Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 22:3 - Lượt xem 3260

Thánh quan DonBosco đến Việt Nam từ 16/1/2010 đến 26/1/2011

Đồng hành với Don BosCo hỗ trợ chuẩn bị đón Thánh Quan Don BosCo hỗ trợ thực tiễn giúp cầu nguyện trước Thánh Quan.

 

 
PHẦN HAI
Ý NGHĨA CỦA HÀNH HƯƠNG THÁNH QUAN
 
 
1.      VIỆC TÔN SÙNG HÀI CỐT TRONG GIÁO HỘI
Ø      Cái chết theo các Kitô hữu trong Thế kỷ thứ nhất
Ø      Cộng đoàn khi sống và sau khi chết
Ø      Việc tưởng nhớ các Kitô hữu qua đời
Ø      Hang toại đạo : đất thánh Kitô giáo đầu tiên
Ø      Các cuộc bách hại và việc tôn kính các Tử đạo
Ø      Việc tôn kính hài cốt các Tử đạo
Ø      Việc tôn kính hài cốt các Tử đạo : Thánh Phêrô và Thánh Polycarpô
                                                                    
2.      Ý NGHĨA CỦA SỰ THÁNH THIỆN
Ø      Thiên Chúa, nguồn mạch sự thánh thiện
Ø      Chúa Kitô mời gọi Giáo Hội tới sự thánh thiện qua con đường tình yêu
Ø      Tất cả những người thanh tẩy được mời gọi nên thánh
Ø      Các Thánh được Giáo Hội tuyên phong là “Chứng nhân đức tin”
Ø      Những người chuyển cầu bên Chúa Cha
Ø      Kinh nghiệm của cuộc hành hương Thánh Quan Đa Minh Saviô
Ø      Ý nghĩa của cuộc hành hương Thánh Quan Don Bosco
1. VIỆC TÔN SÙNG HÀI CỐT TRONG GIÁO HỘI
Cái chết theo các Kitô hữu trong Thế kỷ thứ nhất
Biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại là sự sống lại của Chúa Giêsu. Các tông đồ và các môn đệ tiên khởi, sau khi Chúa Phục sinh hiện ra và sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, bắt đầu hiểu tất cả những gì Chúa Con đã mặc khải cho họ. Các cuốn Tin mừng xác quyết rằng nhiều lần Chúa Giêsu đã tiên báo cho các môn đệ Ngài biết về cái chết và sự sống lại của Ngài. Trong trình thuật về sự phục sinh Ông Lagiarô, Chúa Giêsu cống hiến một dấu chỉ về quyền năng cứu rỗi của Ngài, tỏ cho cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi biết rằng ai tin vào Ngài – sự sống lại và sự sống – sẽ có đời sống vĩnh cửu :
Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy." Đức Giê-su nói : "Em chị sẽ sống lại !" Cô Mác-ta thưa : "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết." Đức Giê-su liền phán : "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?"  Cô Mác-ta đáp : "Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 20-27).
Các tôn giáo khác, được thực thi trong Đế quốc Rôma, đối với cái chết, có một quan niệm khác. Phần đa họ tưởng tượng rằng đàng sau cái chết, các linh hồn người qua đời, như những bóng tối, tiếp tục hiện hữu, “người tốt” cùng với “người xấu”.
Các Kitô hữu nghĩ rằng để hưởng Thiên đàng họ phải tin vào Chúa Giêsu và tuân giữ các lời Ngài dạy dỗ. Thiết yếu họ thuộc về một công đoàn Kitô hữu, không thể tự cứu lấy mình. Chúa Giêsu luôn quy tụ các môn đệ chung quanh Ngài, kể cả sau khi Ngài lên trời, các tín hữu tiếp tục quy tụ với nhau và bẻ bánh với nhau, như Thầy đã dạy họ.
Cộng đoàn khi sống và sau khi chết
Đối với các Kitô hữu, đức tin vào một mình Thiên Chúa và việc thờ phượng Ngài không hoàn toàn là việc riêng tư, nhưng cũng tác động trên hạnh kiểm cá nhân và xã hội của họ. Chúa Giêsu đã mặc khải Thiên Chúa là Cha : “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào : Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người” (1 Ga 3, 1). Sự nhận biết này tạo nên nơi người Kitô hữu một tương quan hoàn toàn đặc biệt giữa họ với nhau như là con Thiên Chúa, tựu chung, họ là anh chị em với nhau. Thánh Phaolô, trong một số thư, so sánh cộng đoàn Kitô hữu với thân thể bao gồm nhiều chi thể - ngài gọi là nhiệm thể - khi nói rằng chính Chúa Giêsu là đầu thân thể : “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu” (Cl 1, 18).
Chúa Kitô hiện diện cách huyền nhiệm và thực sự trong cộng đoàn tín hữu : “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18, 20).
Ngoài ra Sách Công vụ Tông đồ làm chứng cho chúng ta rằng trong các cộng đoàn tiên khởi các Kitô hữu đã thực sự chia sẻ của cải : giúp người nghèo, hỗ trợ các bà goá, chăm sóc người ốm. Do đó, Giáo Hội, khi các phần tử của mình còn sống đã hiệp nhất với nhau, và nhờ lời hứa của Chúa Giêsu, sự hiệp nhất tiếp tục sau khi chết.
Khi suy gẫm về những lời của Chúa Giêsu, Giáo Hội khởi nguồn ngày càng hiểu rằng sự thuộc về nhiệm thể cũng có liên quan với những người qua đời, vì thế sợi dây hiệp thông này không bị cái chết phá hủy. Chết không có nghĩa là hết, nhưng là bước vào đời sống mới, sau khi phán xét chung, cũng sẽ có liên quan đến thân xác.
Vì lý do này Giáo Hội từ chối thói quen ướp xác của người ngoại, nhưng muốn an táng (chôn) người thân mình, cũng noi theo gương Chúa Giêsu được an táng và phục sinh.
Trong khi người ngoại nói về “necropoli” (nghĩa địa), nghĩa là thành phố người chết, các Kitô hữu coi các nghĩa địa của mình là “coemererium” (nơi ngủ), như là nơi nghỉ ngơi, ở đó họ ngủ cho đến khi sống lại. Nếu hiểu đức tin vào sự sống lại theo nghĩa đen, thì các nấm mồ thường chỉ được dùng một lần.
Trái lại, trong Rôma cổ xưa, người ta có thói quen chôn người chết trong hố chung, thậm chí các trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và những người nô lệ cũng bị ném vào đó, vì họ không có giá trị gì cả.
Việc tưởng nhớ các Kitô hữu qua đời
Trách nhiệm đối với nhau và tình liên đới là đặc điểm của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, không kết thúc với cái chết, cũng bao gồm những người thân đã qua đời; nếu thực sự người qua đời không được an táng xứng đáng, thì cộng đoàn không để họ trong một quan tài được trang hoàng. Sự tôn kính sâu xa này đối với người qua đời như là anh chị em trong đức tin là điều hoàn toàn mới trong Rôma cổ xưa.
Việc than khóc khi cha mẹ hay bạn thân qua đời, như lòng biết ơn đối với thời gian sống với nhau, thôi thúc các Kitô hữu liên lỉ viếng các mồ của họ. Ngay cả người ngoại cũng thăm viếng những người qua đời, nhưng các Kitô hữu có động cơ sâu xa hơn : đức tin của họ. Họ sâu xa tin chắc rằng trong tương lai họ sẽ sống chung với nhau, sau khi được giao hoà, một lần cho mãi mãi. Vì biết rằng tất cả là con của Cha duy nhất, anh chị em trong đức tin, họ nghĩ rằng : Ở nơi những người thân chúng ta đã ngủ, chúng ta cũng sẽ ngủ cho đến ngày phục sinh, trong nơi an nghỉ chung; được cùng an táng, không quan tâm tới tiếng tăm, nghề nghiệp, giầu sang hay nghèo hèn. Họ biết rằng một ngày kia tất cả sẽ được bao hàm trong lời cầu nguyện cho người qua đời được an nghỉ.
Hang toại đạo : đất thánh Kitô giáo đầu tiên
Trong thế kỷ thứ nhất các Kitô hữu Rôma không có nghĩa địa riêng. Nếu họ có đất, họ chôn cất người qua đời của mình ở đó; nếu không, họ chôn nơi nghĩa địa chung, người ngoại cũng dùng. Chính vì thế Thánh Phêrô đã được chôn trong nghĩa địa thành phố, trên Đồi Vatican, mở cửa cho mọi người; Thánh Phaolô cũng vậy, ngài được chôn trong nghĩa địa thành phố ở đường Ostiense.
Trước hết trong thế kỷ thứ hai Kitô giáo bắt đầu phát triển và hoán cải người ngoại thuộc gia đình giầu có hay có địa vị. Các tín hữu này có đất hay nghĩa địa gia đình, họ cũng cho các bạn trong đức tin sử dụng. Như được biết, Kitô giáo phải trải qua những khó khăn to lớn, nhất là vì ngoại giáo và một số hoàng đế Rôma. Vì là độc thần, các Kitô hữu từ chối coi hoàng đế là chúa và thiên chúa (dominus và deus), gây nên nơi quyền bính những định kiến và sự phẫn nộ. Một số lời đồn thổi và vu khống đã gậy nên sự thù nghịch thực sự, sau đó biến thành bách hại, nhiều khi cũng có kế hoạch. Như vậy người ta có thể hiểu rằng các Kitô hữu viếng những người quá cố của mình và cầu nguyện bên cạnh mộ của họ, bị dân chúng quấy rối và lăng nhục hay tìm thấy những ngôi mộ của mình bị xúc phạm và tục hoá.
Do đó nẩy sinh ước muốn có một nơi an táng dành riêng cho cộng đoàn, ở đó có thể tưởng nhớ những người qua đời mà không gặp nguy cơ bị quấy nhiễu. Các Kitô hữu gia tăng, nhu cầu nơi an táng mới cũng gia tăng. Luật Rôma bảo đảm quyền dùng đất đai riêng, kể cả dưới lòng đất; chỉ cần đào phần đất mình muốn dùng, nhưng phải tôn trọng ranh giới.
Các Hang toại đạo bắt đầu như vậy. Nhiều hang toại đạo xuất hiện và bắt đầu chung quanh các nơi an táng gia đình. Với thời gian phạm vi an táng được mở rộng, đôi khi do sáng kiến của chính Giáo Hội. Danh tiếng nhất là Hang Toại Đạo Thánh Callisto : Giáo Hội trực tiếp đảm nhận việc tổ chức và điều hành.
Các cuộc bách hại và việc tôn kính các Tử đạo
Như đã nêu lên ở trên, trong các thế kỷ đầu tiên sau Đức Kitô, các Kitô hữu bị tố cáo là phản quốc, vô thần, vô đạo đức và ghét loài người. Họ bị nghi ngờ về các tội phạm bí mật, như loạn luân – thực vậy họ coi tất cả là anh chị em -,  giết trẻ sơ sinh và ăn thịt đồng loại – họ nói về việc ăn Mình Chúa Kitô. Dưới hình thức tội phạm, họ còn bị coi là nguyên nhân của các thiên tai, như dịch tả, lũ lụt và nạn đói.
Vì những lý do này Kitô giáo bị đặt ra ngoài pháp luật và bách hại, vì bị coi là kẻ thù nguy hiểm nhất của quyền bính Rôma, được đặt trên tôn giáo olympic (điền kinh hay đồi Olympia) cổ xưa và trên việc tôn thờ hoàng đế như là dụng cụ và biểu tượng của sức mạnh và hợp nhất của đế quốc. Nhiều Kitô hữu bị giết, họ muốn dâng hiến đời sống mình chỉ vì không từ chối đức tin vào Chúa Kitô. Những lời của Chúa Giêsu về tử đạo đã bắt đầu được thực hiện một cách bi thảm :
"Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy” (Lc 21, 12).
“Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em” (Ga 15, 20).
Ba Thế kỷ đầu tiên là thời kỳ tử đạo.
Năm 313 với “Chiếu chỉ Milan”, các Hoàng đế Costantino và Licinio cho phép Giáo Hội tự do thờ phượng. Trong mỗi trường hợp, trước Hoàng đế Costantino, cuộc bách hại không luôn liên tục và tổng quát, cho dù mở rộng toàn thể đế quốc, cũng không luôn dữ tợn và đổ máu giống nhau. Sau thời kỳ bách bại có thời kỳ tương đối yên ổn.
Các Tử đạo trở nên Chứng nhân Đức Tin tuyệt vời. Một đại văn hào Kitô giáo, Ông Tertuliên xác quyết rằng “máu của các ngài là hạt giống nầy sinh các Kitô hữu mới”. Dần dần, việc tưởng nhớ những người quá cố trở nên mãnh liệt hơn, đó là sự tưởng nhớ anh em đã thực hiện lời Chúa Giêsu cho đến hy sinh mạng sống, là sự thiện cao cả :
“Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5, 11).
Các Tử đạo bắt đầu được tôn kính và kêu cầu nơi các Giáo Hội địa phương cách chung trong dies natalis, tức là ngày các ngài sinh trên trời. Một thực hành liên lỉ của Giáo Hội là quy tụ với nhau trong cộng đoàn phụng vụ hay trên nơi các Tử đạo đã nêu lên chứng từ đức tin của mình vào Thiên Chúa, hoặc nơi các mộ vinh hiển của các ngài. Nhiều tín hữu bắt đầu muốn được an táng gần mộ các ngài. Khi viếng Hang Toại đạo Thánh Callisto, người ta có thể ghi nhận rằng bên cạnh mộ Thánh Nữ Cecilia Tử đạo, có nhiều mộ của những người quá cố đạo đức
Việc cầu nguyện trên mộ các Tử đạo kết hiệp trong hiệp thông ngợi khen và khẩn cầu các chi thể Giáo Hội dưới đất với những người đã chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa. Sự hiệp thông này có thì mạnh là Thánh Thể, khi trời và đất, các thiên thần, các thánh và tất cả các tín hữu lữ hành kết hiệp với nhau trong cùng một sự ngợi khen nhờ Chúa Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, tôn vinh Chúa Cha.
Việc tôn kính hài cốt các Tử đạo : Thánh Phêrô và Thánh Polycarpô
Trong các Tử đạo đầu tiên đã dâng hiến mạng sống để bảo vệ Tin Mừng chứng từ của Thánh Phêrô nổi bật hơn tất cả. Chúng ta đã ghi nhận rằng ngài được an táng trong nghĩa trang thành phố trên Đồi Vatcian, mở rộng cho tất cả.
Năm 1952 việc đào bới được tiếp tục dưới bàn thờ của Đức Giáo Hoàng trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, với những kết quả giúp chúng ta hiểu tầm mức quan trọng của việc tôn kính mộ các Tử đạo đối với các Kitô hữu đầu tiên như thế nào, trong những mộ đó có di hài của các ngài. Một kệ liên quan đến an táng được tân trang và gắn vào tường đương thời, được gọi là “tường đỏ” vì màu và đặc biệt vì sự quý báu đối với nhiều hình vẽ được chồng lên. Nhiều nhà nghiên cứu được chuẩn bị tốt đã nhận diện những hình vẽ đó. Tất cả chứa đựng những lời cầu khẩn Thánh Phêrô. Đôi khi tên Chúa Kitô và Mẹ Maria được liên kết với tên của ngài; người ta tìm thấy lời cầu chúc sống “trong Chúa Kitô” và “trong Thánh Phêrô”, tên của ngài được tỏ lộ qua chìa khoá biểu tượng. Trong chính nghĩa trạng thành phố Vatican đó, trên mộ Valeri, người ta tìm thấy câu sau đây :
«Petrus, roga pro sanctis hominibus chrestianis ad corpus tuum sepultis:
Lạy Thánh Phêrô, xin cầu cho các Kitô hữu thánh
được an táng bên cạnh thân xác ngài”
 
Hiển nhiên đó là kinh nguyện cho các Kitô hữu được an táng bên cạnh thân xác Tông đồ, dấu chỉ chính Thánh Phêro đã được an táng ở đó và ngài được kêu cầu. Hình như vào khoàng năm 150 sau Đức Kitô, chỗ này của Rôma trên Đồi Vatican đã là mục tiêu của những người hành hương.
Trái lại, Thánh Polycarpô sinh ở Smyrna, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, năm 69. Thánh Irênê, môn đệ và giám mục Lion ở Gallia, đã viết rằng “Thánh Polycarpô được chính các Tông đồ đặt làm Giám mục Á Châu trong Giáo Hội Smyrna”, vào năm 100. Ngài được tôn kính như là môn đệ của Thánh Gioan và chứng nhân cuối cùng của các Tông đồ. Khoảng năm 157 nổ ra cuộc bách hại ở Smyrna. Giám mục cao tuổi (86 tuổi) bị đưa vào thao trường, vì Tổng Trấn Rôma, Quadrato kết án ngài. Thánh Polycarpô từ chối bảo vệ mình trước Ông Tổng Trấn muốn cứu ngài, và trước dân chúng, vì ngài tuyên bố mình là Kitô hữu. Ngài bị giết trong khi tạ ơn Thiên Chúa Cha đã coi ngài xứng đáng được kể vào các Tử đạo và thông phần vào Chén của Chúa Kitô.
Sau cuộc tử đạo của Giám mục Polycarpô và 11 tín hữu, Giáo Hội Smyrna đã viết cho các Giáo lân cận và cho tất cả các cộng đoàn Giáo Hội Phổ quát, kể lại cái chết vinh quang của các ngài. Họ thêm những lời này để minh xác tầm mức quan trọng của việc tôn kính hài cốt các Tử đạo :
“Chúng tôi tôn kính cách xứng đáng các Tử đạo như là môn đệ noi gương Chúa và vì sự trung thành cao cả của các ngài với chính Vua và Thầy, xin cũng ban cho chúng con trở nên bạn hữu và môn đệ các ngài! [...]
Sau khi thu thập các xương của Thánh Polycarpô qúy báu hơn đá qúy hiếm và tinh khiết hơn vàng ròng, chúng tôi đặt vào đúng chỗ theo lễ nghi. Và trong chỗ này mỗi khi có thể, chúng tôi quy tụ trong hân hoan và vui mừng, Chúa cho chúng tôi cử hành việc tưởng nhớ sự tử đạo của ngài, và nhớ đến biết bao Tử đạo đã đối diện với chính cuộc chiến đấu đó, thực hành và chuẩn bị của biết bao Tử đạo sẽ đối diện trong tương lai” (Martyrium Polycarpi : XVII, 3; XVIII, 2-3).
Với chính những tâm tình của anh chị em Smyrna, chúng ta muốn cầu nguyện bên cạnh mộ các Tử đạo vinh hiển và cử hành ngày sinh (dies natalis) của các ngài trong hân hoan. Nhờ sự chuyển cầu của các ngài, đức tin chúng ta sẽ được mạnh mẽ hơn để có thể bình thản đối diện với những thử thách của đời sống
HÀI CỐT CỦA CÁC TỬ ĐẠO VÀ NHỮNG ĐỒ CÒN LẠI CỦA CÁC NGÀI
LÀ NHỮNG KỶ NIỆM QÚY BÁU PHẢI ĐƯỢC GÌN GIỮ CẨN THẬN
Không phải chúng có những quyền lực huyền bí có thể làm phép lạ, nhưng hoàn toàn khác!
Những hài cốt này, và như ta cũng sẽ thấy, hài cốt các thánh,
cho chúng ta được tiếp xúc sự chứng tá anh hùng
của một đời sống hoàn toàn dâng hiến cho Tin Mừng,
KHƠI DẬY VÀ KIỆN CƯỜNG NƠI CHÚNG TA ĐỨC TIN VÀO CHÚA KITÔ.
ĐỨC TIN VÀO CHÚA KITÔ LÀ ĐỨC TIN DUY NHẤT
CÓ KHẢ NĂNG DI CHUYỂN CÁC NÚI.
CHÍNH VÌ THẾ, KHI CẦU NGUYỆN BÊN CẠNH CÁC PHẦN MỘ VINH HIỂN CỦA CÁC NGÀI
HỌ NHẬN ĐƯỢC NHIỀU ÂN SỦNG.
 
 
Trong Lịch sử Giáo Hội, không phải tất cả các Kitô hữu được mời gọi đến sự tử đạo, nhưng tất cả được mời gọi trở nên chứng nhân đức tin. Các Kitô hữu, hơn tất cả mọi người thực hiện ơn gọi này, là thánh. Các ngài tiêu hao đời mình vì Nước Chúa, các ngài đi trước chúng ta trong việc tích cực sống đức tin Kitô giáo và, với mẫu gương của các ngài, đã vạch ra cho chúng ta cuộc hành trình dẫn đến Nhà Cha. Các ngài xứng đáng được tưởng nhớ và tôn kính, các ngài giúp chúng ta kiện cường đức tin chúng ta ngày càng hơn.
Trong chương sau, chúng ta sẽ nói về các ngài.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm