuế giàu có. 
Tuy không thiếu gì, nhưng lòng ông vẫn khắc khoải không yên. 
Ông vẫn tìm kiếm một Ai đó có thể nâng đỡ ông dậy. 
Hẳn ông đã nghe người ta bàn tán về Ðức Giêsu. 
Ngài chẳng sợ làm bạn với những người bị khinh như ông. 
Giakêu mong có ngày thấy Ðức Giêsu. 
Dịp may đã tới, ông đi với đám đông theo sau Ngài, 
nhưng vẫn không sao thấy được Ngài, 
vì dân chúng thì đông, còn ông lại thấp bé. 
Giakêu không thất vọng. 
Lòng khát mong đích thực chẳng bao giờ chịu bó tay. 
Ông chạy trước đám đông và leo lên một cây sung. 
Ông hí hửng với sáng kiến khôn ngoan của mình, 
và tin chắc mình sẽ toại nguyện. 
Giakêu núp ở trên cây, tưởng không ai trông thấy. 
Nào ngờ Ðức Giêsu ngừng lại, nhìn lên và gọi tên ông. 
Ngài thấy ông trước khi ông thấy Ngài. 
Ánh mắt Ngài làm ông luống cuống, 
nhưng lời của Ngài lại làm ông sung sướng, ngỡ ngàng: 
Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông. 
Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất. 
Ðường từ gốc sung về nhà ông bao xa, ta không rõ, 
nhưng chắc chắn đó là đường đầy ắp niềm vui. 
Giakêu thấy mình mất đi những mặc cảm thấp kém. 
Ông như lấy lại được danh dự trước đám đông, 
bởi lẽ Ðức Giêsu sắp đến thăm nhà ông, 
bất chấp những lời xầm xì phản đối. 
Ông chỉ ao ước thấy mặt Ngài, 
còn Ngài lại muốn bày tỏ cả bề sâu của lòng mình: 
dịu dàng, tha thứ, yêu thương, tế nhị. 
Hoán cải là kết quả của một cảm nhận về Tình Yêu. 
Ánh mắt, lời nói, thái độ của Ðức Giêsu 
đã thổi bùng lên ngọn lửa leo lét nơi Giakêu, 
và khiến lòng ông tan chảy. 
Bỗng chốc Giakêu thấy mình được tự do thanh thoát. 
Những gì xưa nay trói buộc ông, làm ông say mê, 
bây giờ trở nên vô vị. 
Một cách hồn nhiên, ông dâng nửa gia sản cho người nghèo, 
và xin đền gấp bốn những gì đã lường gạt. 
Giakêu sẽ trở nên nghèo hơn trước, 
nhưng ông hạnh phúc hơn xưa nhiều, 
vì ông cũng là con cháu tổ phụ Apraham. 
Ước gì chúng ta bao dung như Ðức Giêsu 
và quảng đại như Giakêu. 

Lạy Chúa Giêsu, khi đến với chúng con 
Chúa thường đến như một người hành khất. 
Chúa cần chút nước của người phụ nữ Samari. 
Chúa cần năm chiếc bánh và hai con cá, 
Chúa cần nhà ông Giakêu để nghỉ chân. 
Chúa khiêm tốn cúi xuống xin chúng con, 
để rồi tuôn đổ trên chúng con nhiều gấp bội. 
Xin dạy chúng con biết cách đến với mọi người, 
và khám phá ra đốm lửa nhỏ của sự thiện 
vẫn cháy sáng nơi lòng người tội lỗi. 
Ước gì chúng con nhìn tha nhân 
bằng ánh mắt của Chúa, 
dám hy vọng không ngơi 
vào lòng tốt của mỗi người, 
và can đảm tin tưởng vào sự quảng đại của họ, 
nhờ đó thế giới của chúng con 
trở nên nhân bản hơn và thần linh hơn. 

 

2. Hành trình trở về : Biết Chúa - Biết người - Biết mình _ Lm G.B Trần Văn Hào SDB

Tin Mừng Luca nói rất nhiều về lòng thương xót của Chúa đối với các tội nhân. Bài Phúc âm hôm nay là một ví dụ tiêu biểu. Tuần trước, Chúa Giêsu đề cao gương khiêm nhường của một người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện với tâm tình sám hối. Tuần này, Thánh Luca cũng thuật lại cuộc hành trình trở về của Giakêu, cũng là một người thu thuế với bao tội lỗi. Giakêu không chỉ là một viêc chức quèn, nhưng còn là một cán bộ cao cấp và có thế giá trong ngành thuế vụ. Với chức vụ đó, đương nhiên ông ta rất giàu (c.2). Ông là người có dáng vóc nhỏ bé. Có lẽ Thánh Luca còn hình tượng hóa, không phải chỉ nói về sự nhỏ bé thể lý, nhưng cũng diễn bày sự bé nhỏ nơi tâm hồn của ông, khi ông ý thức được những lầm lỗi của chính mình. Cuối cùng, Giakêu đã hoán cải sau khi gặp được Đức Giêsu. Lộ trình trở về của Giakêu gồm 3 yếu tố: Biết Chúa - Biết người - và Biết về chính mình.

Biết Chúa

Khởi đầu Giakêu muốn biết Chúa chỉ vì tò mò. Chúa Giêsu khá nổi tiếng lúc bấy giờ và được dân chúng nể phục. Nhân lúc Đức Giêsu sắp đi ngang qua, Gia kêu trèo lên một cây sung để xem rõ mặt mũi nhân vật nổi tiếng ấy như thế nào. Đây là điểm khởi đầu để dần dần ông được Chúa biến đổi, cho dẫu sự bắt đầu chỉ thuần mang tính nhân loại.

Ông Pchychari khi còn là dự tòng và đang trên con đường tìm kiếm Chúa, vẫn chân thành dâng lên Chúa lời cầu nguyện : “Lạy Chúa, nếu Chúa hiện hữu, xin hãy tỏ ra cho con biết Chúa là ai.” Biết Chúa không phải là động thái của tri thức, nhưng trên hết, đó là thái độ của tâm hồn. Đi vào thế giới của mầu nhiệm, không cần chúng ta phải vắt óc để lý luận, nhưng cần mở rộng cõi lòng để ánh sáng chân lý soi chiếu. Nhiều triết gia lỗi lạc đã nặn óc suy tư với những lý luận sắc bén, nhưng đã không thể tiếp cận và biết về Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện với Chúa Cha : “Lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn (Mt 11,25). Cuộc hành trình trở về của Giakêu bắt đầu từ việc ông khao khát biết Chúa, cho dầu động cơ nơi ông có như thế nào chăng nữa.

Biết người

Sau khi Chúa gọi Giakêu lúc ông đang ở trên cây, ông đã vui mừng tụt xuống ngay và tiếp đón Đức Giêsu đến nhà mình cách trọng thị (c.6). Điều này cho thấy rằng cho dù ông đã làm nhiều điều xấu, đã thu quén tiền bạc một cách bất chính, nhưng căn gốc sự thiện vẫn còn nơi tâm hồn ông và nay được dịp bùng phát. Chúa Giêsu đã khơi dậy sự thiện hảo nơi ông, vốn đã bị vùi lấp từ lâu do sự cuốn hút của tiền bạc. Kết quả là ông đã được biến đổi. “Thưa Thầy, tôi xin lấy phần nửa tài sản của tôi cho người nghèo. Nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì , tôi xin đến gấp bốn”. Từ chỗ biết Chúa, Giakêu đã đi đến việc biết người. Biết người tức là biết chia sẻ, biết lưu tâm đến cận nhân nghèo khổ sống chung quanh. Một người giàu có đã từng chỉ biết thu gom tiền bạc để hưởng thụ cách ích kỷ, bây giờ can đảm chia một nửa tài sản cho người nghèo, là một con người rất đáng trân quý. Sự cao quý nơi Giakêu ở chỗ, ông đã can đảm phá vỡ pháo đài ích kỷ vốn đã xơ cứng nơi tâm hồn mình, bây giờ trở thành trái tim thịt mềm, một trái tim biết rung lên những giai điệu đồng cảm và yêu thương. Giakêu đã được biến đổi vì ông đã biết Chúa và biết người.

Biết mình

Căn gốc của sự hoán cải chính là tự biết mình. Giakêu biết rõ mình là con người tội lỗi và bị mọi người khinh ghét. Nhưng ông còn biết rõ hơn, là chính Thiên Chúa không ghét bỏ ông.  Đức Giêsu đã tuyên bố cho mọi người cũng như cho ông biết rằng : “Con người đến để tìm kiếm những gì đã hư mất”. Chúng ta vẫn thường đi xưng tội, và trước khi xưng tội, chúng ta phải xét mình. Xét mình không phải chỉ là liệt kê một bản danh sách các tội một cách máy móc và điền đại vào đó số lần để xưng cho xong. Khi xét mình, chúng ta cần phải đi sâu vào tĩnh lặng để bới tìm những bẩn thỉu ẩn kín sâu tận bên trong. Chúng ta rất dễ bới móc cái rác trong mắt của tha nhân mà vẫn không nhận ra cái đà to đùng nơi con mắt của chúng ta (Mt 7,3). Chúa Giêsu nói điều đó với chút cường điệu để dạy chúng ta phải khiêm tốn nhìn vào nội tâm, chứ đừng vội vã kết án người khác. Đây là phương thức để chúng ta biết về mình cách thực sự.

Tiến trình trở về của Giakêu là như thế. Tiến trình này được thể hiện do chính Đức Giêsu chủ động và lôi kéo. Thiên Chúa luôn đi bước trước để gọi mời, còn chúng ta hoàn toàn tự do để đáp trả hay từ chối. Giakêu đã nghe tiếng Chúa gọi. Ánh sáng từ đôi mắt Chúa đã hắt dọi vào tâm hồn ông và ông đã được biến đổi hoàn toàn. Ông đã gặp Chúa, đã tiếp đón Chúa tại nhà và đã được biết Chúa là ai, là ‘Đấng đến tìm kiếm và cứu chữa những gì hư mất’. Chúa đã soi sáng để ông cũng biết đến tha nhân bằng cách mở rộng cõi lòng chia sẻ. Nhưng quan trọng nhất, ông đã biết về chính mình với bao yếu đuối và tội lỗi. Sự biến đổi nội tâm nơi Giakêu là mô hình để chúng ta thực hiện cuộc trở về mỗi ngày.

Kết luận

Xin được kết luận bằng một câu chuyện dân gian Việt Nam. Một chàng thư sinh rất tự mãn về kiến thức của anh ta. Trên đường trở về quê, anh chàng phải đi qua một con sông lớn và bác lái đò quê mùa ở đó vẫn ngày ngày chở khách qua sông. Trên thuyền, chàng sinh viên khoe khoang hỏi bác lái đò : “Bác ơi bác có biết đọc biết viết hay không? – Cậu ơi, tôi không biết. Chàng thư sinh nói tiếp : “ Thế là bác chết một phần tư đời người rồi”. “Bác ơi, bác có biết về khoa học hay kỹ thuật gì không?”. Bác lái đò vẫn bình thản trả lời : “Cậu ơi, tôi quê mùa có biết gì về văn minh khoa học tí nào đâu” – Tiếc cho bác, thế là bác chết thêm một phần tư đời người nữa rồi”. Chàng thanh niên tiếp tục khoe mẽ : “Thế, bác có biết chút gì về nghệ thuật hay không ? -Tôi đã bảo là tôi mù tịt, không biết gì cả. – “Thế là bác chết thêm ¼ cuộc đời nữa, tội nghiệp bác quá”. Đi đến giữa sông, trời bỗng nổi cơn giông rất mạnh. Bác lái đò hỏi chàng thanh niên :“Cậu ơi, cậu có biết bơi không”. “Thưa bác, không”. Chàng thanh niên run sợ trả lời. Bác lái đò nhẹ nhàng nói : “Thôi, thế là cậu sắp chết cả đời người rồi, tiếc cho cậu quá”.

Triết gia Socrates đã nói: “Khởi đầu của sự khôn ngoan là hỡi người, hãy ‘biết’ về chính mình.” Chúng ta hãy học lấy thái độ của Giakêu để thực hành cuộc sám hối trở về, bằng cách biết Chúa, biết người và biết rõ về mình.

 

3. Nhờ lòng thương của Ðức Giêsu _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Sắp hết năm Phụng vụ, chúng ta đọc thư Thessalonica để bắt đầu suy nghĩ về thế mạt. Ðừng tưởng làm như vậy sẽ cản trở sinh hoạt hiện nay. Ngược lại suy nghĩ về thế mạt theo Kitô giáo có thể giúp chúng ta đổi mới được các sinh hoạt hiện tại, làm cho đời sống thêm tích cực và phấn khởi hơn. Bởi vì thế mạt theo Kitô giáo không phải là làm cho thế giới này tan biến đi và đi đến chỗ mạt vận; nhưng là thế giới này sẽ chuyển biến và thay đổi hoàn toàn để giũ bỏ hết mọi hư ảo và mặc lấy các đặc tính trường sinh.

Thế mạt như vậy cũng có nghĩa là đổi đời. Và quan niệm này luôn luôn là một cám dỗ. Con người không bằng lòng với hiện tại và muốn đổi khác. Tựu trung chúng ta muốn đổi những gì để được hạnh phúc hơn? Ðiều quan trọng nhất, há chẳng phải là chúng ta không muốn thấy sự dữ và kẻ dữ ở đời này nữa sao? Nhưng làm thế nào? Chúng ta hãy nghe câu trả lời của các bài đọc Kinh Thánh hôm nay.

1. Thiên Chúa yêu thương mọi loài

Bài sách Khôn Ngoan lập tức như muốn đi ngược lại khuynh hướng và suy nghĩ tự nhiên của loài người chúng ta. Luôn luôn chúng ta nghĩ rằng thế giới này xấu vì có những kẻ dữ. Làm cho bọn này biến đi, chúng ta được hạnh phúc. Âm thầm chúng ta đã tự đặt mình sang phía những kẻ lành, và ước ao phía kẻ dữ không còn bóng dáng một tên nào nữa... và chúng ta thường ấm ức vì không hiểu sao Thiên Chúa cứ để bọn này sống ngang nhiên như vậy?

Tác giả Khôn Ngoan đọc thấy cái tâm lý này trong suy nghĩ của con cái Israel ở bên Ai Cập. Họ ghét cay ghét đắng những người cai thầu và đốc công, tay sai của Pharaon. Họ sung sướng khi thấy một chàng thanh niên có tên là Môsê thẳng tay hạ sát một tên Ai Cập để bênh vực một người Do Thái. Câu chuyện đó đã xảy ra lâu rồi... nhưng đột nhiên bây giờ Môsê lại xuất hiện. Ông nói với con cái Israel hãy chuẩn bị ra khỏi xứ nô lệ này. Và ông đi đi lại lại đến với vua Pharaon để thương lượng việc giải phóng dân ông, vừa phấn khởi nhưng cũng vừa ấm ức... Tại sao chậm chạp như vậy? Tại sao không dùng các biện pháp mạnh và quyết liệt? Chúa của Môsê dường như không dứt khoát đủ? Sao Người không cho quyền Môsê làm những dấu lạ điềm thiêng mau lẹ đi? Sao Người còn nương tay với Pharaon và bè lũ?

Con cái Israel đã nóng ruột. Chúng ta thường cũng nóng ruột, chỉ muốn đổi đời tức khắc, chỉ muốn kẻ dữ phải chết tươi, ăn năn tội chẳng kịp. Nhưng Chúa thì lại khác. Tác giả sách Khôn Ngoan hôm nay mạc khải cho chúng ta thấy tâm tư của Người. Không phải Người yếu đâu, vì toàn thể vũ trụ trước mặt Người như hạt sương rơi trên đất. Nào ai cự được cánh tay của Người. Nhưng chính vì toàn năng phép tắc mà Người lại thương xót người ta vô cùng. Chỉ có người yếu mới sốt ruột thủ tiêu người mình không ưa, không thích. Còn người có khả năng thì dễ dàng làm lơ chờ đợi chúng hối cải.

Tuy nhiên đó chỉ là một lý. Còn một lẽ nữa, có thể quan trọng hơn. Thiên Chúa là tạo hóa, Người dựng lên mọi sự vì yêu mến. Chính tình thương của Người ban cho mọi loài được hiện hữu và bảo tồn mọi loài trong hiện hữu... Không gì xuất hiện và tồn tại được nếu Người không muốn và không thương. Thế nên kẻ dữ còn đó là vì tình thương của Thiên Chúa. Người không muốn ghét bỏ những gì Người đã nắn ra. Người yêu sự sống chứ không thích sự chết. Làm cho mọi vật sống là bản tính tự nhiên của Người. Còn tiêu diệt vật nào là việc Người chẳng thích. Bởi vậy, thái độ của Người có vẻ thong thả. Dần dà Người muốn sửa dạy mọi kẻ sa ngã để chúng trở lại mà được sống.

Tác giả sách Khôn Ngoan không những đã lý luận như thế. Ông còn chấp nhận luận lý ấy đến nỗi muốn chia sẻ tâm tư của Thiên Chúa. Ông đã không lý luận như chúng ta vừa làm; nhưng đã cầu nguyện để hiểu ý Chúa và muốn như Người... Tức là ông cũng muốn chúng ta, thay vì nhìn vào kẻ dữ như những cái gai trước mắt và như nguyên nhân cản trở hạnh phúc của chúng ta, hãy nhìn vào Thiên Chúa và thờ lạy cầu xin Người. Chúng ta sẽ hiểu Người hơn và chia sẻ tâm tư của Người. Người toàn năng nên không coi thái độ của kẻ dữ là quan trọng. Ưu vị của Người làm ngơ đi trước tội của họ, chờ đợi họ trở lại. Nhất là Người đầy tình thương. Người đã dựng nên vạn vật vì yêu mến. Người không nỡ ghét bỏ loài người đã tác thành. Hơn nữa, thần trí của Người đang làm việc nơi vạn vật. Hãy để cho sức mạnh thánh hóa của thần trí sửa dạy kẻ sa ngã và đưa họ về đường ngay...

Tác giả sách Khôn Ngoan không thể nói rõ hơn vì ông chưa được thấy kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa tỏ hiện. Nhưng tâm tư của ông đã vượt xa cảm nghĩ của nhiều người đã nhìn thấy ơn cứu độ. Ðiều này thật đáng suy nghĩ. Và vì thế chúng ta cần tìm hiểu hơn về cách Chúa cứu độ để sửa sai nhiều thái độ hiện nay của mình. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe có khả năng giúp đỡ chúng ta làm việc này.

2/ Thiên Chúa cứu độ tội nhân

Câu chuyện ông Zakkhê, ai mà không biết. Tác giả Luca đặt câu chuyện này vào ngay sau lúc Ðức Giêsu nói với các môn đệ: "Này chúng ta lên Giêrusalem và sẽ hoàn tất cho con người mọi điều các tiên tri đã viết". Như vậy câu chuyện muốn nói lên mục đích của cuộc hành trình, tức cũng là việc Ðức Giêsu lên Giêrusalem để chịu chết. Người đi chịu nạn để chuộc tội cứu thế. Câu chuyện ông Zakkhê làm chứng điều này.

Quả vậy, trước mặt người Do Thái, Zakkhê là một kẻ tội lỗi. Không tội lỗi như bọn phóng túng đâu; nhưng đây còn là một tội nhân nguy hiểm. Zakkhê là ty trưởng quan thuế ở một dân tộc bị ngoại bang thống trị. Và điều này có thể làm sống lại một số kinh nghiệm cũ của chúng ta. Những người thu thuế cho hạng ngoại bang làm sao không bị coi là những tên hại dân hại nước! Huống nữa Zakkhê là ty trưởng quan thuế.

Và chế độ thuế má ở Giêricô bấy giờ mới thật đáng ghét! Ðể thu được nhiều tiền, nhà cầm quyền Rôma cho đấu thầu việc thu thuế. Và dĩ nhiên những kẻ giàu có mới có khả năng đấu thầu. Và đấu thầu được, họ tha hồ bắt dân phải chịu sưu cao thuế nặng. Có như vậy họ mới gỡ được vốn và mới có thể làm giàu thêm. Dân không thể nào không coi những ông bao thầu này bất nhân được. Nhất là ở Israel; làm tay sai cho ngoại bang không những là hại dân hại nước, mà còn là hại đạo nữa. Kẻ bất nhân trong việc thu thuế vừa bán nước vừa là giáo gian. Ðó là tội nhân công khai, trắng trợn và nguy hiểm.

Zakkhê có thật sự như vậy không? Ðiều đó không cần biết. Chỉ có điều chắc chắn là người Do Thái nào cũng coi ông như vậy. Hay ít ra trước mặt công luận, ông bị coi như thế.

Hôm ấy Zakkhê nghe tin Ðức Giêsu đi ngang qua Giêricô. Tò mò ông muốn thấy Người... nhưng ông lại nhỏ con chẳng sao nhìn được Người vì thiên hạ bu đầy xung quanh Người. Chỉ còn một cách: Phải tìm chỗ đứng trên cao nhìn xuống... Chẳng có nhà lầu nào ở gần. Hơn nữa, trèo lên một thân cây có lẽ đỡ phiền phức hơn. Zakkhê đã làm như thế. Nhưng này Chúa đã gọi ông: "Zakkhê, xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi".

Làm sao có thể xảy ra như thế? Người mà lại vào ngụ nhờ nhà một người tội lỗi sao? Thiên hạ thì kinh ngạc; còn Zakkhê thì chỉ biết vui mừng. Ông về dọn nhà, dọn bàn... và nhất là dọn những câu nói chân thật nhất để diễn tả lòng cảm mến đối với một ơn bất ngờ như vậy: "Này, ông nói, nửa phần của cải, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn".

Ðó là phản ứng của một con người quyết tâm đổi đời. Trước đây ông muốn vơ vén nhiều của, bây giờ ông muốn tung ra; trước đây ông có gian lận, thì bây giờ ông xin đền bù quá mức pháp luật đòi hỏi. Quả thật ông đã nhận được ơn cứu độ. Và Ðức Giêsu chỉ còn cần phải tuyên bố: "người này cũng là con cái của Abraham". Nghĩa là không ai còn được kỳ thị, gạt bỏ một con người như thế nữa. Không còn được coi người ấy như lương dân hay như tay sai của ngoại bang nữa. Người ấy không còn là tội nhân, nhưng đã trở thành con cái của Abraham, con cái của Lời Hứa, con cái của Nước Trời. Và sở dĩ như vậy vì Con Người đến để tìm cứu sự đã hư đi.

Ðã đành, Zakkhê cũng có công... ông đã muốn xem thấy Chúa và đã trèo lên cây cao, và nhất là ông đã thành tâm trở lại. Nhưng nếu Chúa đã không nhìn và gọi ông, nếu Người không đoái ngụ lại nhà ông, thì đã chẳng có câu chuyện hôm nay. Tất cả đều do Chúa, nhờ lòng thương của Người và bởi sáng kiến của Người. Ðó mới thật là ý tưởng mà tác giả Luca muốn trình bày với chúng ta.

Ðức Giêsu đã đến để tìm cứu kẻ có tội: Người là ơn cứu độ Thiên Chúa gửi đến cho loài người. Người thực hiện những điều mà sách Khôn Ngoan đã viết. Tác giả sách này chỉ biết rằng: Thiên Chúa vì toàn năng và nhân ái sẽ làm cho tội nhân trở lại. Nhưng thế nào và nhờ ai, thì chúng ta phải chờ đến khi thấy Ðức Giêsu xuất hiện và cương quyết đi lên Giêrusalem để làm công việc cứu thế... Hôm nay Người đã làm cho Zakkhê trở lại đang khi Người lên Giêrusalem để chúng ta thấy trước mục đích của việc Người sẽ chịu nạn và sống lại.

Chúng ta ngày nay đã có đức tin và tuyên xưng Ðức Giêsu là cứu thế. Chúng ta phải làm gì để ơn cứu độ của Người có ảnh hưởng đổi đời một cách sâu rộng? Vì như đã nói trên, muốn đổi đời không phải là muốn tiêu diệt kẻ dữ, nhưng phải mong họ trở lại ngay chính nhờ lòng thương của Thiên Chúa và hành động của Ðức Giêsu Kitô. Bài thư Thessalonica hôm nay có thể giúp chúng ta nhiều ánh sáng quý báu.

3/ Ðức Giêsu phải được hiển vinh nơi chúng ta

Xét theo một khía cạnh, giáo đoàn Thessalonia thời bấy giờ đã cảm nghĩ như chúng ta ngày nay trong nhiều lúc. Họ thấy đời không đáng sống bao nhiêu. Quá nhiều buồn chán. Và nhất là quá nhiều bất công. Họ ước ao ngày của Chúa đến để phân biệt lành dữ phải trái. Nhiều người đã lợi dụng cái tâm lý ấy... Họ tuyên truyền và làm cho người ta tưởng: ngày của Chúa đã đến!

Phaolô phải viết thư để tín hữu của Người khỏi bị phỉnh gạt. Những lời cuối cùng trong đoạn trích hôm nay gạt bỏ ý tưởng cho rằng ngày của Chúa đã đến. Ðôi khi chúng ta cũng nên đọc kỹ lại những lời này để khỏi bị giao động vì những tin có mạc khải ở chỗ này, có lời sấm ở chỗ kia về ngày tận thế. Ngày ấy đến lúc nào, đến Con Người cũng không biết, thì đừng ai phỏng đoán làm gì.

Nhưng có một điều chắc chắn, chúng ta phải cố gắng để được hạnh phúc trong ngày ấy. Và cho được như vậy, thánh Phaolô bảo phải cầu nguyện, xin Thiên Chúa khấng làm cho chúng ta được xứng đáng với ơn Thiên triệu... Chỉ có Người mới cứu độ được chúng ta, nhờ Ðức Giêsu Kitô như hai bài Kinh Thánh trên đây đã làm chứng. Nhưng về phía mình, ít ra chúng ta cũng phải có những nỗ lực nào đó như Zakkhê. Và ở đây thánh Phaolô nói, chúng ta phải làm cho Danh Ðức Giêsu được hiển vinh nơi chúng ta và chúng ta ở nơi Người.

Chúng ta hãy mượn lại câu chuyện Zakkhê để làm sáng tỏ lời khuyên của thánh Tông đồ. Nhờ việc Ðức Giêsu đến ngụ nhờ nhà ông, mà ông đã đổi đời. Ông đã nhiệt tình tiếp rước Người, nên ông đã lấy lại được danh tiếng. Ông được vinh hiển ở nơi Người vì ông đã muốn Người vinh hiển nơi nhà ông. Nhà ông đón nhận ơn cứu độ, nên ông đã trở thành con cái của Abraham.

Như vậy chúng ta phải tôn vinh Ðức Giêsu ở nơi chúng ta để chúng ta được tôn vinh ở nơi Người. Và muốn thế, thánh Phaolô nói chúng ta phải nhờ ơn Chúa làm cho viên thành ý chí ngay lành và công việc của lòng tin. Chúng ta phải cầu xin quyền năng của Thiên Chúa giúp mình thi hành các tư tưởng tốt và làm tốt các việc của đời sống đức tin. Khi ấy đời sống chúng ta sẽ xứng đáng là đời sống của người Kitô hữu. Ðức Kitô được hiển vinh nơi chúng ta, thì đồng thời và lập tức chúng ta được hiển vinh ở nơi Người. Người ta sẽ thấy chúng ta là môn đệ Người. Và khi ấy dù giờ vinh hiển cánh chung chưa đến, nhưng chúng ta cũng đã mang trong mình đời sống vinh hiển của Thiên Chúa rồi.

Và nếu chúng ta không những coi mình như con chiên của Chúa mà còn ý thức tất cả chúng ta là dân riêng của Người để chúng ta cố gắng làm cho Người được vinh hiển nơi cộng đoàn giáo xứ và Giáo hội chúng ta, thì xã hội loài người sẽ nhận thấy Hội Thánh qua thật là thành trì của Thiên Chúa và là hạnh phúc bình an của các dân tộc.

Chúng ta có tất cả những yếu tố đó trong thánh lễ này. Ðức Giêsu sẽ đến và mang ơn cứu độ đến cho nhà này là giáo đoàn chúng ta và linh hồn mỗi người. Chúng ta hãy đón nhận Người như ông Zakkhê. Chúng ta hãy bắt chước ông quyết tâm đổi đời làm vinh danh Chúa ở nơi chúng ta. Không những Chúa sẽ tuyên bố chúng ta là con cái của Abraham và là dân thánh của Người; nhưng chính xã hội cũng sẽ nhận ra đời sống mới nơi chúng ta để ca tụng Thiên Chúa và tin vào ơn cứu độ của Người.

Xin cho chúng ta và cộng đoàn chúng ta hôm nay được những ơn như thế.

 

4. Gặp gỡ và biến đổi (Lc 19,1-10) _ Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

Từ kinh nghiệm gặp gỡ của các nhân vật trong Thánh Kinh

Kinh Thánh ghi lại khá nhiều những cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người; dường như mỗi cuộc gặp gỡ đều để lại những dấu ấn trong cuộc đời của các nhân vật trong Thánh Kinh. Khởi đi từ cuộc gặp gỡ của Tổ phụ Abraham khi ông còn ở miền đất lưỡng hà - đất của tổ tiên ông, đến cuộc gặp gỡ của Môsê thông qua đám lửa cháy trong bụi gai, rồi cuộc vật lộn giữa tổ phụ Giacóp với “người của Thiên Chúa”… Bước sang thời Tân Ước, Thiên Chúa đã đi đến gặp gỡ con người thông qua con một của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu gặp bốn môn đệ đầu tiên, Ngài đàm thoại với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp, Ngài gặp Phaolô trên đường đi Đamat, Ngài gặp hai môn đệ trên đường Emmau…

Trong tất cả những lần gặp gỡ đó, Thiên Chúa đều là Đấng chủ động ngỏ lời với con người trước - một sự chủ động được khởi đi từ lòng khoan dung và nhân hậu của Thiên Chúa, như lời trong sách Khôn Ngoan hôm nay: “Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi ? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì ?” (Kn 11,24-25).

Tới kinh nghiệm gặp gỡ của Giakêu

Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Giakêu - một người đứng đầu những người thu thuế - với Chúa Giêsu. Tin Mừng cho biết: Ông ta là một người giàu có. Có lẽ ai cũng hiểu được rằng, số tài sản ông có được không phải do sức lao động của ông bỏ ra, nhưng là do ông dựa vào người Rôma để bóc lột chính đồng bào của mình. Trong con mắt của người Dothái, những người thu thuế được liệt vào hạng tội lỗi. Ở đây, Giakêu chẳng những làm nghề thu thuế, mà ông lại còn là người “đứng đầu những người thu thuế” (x.Lc 19,2). Vậy động lực nào đã khiến ông gặp Chúa và được biến đổi cuộc đời?

Có lẽ ban đầu, động lực dẫn ông Giakêu đến với Chúa chỉ vì ông ta