Danh mục bài viết

Cập nhật 19/7/2019 - 4:12 - Lượt xem 3147

Các bài Suy niệm Chúa Nhật 16 Thường Niên năm C

Lời Chúa: St 18, 1-10; Cl 1, 24-28; Lc 10, 38-42

 

1. Chỉ có một điều _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Trên dặm đường rao giảng Tin Mừng, 
thỉnh thoảng Ðức Giêsu và các môn đệ 
gặp được một chỗ nghỉ chân chan chứa tình người. 
Mácta là chủ nhà đón tiếp Ðức Giêsu. 
Chị tất bật lo việc tiếp đãi nấu nướng, 
chị lo lắng trước bao việc phải làm ngay 
để có được một bữa ăn thịnh soạn 
hầu tỏ lòng kính trọng đối với vị khách quý. 
Trong khi đó cô em Maria lại vô tư và bình thản, 
ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Người. 
Maria say mê nghe Lời Chúa, 
Lời mở tâm tư cô ra trước những chân trời mới mẻ. 
Cô thấy chẳng có gì hạnh phúc hơn giây phút này, 
được ngồi nghe Thầy giảng như một môn đệ thực thụ. 
Mácta không hiểu được cô em gái, 
chị cũng không hiểu được Ðức Giêsu, 
nên cuối cùng chị đã đến thưa với Chúa: 
Thầy không để ý tới sao? 
Mácta muốn Thầy để ý đến việc mình đang làm, 
muốn Thầy nhận ra sự vất vả mình phải chịu. 
Em con để mình con phục vụ. 
Mácta tưởng chỉ có mình mới là người phục vụ. 
Chị không nhận thấy rằng Maria cũng đang tiếp khách 
và ngồi nghe Chúa cũng là một cách phục vụ. 
Xin Thầy bảo em giúp con một tay. 
Mácta kéo Ðức Giêsu vào cuộc, 
kéo Ngài đứng về phía mình, phía đúng, 
để gây áp lực trên cô em. 
Chị muốn Maria phải vào bếp với mình, 
phải phục vụ theo kiểu của mình. 
Ngấm ngầm, Mácta không chấp nhận kiểu phục vụ của Maria. 
Có lẽ chị nghĩ đó là một hành vi vô ích, 
trong khi có biết bao việc quan trọng khác cần làm. 
Ðức Giêsu không ghét Mácta, 
không coi nhẹ việc phục vụ của chị, 
nhưng buộc lòng Ngài phải lên tiếng. 
Ngài muốn giải phóng Mácta khỏi nỗi bồn chồn quá mức. 
Ngài muốn giải phóng chị khỏi cái tôi, khỏi lối nhìn hẹp hòi, 
để nhận ra điều duy nhất cần thiết. 
Ngài gọi tên chị hai lần: Mácta! Mácta! 
Con lo lắng và xao động vì NHIỀU chuyện quá, 
dù chuyện ấy là chuyện con lo cho Thầy. 
Cần thanh lọc lòng mình khỏi những tìm kiếm vị kỷ, 
khỏi những ganh tị nhỏ mọn và tự mãn ngấm ngầm, 
để có thể làm việc cho Chúa trong bình an thư thái, 
dù có gặp thất bại hay bị lãng quên. 
Chỉ có MỘT chuyện cần mà thôi. 
Coi chừng nỗi lo lắng về nhiều chuyện phụ 
lại làm ta quên mất chuyện chính, một chuyện cần hơn cả, 
đó là an tĩnh gặp gỡ và lắng nghe Chúa mỗi ngày 
trong tư thế khiêm hạ của người môn đệ. 
Cuộc sống dồn dập hôm nay dễ biến chúng ta thành Mácta: 
xao động, âu lo, căng thẳng, mất kiên nhẫn. 
Cả người làm việc cho Chúa cũng bị cuốn hút. 
Có lẽ cần bớt việc và thêm giờ cầu nguyện, 
cần để cho Chúa làm việc nơi tôi và qua tôi 
thay vì tự mình bươn chải một mình. 
Phải chăng đời Kitô hữu là kết hợp giữa Mácta và Maria, 
giữa tất bật và an tĩnh, 
giữa lăng xăng và ngồi yên, 
giữa hoạt động và cầu nguyện? 
Ðể rồi giữa tất bật, tôi tìm thấy an tĩnh, 
giữa lăng xăng, tôi thấy mình ngồi yên, 
giữa hoạt động, tôi thấy mình chiêm niệm. 

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, 
xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng. 
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, 
xin cho con quý chuộng những lúc 
được an nghỉ trước nhan Chúa. 
Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, 
xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa 
để nghe lời Người. 
Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, 
xin cho con thoát được lên cao 
nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện. 
Lạy Chúa, 
ước gì tinh thần cầu nguyện 
thấm nhuần vào cả đời con. 
Nhờ cầu nguyện, 
xin cho con gặp được con người thật của con 
và khuôn mặt thật của Chúa. 

 

 

2. Làm việc và cầu nguyện _ Lm G.B Trần Văn Hào, SDB

Con người là một huyền nhiệm, được Thiên Chúa dựng nên có hồn và xác. Con người phải làm việc để có của ăn nuôi thân xác, nhưng chúng ta cũng cần cầu nguyện để có lương thực nuôi linh hồn. ‘Làm việc và cầu nguyện’ (Orare et laborare) là châm ngôn sống của Thánh Biển Đức, đồng thời cũng là sứ điệp mà lời Chúa nhắn gửi chúng ta hôm nay, đặc biệt qua 2 hình ảnh Mat-ta và Maria được phác vẽ trong Tin mừng.

Hai vị thánh với 2 dung mạo khác nhau.

Sự thánh thiện của Mat-ta và Maria được biểu tỏ qua 2 dạng thức. Matta thì lăng xăng phục vụ Chúa qua những bận rộn bên ngoài, còn Maria thì ngồi thinh lặng bên chân Chúa để nghe những lời Ngài ngỏ trao. Chúa Giêsu nói: “Mat-ta, con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Không phải Chúa chê trách Mat-ta về những bận rộn bên ngoài, nhưng Chúa mời gọi tất cả chúng ta phải quy hướng mọi việc trong cuộc sống về với Chúa để diễn bày tình yêu đối với Ngài. Những hoạt động để phục vụ thì rất tốt, nhưng nếu không khởi nguồn từ tình yêu quy hướng về Chúa, thì đó chỉ là những công việc từ thiện, thuần túy mang chiều kích xã hội bề ngoài mà thôi. Đức Thánh Cha Piô 12 gọi đó là lạc giáo (hérésie de l’action), một loại chủ nghĩa duy hoạt động, thiếu vắng chiều kích linh thánh bên trong. Mẹ Têrêsa Calcutta dạy các con cái mình mỗi ngày phải dành ít nhất một tiếng đồng hồ để nguyện ngắm, hầu kín múc sức mạnh nơi tình yêu Thiên Chúa trước khi bắt tay vào công việc dấn thân phục vụ người nghèo.

Sa mạc hóa tâm hồn: Thinh lặng để lắng nghe.

Hình ảnh của Maria được Chúa Giêsu đánh giá rất cao hôm nay. Maria đã rút lui vào trong cô tịch của sa mạc tâm hồn để nghe Chúa nói. Trong Thánh kinh, sa mạc là nơi Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người và cũng là nơi con người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Trong sa mạc, Thiên Chúa ngỏ trao sứ mạng. Cũng trong sa mạc, con người được Thiên Chúa giáo dục và hướng dẫn. Đó là cách thế để chúng ta tìm lại cho mình sự bình an và sức mạnh vươn tới, giữa những bươn chải và chộn rộn của cuộc sống hằng ngày. Ngày xưa, Araham đã đi vào sa mạc Ả Rập để gặp Đức Chúa Giavê và đón nhận sứ mạng trở nên tổ phụ một dân tộc đông đúc. Môise cũng đi vào sa mạc Sua để được Chúa ban chỉ lệnh đưa dẫn đoàn dân ra khỏi Ai cập. Trước khi tiến vào đất hứa, dân Israel cũng phải kinh qua cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc để được Thiên Chúa sửa dậy. Giữa những lo toan của cuộc sống đời thường hôm nay, Chúa cũng muốn chúng ta biến tâm hồn mình thành sa mạc để trong tĩnh lặng, chúng ta nghe được tiếng Chúa và được nuôi dưỡng bằng chính lời hằng sống của Ngài. Trong tĩnh lặng giữa đêm khuya, Samuel đã nghe thấy tiếng Chúa đang gọi ông. Cũng giữa đêm trường vắng lặng, Thánh Giuse đã nghe tiếng Chúa mời gọi để đón nhận Maria về nhà và sau đó dẫn đưa gia đình Nazareth trốn sang Ai Cập. Sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống, đặc biệt những lo toan về tiền bạc, về chức quyền, là những tiếng động ầm ĩ cản che đôi tai của cõi lòng, khiến chúng ta không thể nào nghe được những điều Thiên Chúa đang nói với chúng ta.

Cầu nguyện trước hết là biết nghe tiếng Chúa.

Một nhà tu đức nọ đã phân định việc cầu nguyện gồm 4 cấp độ. Cấp độ sơ đẳng đầu tiên : Tôi nói Chúa nghe. Cấp độ cao hơn: Chúa nói tôi nghe. Cấp độ thứ 3: Không ai nói, cả 2 đều nghe. Và đỉnh cao của việc cầu nguyện là ở cấp độ sau cùng, chúng ta đến gặp Chúa, không ai nói, chẳng ai nghe, tất cả thinh lặng hoàn toàn để đi vào sự hiệp thông một cách trọn vẹn. Khi đến nhà thờ cầu nguyện, chúng ta vẫn thường đọc các câu kinh, lắm khi giống như một cái máy vô hồn, nhưng chúng ta dễ quên mất điều quan trọng là cần tập sống thinh lặng để nghe những điều Chúa muốn nói với chúng ta. Maria là hình mẫu tuyệt hảo về việc cầu nguyện. Cô đã gác lại nhưng chộn rộn vướng bận bên ngoài, không phải vì lười biếng hay thích đùn đẩy công việc cho người khác. Nhưng, lý do duy nhất như Chúa Giêsu đã nói, chính là : “Chỉ có một chuyện cần thiết hơn. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bao giờ bị lấy đi”. Ông Mahatma Gandhi đã từng bộc bạch : “Tôi không phải là một ẩn sỹ hay một khoa học gia nhưng tôi tự hào là một người biết cầu nguyện. Chính cầu nguyện đã cứu thoát đời tôi”.

Kết luận

Nơi các vị thánh lớn, chúng ta luôn thấy có sự kết hợp hài hòa giữa làm việc và cầu nguyện. DonBosco vẫn được mệnh danh là con người ‘chiêm niệm trong hoạt động’. Trở nên một nhà thần bí (mystic) không phải chỉ là suốt ngày ngồi đọc kinh hay ngất trí trong nhà thờ, nhưng quan trọng hơn cả là biết kín múc tình yêu từ nơi Thiên Chúa trong chiêm nghiệm và đem tình yêu ấy dàn trải trong mọi hoạt động tông đồ hằng ngày. Maria và Matta mà bài Tin mừng hôm nay nói tới đã trở nên mẫu gương cho tất cả mọi người chúng ta ngày hôm nay. 

 

 

3. Chọn phần tốt nhất _ Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Đức Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền cộng sản bắt khi ngài đang tiến hành những công việc của Giáo phận như mở Đại Chủng viện, các Dòng tu, các khoá huấn luyện… Ai sẽ là người kế nhiệm để lo những công việc mục vụ quan trọng này?. Ở trong tù, ngài lo lắng và ưu tư từ ngày này qua ngày khác. Rồi đến một ngày, ngài nhận ra rằng: “Tất cả những gì tôi đang lo lắng là việc của Chúa. Còn lúc này đây, Chúa muốn cho tôi tìm chính ý Chúa. Tôi đang làm việc cho Chúa thì tại sao lại lo lắng những công việc của Chúa. Nếu đã đạt được ý Chúa thì công việc của Chúa khắc có người lo”. Và từ lúc ấy, ngài tìm được bình an. Ngài chỉ tìm ý Chúa, còn công việc của Chúa thì người này lo, người khác lo và Chúa quan phòng luôn tiếp tục. Ngài nhận định: “Không phải Maria ngồi yên dưới chân Chúa vì làm biếng. Phúc Âm không phong thánh cho người làm biếng. Maria chọn phần tốt nhất: nghe Chúa nói, để Lời Chúa thấm tận tâm can, lay chuyển mình, làm việc trong mình. Có gì hoạt động bằng sự lột xác, sự biến đổi ấy?” (ĐHV 147).

Tin mừng hôm nay kể chuyện hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa Giêsu, mỗi người mỗi cách. 

Maria ngồi bên chân Chúa với tâm thế lắng nghe. Cô không làm gì, không nói gì, chỉ ngồi nghe. Cô đón tiếp Chúa Giêsu với một phong cách tốt nhất. 

Matta lo việc bếp núc, phục vụ ăn uống. Có lẽ Matta ganh tị với em nên khiếu nại với Chúa: "Thưa Thầy, em con để một mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay". Matta trách em, nhưng cũng là một cách kể công và khoe mình quan trọng và có thể coi đó như một lời trách khéo đối với Chúa Giêsu.

Nhưng Chúa nhẹ nhàng đáp lại: "Matta, Matta ơi, con lo lắng bận rộn nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất". Chúa đã khen Maria biết chọn phần tốt nhất. Chọn phần tốt nhất không phải là chọn làm nhiều, nhưng là biết nghe, hiểu và làm theo ý Chúa. Việc lắng nghe để nhận ra thánh ý Chúa nhiều khi đòi hỏi người ta phải biết cầu nguyện, phải giữ một tâm hồn thanh tĩnh và phải biết tập trung cao độ để nhận ra được thánh ý Chúa.

Người ta thường giải thích câu nói của Chúa Giêsu như một sự đề cao chiêm niệm trên hoạt động. Matta tiêu biểu cho đời sống hoạt động,lo lắng về những nhu cầu vật chất. Maria tiêu biểu cho đời sống chiêm niệm, lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện. Trên thiên đàng người ta chỉ còn chiêm ngắm Thiên Chúa trong niềm hạnh phúc vĩnh cữu. Như thế, Maria đã đạt tới cùng đích của đời sống Kitô hữu. "Phần hơn" của cô là ở chỗ đó. Có Chúa rồi, "chiếm hữu" được Chúa rồi thì còn gì hơn nữa!

Chúa Giêsu đón nhận sự phục vụ ân cần của Matta và đưa ra bậc thang giá trị, cần “chọn phần tốt nhất”. Chọn Lời Chúa và lắng nghe. Đó chính là “phần tốt nhất” như lời Tv 119: “Lạy Chúa, con đã nói, phần của con là tuân giữ Lời Ngài ”. Lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên đá (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời giúp tâm hồn trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc của Đức Maria là “lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 11,27-28).

Đối với Chúa Giêsu, cả hai cách phục vụ của Matta và Maria đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Ðiều Chúa muốn nhắc cho Matta là: việc cốt yếu đối với người môn đệ là “nghe Lời Chúa và đem ra thực hành”. Nhiều lần, Chúa nói về điều cốt yếu ấy: "Phúc cho ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 11,28); "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,21; Mt 12, 46-50; Mc 3, 31-35).Điều cốt yếu ở đây không phải là ưu tiên về thời gian (làm cái này trước rồi làm cái kia sau) hay số lượng (làm "việc Chúa" nhiều, làm "việc đời" ít)... nhưng ưu tiên về giá trị. Khi làm việc gì, nếu mình tận tình làm việc cho đẹp lòng Chúa, như Chúa muốn, thì mình vẫn đang chọn phần tốt nhất như cô Maria bởi vì mình vẫn đang qui chiếu về Chúa, đang lắng nghe lời Chúa và thi hành thánh ý Chúa về đời mình. Thánh Phaolô dạy: "Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh chị em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa" (1 Cr 10,31). 

Hoạt động và cầu nguyện là nhịp sốngđời Kitô hữu. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động và hoạt động là kết quả của cầu nguyện.Cầu nguyện làm nền tảng cho mọi hoạt động.Nhờ cầu nguyện nên việc phục vụ tha nhân được tốt hơn. Mẹ Têrêxa Calcutta và các Nữ tu dù bận rộn công việc hằng ngày vẫn luôn dành thời giờ tham dự Thánh lễ, chầu Thánh Thể. Mẹ luôn là gương sáng cho các Nữ tu,cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày dành một giờ chầu Mình Thánh Chúa, sau đó mới đến các nơi nghèo nàn ở Calcutta để chăm sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các căn nhà tồi tàn giúp những người hấp hối được chết lành.

Tham dự Thánh lễ chính là lúc chúng ta như Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, xin đừng dè sẻn cò kè thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, xin đừng dự lễ kiểu “đạo gốc cây”, “đạo vòng vòng” ở ngoài sân nhà thờ. Xin đừng đến với Chúa chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ tội. Hãy đến với Chúa như một người con thảo, đến để gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, đến là vì lòng yêu mến Chúa và muốn sống hiếu thảo với Ngài mà thôi.

Thánh lễ cũng chính là lúc Chúa đến thăm và ban ơn sủng cho chúng ta. Hãy quý trọng sự hiện diện của Chúa. Hãy tham dự tích cực, linh động, cầu nguyện sốt mến, thưa chuyện với Chúa. Lời Chúa và Thánh Thể ban thêm cho chúng tađức tin, tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ để chúng ta dấn thân phục vụ anh em.

Lạy Chúa Giêsu,

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa. 

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe Lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện. 

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.

Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của ChúaAmen.(Mana)

 

 

4. Phục vụ Lời Chúa _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Chúng ta chưa quên bài Tin Mừng Chúa nhật trước về người Samaria nhân ái. Chúa dạy chúng ta phải thi hành bác ái yêu thương để sống đạo. Tuy nhiên phụng vụ cũng đã đề phòng, không muốn cho ai ngộ nhận đạo chỉ là từ thiện.

Bài Tin Mừng hôm nay muốn củng cố quan niệm này. Chúng ta thấy Ðức Giêsu có vẻ khen Maria hơn Matta. Nhưng để hiểu rõ ý Chúa, chúng ta hãy nhờ tất cả các bài Kinh Thánh của phụng vụ hôm nay.

Câu chuyện Abraham tiếp khách trong bài đọc I và tâm tư của Phaolô trong bài đọc II sẽ giúp chúng ta không quá khích khi suy diễn Lời Chúa.

1/ Phục vụ là điều đáng khen

Thật vậy, ai không thấy Abraham là người đặc biệt trong câu chuyện hôm nay. Ở thời bấy giờ dễ gì tìm được một người nào quảng đại và hồn nhiên đến như thế? Chúng ta phải nhớ lại những thời buổi xa xưa ở những dân tộc rất hiếu khách để hiểu câu chuyện này.

Abraham hôm ấy đang ngồi nghỉ trưa ở cửa lều, dưới bóng một cây sồi to. Chắc chắn sức nóng của mặt trời đúng ngọ ở nơi sa mạc tắt gió đang làm cho thân thể ông uể oải và buồn ngủ. Nhưng kìa ở đàng xa có bóng ba người tiến đến. Ba lữ khách đi vào giờ này giữa bãi cát mênh mông và nóng bỏng phải là những người đặc biệt gì đây.

Người ta ở thời Abraham và riêng trong vùng Cận Ðông, hay chuyền tai nhau những câu chuyện lạ lùng: thần thánh hay lấy hình khách lạ đến viếng thăm vào những lúc bất ngờ để thử thách lòng người. Abraham có lẽ cũng chia sẻ niềm tin ấy. Bóng dáng ba người khách đang tiến về phía lều của ông vào giờ trưa nóng bức, oi ả và mệt mỏi lúc này, có thể là một chuyện bất ngờ.

Ông liền bỏ lều chạy ra về phía khác. Ông sấp mình chào hỏi. Ông tự đặt mình như tôi tớ của những nhân vật kỳ lạ. Và có lẽ ông nghĩ nhân vật đi giữa hẳn có ưu vị, nên tuy đứng trước ba vị ông vẫn thưa như chỉ muốn thỉnh ý người quan trọng hơn: "Thưa Ngài, nếu tôi được nghĩa trước mặt Ngài, thì xin Ngài đừng xa rời tôi tớ của Ngài". Rồi không kịp để cho khách trả lời và muốn cho khách thấy lòng thành của mình mà không thể từ chối được, Abraham nói một hơi, xin đem nước cho các Ngài rửa chân và đem của ăn đến cho các Ngài lót lòng, trước khi các Ngài tiếp tục cuộc hành trình.

Dĩ nhiên là khách chấp nhận. Và chúng ta lại thấy Abraham, thành khẩn hơn nữa. Ông bảo bà Sara nhào bột làm bánh. Ông chạy ra chuồng, chính tay lựa con bê non béo tốt, trao cho đầy tớ làm thịt. Và ông chạy đi lấy sữa và nhũ men. Ông mời khách ngồi và khúm núm đứng hầu chuyện cũng như hầu bàn. Ông không chờ đợi gì cả; cũng không nghĩ gì đến mình. Ông chỉ biết có khách và chỉ biết thành khẩn phục vụ, vừa quảng đại vừa hồn nhiên.

Thái độ của Abraham khác hẳn cách cư xử của dân thành Sôđôma kể ở chương sau cũng của sách Khởi nguyên này. Thấy hai người khách lạ vào nhà ông Lot, họ đợi đến chiều tối; rồi kéo nhau đến đòi chủ nhà phải đem khách ra cho họ bạo hành.

Thế nên khi đặt hai câu chuyện này gần nhau, rõ ràng tác giả sách Khởi nguyên muốn đề cao tư cách của Abraham và muốn chúng ta bắt chước. Chúng ta phải hiếu khách và phục vụ quảng đại. Cựu Ước và Tân Ước không ngừng khuyên nhủ như vậy, không ai được lấy lẽ đạo đức nào để dèm pha việc phục vụ. Sống đạo mạc khải thì phải thi hành bác ái yêu thương.

Ở đây để làm chứng phục vụ là điều đáng khen, rất đẹp lòng Thiên Chúa, tác giả sách Khởi nguyên đã kết thúc câu chuyện trên bằng một lời hứa hẹn phấn khởi. Dùng bữa xong quí khách đã cho gia đnìh Abraham biết: vào mùa tới các ngài sẽ trở lại và khi ấy Sara đã có con trai rồi.

Chúng ta khó tưởng tượng lòng Abraham và Sara khi nghe báo tin như vậy... Ðó là điều hai người từng mơ ước chờ đợi. Nhất là chúng ta đừng quên gắn liền lời tiên báo này vào việc Abraham đãi khách ở trên. Há tác giả sách Khởi nguyên không muốn đặt việc tiếp khách và phục vụ vào trong viễn tượng của lời giao ước hay sao? Rõ ràng ông muốn nói rằng đạo chúng tôi đòi hỏi hết thảy có tinh thần phục vụ, phục vụ rất quảng đại và không tính toán, phục vụ khiêm tốn và hồn nhiên. Abraham trong câu chuyện này đã được nhiều danh họa vẽ lại vì người ta muốn tấm gương mà ông treo lên hôm nay phải được người ở mọi thời nhìn ngắm. Người ta phải khen chứ không thể chê những hành vi phục vụ.

Thế mà sao thánh Luca trong bài Tin Mừng hôm nay lại có vẻ nghĩ thế khác, Matta phục vụ dường như bị chê; và Chúa thích Maria hơn. Chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận về câu chuyện này.

2/ Nhưng phục vụ phải theo trật tự

Matta và Maria là hai chị em tính tình rõ ràng khác nhau. Họ có một người em tên là Lazarô mà Ðức Giêsu sẽ làm cho sống lại, ra khỏi huyệt. Có lẽ đó là một trong những gia đình được Ðức Giêsu đi lại nhiều. Và hôm nay cũng như mọi lần. Matta muốn tỏ ra không những hiếu khách mà còn quý thầy. "Bà bận rồn với những công việc phục dịch bộn bàng". Tác giả Luca đã dùng những lời như vậy để diễn tả con người của bà lúc ấy. Và nếu chúng ta quan sát bà trong câu chuyện Ðức Giêsu làm cho em trai bà là Lazarô sống lại, chúng ta cũng vẫn thấy bà hoạt động, đảm đang và để mắt đến hết mọi công việc. Cũng vì vậy mà tuy bận rộn với bao việc làm ở dưới bếp, mắt bà vẫn còn nhìn thấy thái độ của cô em là Maria. Cô này cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Người và chẳng màng chi đến việc phục dịch giúp đỡ chị một tay.

Phân tích tâm lý của Matta và dựa vào câu bà phàn nàn với Chúa: "Em tôi để tôi một mình phục vụ", có tác giả ngày nay cho rằng việc phục vụ của bà chưa quảng đại đủ vì chưa quên mình đủ. Khác với Abraham. Vị tổ phụ ngày xưa chỉ biết phục vụ, chỉ nhìn đến khách và không mảy may nghĩ đến mình. Matta thì không. Bà phục vụ nhưng nhìn thấy mình đang phục vụ... Bà chưa dồn hết mắt, hết lòng, hết linh hồn cho Chúa và cho việc tiếp rước. Bà còn thấy mình ở giữa những sự đó và còn muốn so sánh tìm cho được chỗ xứng đáng của mình. Cũng có thể bà sợ Chúa không để ý đến bà và không biết được các nỗi vất vả của bà.

Nhưng Matta lầm. Ðức Giêsu biết rõ mọi việc. Người không phán đoán bà một cách ngặt như các nhà phân tích tâm lý chúng ta vừa nói đâu. Người luôn dùng mọi hoàn cảnh để đưa người ta vào Nước Trời. Thế nên, nghe Matta phàn nàn về cô em, Ðức Giêsu âu yếm gọi "Matta, Matta". Rồi Người hé cho bà thấy mầu nhiệm Nước Thiên Chúa: "Con lo lắng xôn xao về nhiều chuyện. Chỉ có một điều cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt rồi; và sẽ không bị lấy mất".

Câu Chúa trả lời có thể đau cho Matta, nếu chúng ta nghĩ đây là lần duy nhất Người nói những lời tương tự. Nhưng ngược lại, nếu đọc lại các sách Tin Mừng và nhất là tác phẩm của Luca chúng ta sẽ thấy ở đây Ðức Giêsu chỉ áp dụng một giáo huấn mà Người không ngớt dạy dỗ. Ðã nhiều lần Người căn dặn môn đệ: đừng lo lắng quá mức về của ăn áo mặc, đừng lo mang tiền mang bị khi đi đường, đừng xao xuyến sẽ phải ăn nói thế nào... vì chỉ có một điều cần mà thôi là hãy tìm Nước Thiên Chúa trước đã.

Như vậy, nếu chúng ta hiểu rằng lúc ấy Ðức Giêsu đang ngồi trong nhà chị em Matta và Maria; và Người lợi dụng lúc chờ đợi dọn bữa mà có người muốn nghe lời; và Người đang dạy dỗ môn đệ và người ta; mà Matta sấn lại thưa như trên, muốn kéo cô em ra khỏi thái độ làm môn đệ là ngồi dưới chân để nghe Lời Chúa, thì dứt khoát Chúa phải trả lời lại cho Matta như vậy. Bà phải chen việc phục vụ bàn ăn vào việc phục vụ Lời Chúa, làm rối loạn công việc này, thì cũng như Phêrô sẽ nói sau này trong sách Công vụ các Tông đồ: "Không phải là điều đẹp lòng Chúa nếu chúng ta nhãng bỏ Lời Thiên Chúa mà đi lo giúp việc bàn ăn". Chúng ta biết cũng chính tác giả Luca viết câu chuyện này về các tông đồ phải chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa; còn việc phục vụ bàn ăn thì phải để lại cho những anh em đầy Thánh Thần được cộng đoàn bầu lên.

Không có một chút xíu tinh thần coi khinh việc phục vụ trong các câu chuyện này. Chỉ có một thứ tự phải nhìn nhận là chính đáng.

Ðó là việc phục vụ bàn ăn không được làm xáo trộn việc phục vụ Lời Chúa. Không được giựt ai ra khỏi thái độ làm môn đệ, thái độ mà Maria đã chọn, để đưa họ về thái độ phục vụ như tôi tớ. Matta lầm khi không nhìn thấy thái độ ngồi nghe Lời Chúa cũng là phục vụ và là phục vụ cần thiết hơn. Bà cũng nên biết phục vụ của bà có phần bận rộn bộn bàng đó. Abraham đã phục vụ hết tình nhưng bình tĩnh vô cùng.

Dù sao, như đã nói không nên coi câu trả lời của Chúa như là những ý tưởng chỉ nói cho Matta và chỉ phát biểu có lần này ở đây thôi. Hiểu như vậy không thể nào không thương cho Matta được. Nhưng nếu hiểu đây là giáo huấn Chúa nói với mọi người và đã từng lặp lại ở nhiều trường hợp khác nhau, thì Matta không có gì phải buồn. Bà chỉ cần khiêm nhường đón lời mạc khải của Chúa về mầu nhiệm Nước Trời. Và Lời ấy sẽ có giá trị cứu độ. Vì nó nhắc nhở cho tất cả chúng ta nhớ luôn luôn phải gỡ mình ra khỏi những lo lắng thế gian, cản trở việc tìm kiếm Nước Trời. Và việc phục vụ bàn ăn, tức là việc phục vụ nói chung, vẫn không bao giờ được làm cản trở việc phục vụ Lời Chúa.

Nếu trong bài đọc I, phụng vụ hôm nay đã hết lời ca tụng thái độ phục vụ của Abraham thì thiết tưởng chúng ta cũng phải dễ tính để cho bài Tin Mừng hôm nay xếp đặt lại địa vị lắng nghe Lời Chúa và phục vụ Lời Người. Những người thông thái về Nước Trời phải biết rút ra cả những sự cũ và mới.

Ấy là chưa kể còn có một thứ phục vụ nữa cũng không được thiếu ở trong đạo ta và nơi đời sống đạo của chúng ta. Bài thư Phaolô sẽ đề cập đến.

3/ Ngay đau khổ cũng là phục vụ

Phaolô bấy giờ đang ở trong tù. Có lẽ đúng hơn người đang ở trong tình trạng là tù nhân nhưng vẫn được tại ngoại. Người gửi thư cho giáo đoàn Côlôsê. Và ở đoạn này, người nói đến mình không phải tự khoe nhưng để tín hữu hiểu thế nào là ơn gọi tông đồ.

Ðó là sứ mệnh được Thiên Chúa chỉ cho để rao giảng Lời Chúa. Riêng trường hợp của Phaolô, việc rao giảng này lại được quy định nơi dân ngoại, để cả lương dân được thấy mầu nhiệm của Chúa.

Mầu nhiệm này ngày trước còn bị giữ kín. Các dân tộc ngày xưa không được biết mạc khải của Chúa. Nhưng từ ngày Ðức Giêsu Kitô đã lên cây thập giá để hủy bỏ bức tường ngăn cách giữa dân "cắt bì" và những "dân không cắt bì", thì mọi dân tộc đều được biết mầu nhiệm phong phú và vinh quang, là mầu nhiệm Ðức Giêsu Kitô ở giữa mọi người có đức tin để hết thảy được tin tưởng vào vinh quang đang chờ mình.

Mầu nhiệm cứu độ này, Phaolô đang phục vụ cho lương dân khi chẳng quản gian lao thử thách, luôn rao giảng cho mọi người. Nhưng nay bị tù, bị hạn chế và quản thúc, Phaolô vẫn tiếp tục phục vụ dưới hình thức khác: đó là hình thức chịu đau khổ.

Và đây là điểm chúng ta nên nhớ, Phaolô coi trọng việc phục vụ Lời Chúa. Không ai đã dám nói như người: "Thật khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng cứu độ". Nhưng nay thấy mình trong thân phận tù nhân và suy nghĩ đến mầu nhiệm Ðức Giêsu mà mình đã được tuyển chọn để phục vụ, Phaolô nhận ra: Chịu đau khổ cũng là phục vụ.

Quả vậy, những đau khổ hiện nay người đang chịu là lo việc rao giảng Lời Chúa, mang Tin Mừng Nước Trời đến cho các dân tộc. Ðó là những đau khổ tất yếu gắn liền với việc phục vụ Lời Chúa. Chính Ðức Giêsu vì rao truyền Danh Ðức Chúa Cha mà phải chịu nhiều đau khổ; và Người cũng đã khẳng định rằng môn đệ phải chịu nhiều đau khổ để làm chứng cho Người. Người còn nói trước những thử thách lớn lao và bắt bớ dữ tợn vào thời kỳ sau hết. Thế nên lời rao giảng thánh giá đi đến đâu cũng sinh ra nhiều tử đạo ở những nơi ấy. Những đau khổ và thử thách lớn lao này không cần thiết theo nghĩa để bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi thống khổ của Ðức Giêsu vì lẽ cuộc tử nạn của Người chưa đủ sức để đền bù tội lỗi. Không, thánh giá của Người thật vinh quang, và máu Người đổ ra đã đem lại ơn cứu độ. Nhưng khi ơn này đến với chúng ta và nơi các dân tộc chúng ta gặp thấy không thiếu những thánh giá bên trong và bên ngoài.

Ðó là những đau khổ cần thiết để kết hiệp chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá Chúa Kitô cho chúng ta được cứu độ. Những thánh giá đó cần cho chúng ta, nhưng thật sự cũng là cần cho Ðức Giêsu mà Người chưa chịu khi sống ở trần gian này, để cho ơn của Người chuyển đến chúng ta. Bây giờ các tông đồ và môn đệ của Người phải chịu để làm công việc ấy. Họ chịu để cho mầu nhiệm Ðức Kitô được sáng lên trong các tâm hồn. Họ bù đắp những gì còn thiếu sót nơi các nỗi quẫn bách của Ðức Kitô, theo nghĩa ấy, tức là để ơn của Người đến được với các con người đang được gọi để trở nên thân thể của Người là Hội Thánh. Chịu những đau khổ như vậy cũng là phục vụ và là phục vụ Lời Chúa, và là phục vụ một cách sâu xa. Thế nên, thánh Phaolô cũng như mọi tông đồ chân chính khi gặp đau khổ trong sứ vụ đều có tinh thần của các tử đạo... Hết thảy đều hân hoan và lấy làm vinh dự vì được thông phần những đau khổ cứu thế của Ðức Giêsu Kitô.

Như vậy, phục vụ trong đạo ta có nhiều mặt. Phục vụ bàn ăn và thi hành các việc bác ái thương người là điều qúy. Nhưng phục vụ Lời Chúa lại là việc không được xao nhãng vì những lý do phục vụ bác ái.

Và cuối cùng những kẻ xem ra chẳng phục vụ được gì nhưng đang quảng đại chịu đau khổ cho mầu nhiệm Ðức Kitô được sáng lên trong Hội Thánh, những kẻ ấy cũng đang phục vụ và phục vụ rất thánh thiện. Ðiều cần thiết là mỗi người hãy theo ơn gọi của mình mà phục vụ. Cũng như hết thảy phải phục vụ công việc phải làm vào những giờ và những nơi nhất định.

Do đó giờ đây chúng ta phải hết mình phục vụ các mầu nhiệm bàn thờ. Nhưng khi ra khỏi thánh lễ này, chúng ta lại phải hoàn thành các nhiệm vụ phục vụ anh em và xã hội. Cũng có thể có những thử thách và đau khổ mà Chúa đang gọi ta phải chịu cho ơn cứu độ được lan rộng.

Xin Chúa cho chúng ta ở đâu và lúc nào cũng có tinh thần phục vụ như Abraham, Maria và Phaolô của các bài đọc Kinh Thánh hôm nay.

 

 

5. Phục vụ trong trật tự –_ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Thoạt nghe bài Tin mừng hôm nay, có người đã trách móc: Sao Chúa quá mâu thuẫn. Mới tuần trước, Chúa kể truyện người xứ Samaria nhân hậu để dạy phải phục vụ. Vậy mà hôm nay, Chúa lại trách móc, tuy có nhẹ nhàng, nhưng vẫn đau đau, bà Martha đã lăng xăng phục vụ đón tiếp Chúa. Tại sao thế?

Nếu đọc kỹ bài tường thuật hôm nay cũng như toàn bộ Tin mừng, ta sẽ thấy phục vụ tuy được Chúa đề cao, nhưng vẫn phải nằm trong một trật tự toàn bộ của đời sống đạo.

Trật tự thứ nhất: Phục vụ phải biết quên mình.

Phục vụ mà không quên mình sẽ đi đến khoe khoang tự mãn. Ta hãy nhớ lại chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện. Ông Biệt phái đứng giữa đền thờ, lớn tiếng kể công: “Lạy Chúa, con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18,12). Thái độ khoe mình của ông không được Thiên Chúa chấp nhận vì ông phục vụ mà không biết quên mình.

Phục vụ mà không quên mình sẽ đi đến ganh ghét, dòm ngó, lườm nguýt, loại trừ người khác. Về điểm này, Đức cha Bùi Tuần có đưa ra một hình ảnh rất ý nhị. Trên bàn thờ có ngọn nến và bông hoa. Cả hai cùng phục vụ bàn thờ. Nhưng nếu ngọn nến đốt cháy bông hoa thì thật đau lòng. Phục vụ mà không quên mình sẽ đưa đến loại trừ lẫn nhau. Điều Chúa muốn là phục vụ quên mình. Phục vụ quên mình là phục vụ kín đáo: “Tay trái không biết việc tay phải làm” (Mt 6,3). Phục vụ quên mình chỉ cố ý làm vui lòng Chúa chứ không so sánh hơn thua với anh em. Vì thế phục vụ quên mình sẽ rất khiêm tốn. “Sau khi đã làm tất cả thì hãy nói: Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10).

Trật tự thứ hai: Phục vụ phải biết lắng nghe.

Trước hết phải biết lắng nghe lòng mình xem có đức bác ái không. Nếu không có đức bác ái thì mọi việc phục vụ dù có lớn lao cũng trở thành vô ích như lời thánh Phao-lô nói: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, nếu tôi không có đức bác ái, cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,3).

Thứ đến phải biết lắng nghe đối tượng phục vụ. Một phục vụ tốt phải đúng lúc, đúng nơi, đúng cách, đúng nhu cầu. Nhưng trên hết phục vụ phải biết lắng nghe Lời Chúa. Việc phục vụ của ta chỉ tốt và có ý nghĩa khi ta làm đúng ý Chúa muốn. Muốn biết ý Chúa, phải lắng nghe tiếng Chúa trong Tin mừng, qua cầu nguyện và tiếp xúc tâm sự với Chúa trong bí tích Thánh Thể. Lời Chúa là đèn soi bước chân ta, là ánh sáng hướng dẫn ta trong mọi hoạt động. Lắng nghe Lời Chúa làm cho hoạt động được vững vàng. Đó là xây nhà trên đá (cf. Lc 6, 47).

Trật tự cuối cùng: Phục vụ phải biết nghỉ ngơi.

Cuộc sống văn minh hiện đại ngày càng cuốn con người vào cơn lốc hoạt động đến ngộp thở. Người ta không còn thời giờ cho gia đình, cho bạn bè, và nhất là cho đời sống tâm linh. Tại các nước phương Tây, con người đang biến thành những cỗ máy làm việc, làm việc không ngừng. Đó là một đời sống mất quân bình, rất nguy hiểm.

Trong Phúc âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc nhở chúng ta: “Đừng quá băn khoăn lo lắng”. Hôm nay Chúa nhắc lại với bà Martha một lần nữa: “Đừng băn khoăn lo lắng quá”. Chúa không chê trách công việc bà làm, nhưng Chúa chê trách thái độ lăng xăng, lo lắng thái quá. Chúa mời gọi bà hãy biết nghỉ ngơi, biết giữ bình an nội tâm trong một đời sống quân bình bằng cách biết cầu nguyện. Cầu nguyện là nghỉ ngơi bên Chúa. Cầu nguyện tạo cho ta một khoảng không gian và thời gian, nhờ đó đời sống tâm linh phát triển. Chính nhờ những giây phút cầu nguyện bên Chúa mà sinh lực ta được phục hồi. Và ta có thể phục vụ tốt hơn.

Lời Chúa kêu gọi bà Martha, Chúa cũng muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay: “Con đừng quá băn khoăn lo lắng cho cuộc sống. Hãy biết đến bên Cha mà nghỉ ngơi. Cha sẽ bổ sức cho con. Hãy chọn lấy phần tốt nhất như Maria. Đó là một kho tàng bền vững mãi mãi”.

Xin cho mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, hãy đến bên Chúa nghỉ ngơi. Để nhờ Chúa hướng dẫn, việc phục vụ của chúng ta sẽ theo đúng ý Chúa muốn và để đời sống tâm linh ta được phát triển toàn diện trong một nếp sống quân bình. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1-   Cầu nguyện là lắng nghe Chúa nói với mình, là gặp gỡ Chúa trong tình con thảo. Hiện nay bạn cầu nguyện thế nào? Có sốt sắng không? Có nhiều thời gian cầu nguyện không?

2-   Bạn đọc kinh nhiều, nhưng bạn có cầm trí không, hay chỉ đọc như máy?

3-   Khi phục vụ, bạn có thực sự quên mình, hay phục vụ để được tiếng là người đạo đức, để hơn người?

4-   Muốn việc phục vụ thực sự tốt đẹp, ta cần có thái độ nào?

 

 

6. Để cho Lời Chúa soi dẫn cuộc đời

(Trích dẫn từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm Ignatiô Trần Ngà)

Hôm ấy, các đệ tử của Thầy hăng say thảo luận về nguyên nhân đau khổ của nhân loại.

Người thì nói là do lòng tham vô đáy của con người thúc đẩy, kẻ thì cho là do tính ích kỷ thâm căn cố đế hoặc tính kiêu căng và óc thống trị xui khiến, một số khác cho là do sự chia rẽ chủng tộc hay tôn giáo phát sinh...

Sau cùng, các đệ tử quay sang hỏi ý kiến Thầy, Thầy nói: "Mọi đau khổ đến từ việc con người thiếu khả năng ngồi yên lặng một mình để lắng nghe..." (Phỏng theo Cha Anthony de Mello)

Yên lặng để lắng nghe! Để nghe Chúa nói, để nghe lời khôn ngoan... Đó cũng là điều mà Cô Maria thể hiện qua đoạn Tin Mừng hôm nay.

Hôm ấy, Chúa Giêsu đến thăm gia đình Mácta. Mácta tất bật lo việc nấu dọn để hầu hạ Chúa, hy vọng Chúa sẽ rất hài lòng về sự tiếp đãi ân cần, chu đáo và tận tình như thế.

Vậy mà Chúa Giêsu lại đề cao thái độ chăm chú lắng nghe của Maria hơn và trách Mácta:

"Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." (Lc 10, 41-42)

Nhiều lần trong Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định với mọi người rằng lắng nghe và thi hành Lời Chúalà điều tối cần thiết và quan trọng nhất.

Lắng nghe Lời Chúa là chuyện cần thiết nhất vì Lời Chúa là đèn soi cho loài người tiến bước trong đêm tối và vượt qua bao giông tố của cuộc đời. "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi." (Thánh vịnh 119,105). Nhờ ngọn đèn nầy, người lầm lạc thấy được chân lý, người tội lỗi được hoán cải để sống đời thánh thiện, người thất vọng được tìm thấy niềm tin và hy vọng tràn trề... Thiếu Lời Chúa, nhân loại như đang chìm trong tối tăm.

Một chiếc xe vượt qua nhiều đoạn đường đèo quanh co, cheo leo hiểm trở trong đêm tối mà xe lại chạy không đèn thì chắc chắn sẽ lao xuống vực. Đời người với bao nhiêu thăng trầm thách thức của cuộc sống khác gì chiếc xe vượt đèo kia, nếu không được ánh sáng của Lời Chúa soi dẫn, thì sẽ không thoát khỏi tai ương.

Đối với những ai biết đón nhận Lời Chúa và nhận lấy ánh sáng Lời Chúa soi dẫn cho hành động, người ấy sẽ đạt được những thành quả tốt đẹp trong đời mình.

Lời Chúa thật sự đã mang lại giải pháp tối ưu cho mọi vấn đề của cuộc sống.

Trong thời kỳ đất nước Việt Nam của chúng ta bị đặt dưới ách đô hộ của người Pháp thì tại nam Á, một quốc gia khác to lớn hơn nhiều cũng bị đặt dưới ách thống trị của người Anh. Đó là quốc gia Ấn-độ. Đế quốc Anh cũng hùng cường không thua kém gì đế quốc Pháp. Cả nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Ấn đều đứng lên để lật đổ chế độ thực dân và giành độc lập cho xứ sở mình.

Trong cuộc đấu tranh nầy, nhân dân Việt Nam phải dùng đến bạo lực, đến khí giới và đã trả giá cho nền độc lập bằng vô vàn sinh mạng và máu xương!

Trong khi đó, tại Ấn-độ, dưới tài lãnh đạo của thánh Gandhi, vị anh hùng của nhân dân Ấn và là người được dân Ấn gọi là thánh, người dân Ấn đấu tranh bằng đường lối ôn hoà bất bạo động mà thánh Gandhi học được từ Tin Mừng của Chúa Giêsu: "Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét các ngươi... Ai vả má bên nầy thì hãy chìa má bên kia ra..."

Bằng đường lối bất bạo động học từ Tin Mừng của Chúa Giêsu, Gandhi và nhân dân Ấn-độ đã lật đổ được đế quốc Anh, bẻ gảy ách thống trị của người Anh, giành lại độc lập cho quê hương xứ sở mà không cần đến khí giới.

Vài chục năm, tại đất nước Hoa-kỳ, Mục sư Martin Luther King cũng đã dùng Lời Chúa soi sáng cho cuộc đấu tranh bất bạo động của mình, và ông đã đạt được thắng lợi vẻ vang, buộc người da trắng nhìn nhận, tôn trọng quyền lợi và phẩm giá của người da đen mà không cần đến khí giới.

Như thế, Lời Chúa quả đã đem lại những giải pháp tối ưu cho mọi vấn đề và thách thức trong cuộc sống.

Hôm nay, Chúa Giêsu lại đem Tin Mừng của Ngài trao tặng miễn phí cho chúng ta để làm đèn soi cho chúng ta trong cuộc sống nhiều mây mù u tối nầy.

Cuộc đời chúng ta như những chuyến xe phải vượt những chặng đường đèo cheo leo hiểm trở giữa màn đêm. Lời Chúa vẫn mãi mãi là đèn soi dẫn. Ước gì chúng ta đón nhận Lời Chúa để soi sáng cho hành trình còn lại trong cuộc đời chúng ta.

 

 

7. Chúa viếng thăm – Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Người Việt Nam thường có câu: "lời chào cao hơn mân cỗ". Vì cái tình quý hơn là cái ăn cái mặc. Người ta bị bỏ đói một bữa chẳng sao nhưng sẽ cay đắng cả đời khi bị người đời bỏ rơi, hay bị đối xử ngược đãi xem thường. Thực vậy, cái qúy giá ở đời là được anh em yêu thương, tôn trọng và nhất là luôn được anh em chia sẻ, cảm thông. Dù cuộc đời có đau khổ. Dù cuộc đời có gặp bất hạnh hay đói khổ nhưng được anh em đùm bọc, cảm thông, an ủi thì vẫn cảm thấy lạc quan và bình an.

Người ta kể rằng thời Ông Abraham Lincoln làm Tổng Thống của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ông vẫn thường có thói quen đến thăm các nhà thương để có dịp chuyện vãn với các anh em thương binh trong thời nội chiến.

Một hôm, bác sĩ dẫn Tổng Thống tới phòng các thương binh đang được điều trị và đến bên một bệnh nhân rất nặng. Với giọng nhẹ nhàng, ôn tồn ông hỏi:

- Tôi có thể làm chút việc gì giúp anh được không?

Có lẽ không nhận ra người khách đến thăm mình là ai, nên bệnh nhân gắng gượng nói:

- Xin ông làm ơn viết lá thư cho mẹ tôi.

Người ta trao bút giấy cho Tổng Thống, và ông bắt đầu viết xuống những gì bệnh nhân có thể nói lên được.

"Mẹ rất yêu dấu của con! Con bị thương nặng trong khi thi hành nghĩa vụ quốc gia. Có lẽ con sẽ không bao giờ bình phục được nữa. Xin mẹ đừng khóc nhiều vì con. Xin mẹ hôn hai em Mary và John dùm con. Nguyện xin Chúa chúc lành cho mẹ, cho ba và hai em."

Nói tới đây, người thương binh ngừng vì không còn sức để nói tiếp nữa, nên ông Lincoln ký thay cho anh ta và thêm: "Viết thay cho con trai của bà. Ký tên: Abraham Lincoln."

Bệnh nhân xin cho xem lại những gì người khách đã viết thay cho mình, anh ta sửng sốt khi nhận ra người đã tới thăm mình. Anh hổn hển hỏi với giọng ngạc nhiên:

- Ông thật là Tổng Thống của Hoa Kỳ ư?

Abraham Lincoln trả lời cách âu yếm.

- Phải chính tôi đây.

Tổng Thống hỏi thêm xem mình còn có thể giúp anh thương binh được việc gì nữa chăng. Gương mặt anh bỗng chốc bừng lên, anh sung sướng nói:

- Xin Tổng Thống cầm tay tôi, và giúp tôi đi đến cùng.

Trong căn phòng bé nhỏ, ông Tổng Thống với tâm hồn của người cha, âu yếm cầm lấy tay chàng thương binh trẻ trong tay mình và tiếp tục nói với anh những lời khích lệ thân mật cho tới khi anh ta trút hơi thở cuối cùng.

Lời Chúa hôm nay cũng gợi lại một cuộc viếng thăm đầy tình người mà Chúa Giêsu đã dành cho gia đình ở Betania. Ngài đã đến với gia đình Matta và Maria. Cả hai cô đều vui mừng vì có Chúa viếng thăm. Kẻ thì bận rộn rót nước, nấu ăn. Người thì ríu rít chuyện trò bên Chúa. Thật là hạnh phúc cho gia đình côi cút nay lại được ấm áp vui tươi vì có Chúa hiện diện. Thế nhưng, Matta lại quá chú trọng đến việc thiết đãi tiệc tùng. Cô muốn làm một bữa ăn thật thịnh soạn cho Chúa. Cô còn muốn cả em cô hãy ngưng tâm sự với Chúa để cùng giúp cô chuẩn bị bữa ăn. Cô đã mạnh dạn đề nghị với Chúa: xin Thầy hãy nói với Maria giúp con một tay. Lời đề nghị xem ra không được chấp nhận. Vì Chúa đến đây không vì miếng ăn. Vì Chúa không đến để được phục vụ. Con đường Chúa đến với tha nhân là để yêu thương và phục vụ. Chúa không muốn trở thành gánh nặng cho tha nhân. Sự hiện diện của Chúa nơi ngôi nhà này là để nói lên sự quan tâm, tình liên đới và cảm thông. Thế nên, Chúa đã nói với Matta: "Matta, con lo lắng nhiều chuyện, điều quan yếu không phải là việc phục vụ Chúa, mà hệ tại ở việc lắng nghe lời Chúa dạy bảo".

Cuộc sống hôm nay cũng thật tất bật. Người ta ít có thời giờ để tâm sự với nhau. Người ta càng ít có thời giờ để viếng thăm nhau. Không có tâm sự sẽ không có sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau. Không có những cuộc viếng thăm tình người sẽ phôi phai theo thời gian. Ðôi khi những người trong gia đình cũng chẳng có thới giờ viếng thăm nhau, hay chuyện trò với nhau. Thiếu sự viếng thăm tình người như xa dần. Thiếu sự đối thoại sẽ đánh mất sự cảm thông. Vì tình yêu đích thực không dừng lại ở đầu môi chóp lưỡi. Tình yêu không dừng lại ở việc chạnh lòng thương xót mà phải dấn thân để xoa dịu những nỗi đau của đồng loại, để băng bó những thương tích của anh em. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi sự gần gũi, sự cảm thông và nâng đỡ. Chính nhờ sự gần gũi người ta mới hiểu nhau, thông cảm với nhau và nâng đỡ cho nhau.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết dành thời giờ cho nhau qua những việc viếng thăm, qua những việc giúp đỡ, qua sự săn sóc đầy tình người, Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết quên đi cái tôi của mình để lo cái lo của anh em, để biết sống mình vì mọi người, để cùng nhau xây dựng một thế giới đầy ắp tình yêu thương. Amen.

 

 

8. “Con lo lắng bối rối nhiều chuyện” – André Sève

(Trích dẫn từ ‘Tin Mừng Chúa Nhật’)

Tôi thèm muốn được ở với Mácta, người phụ nữ độ lượng, hiếu khách. Hạnh phúc biết bao khi được tiếp đón Chúa Giêsu! Thế nhưng hơi thất vọng, Ngài đã rầy chị, một lần nữa Ngài mến Maria hơn.

Mến Maria hơn sao? Chắc chắn rằng Ngài quý mến tấm lòng tự do hoàn toàn lắng nghe Ngài của chị. Ngài không khinh dể Mácta, Ngài khó chịu do sự ân cần của chị. Phải hiểu sự lắng nghe và sự ân cần được nói đến ở đây.

Trong khi biết rằng những lo lắng không ngừng rơi xuống trên chúng ta. Chúa Giêsu không muốn chúng ta để cho những lo lắng ấy chiếm quá nhiều chỗ. Vì như thế là nghi ngờ Thiên Chúa, là mỉa mai kinh “Lạy Cha”, lời kinh của sự không lo lắng, của tấm lòng tự do. Chỉ có một ước muốn lớn lao duy nhất: “Xin cho Nước Cha trị đến!” và một niềm tin cũng lớn lao không kém: “Xin cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày”. Thánh Têrêxa nói: “Chỉ cho ngày hôm nay mà thôi”.

Đúng như ý tưởng của Chúa Giêsu: “Đừng băn khoăn chi cho ngày mai, ngày mai sẽ lo cho ngày mai… Trước tiên hãy tìm Nước Trời, còn mọi điều khác sẽ ban thêm cho các ngươi” (Mt. 6, 33-34). Nhưng chính cái phần cho thêm này làm chúng ta quá bận lòng, và Chúa Giêsu tuyên chiến với những nỗi lo xấu xa này của chúng ta: “Các ngươi lo ăn gì, mặc gì… Các ngươi đừng lo phải nói gì trước toà án… Các ngươi đừng để cho những cây gai lo lắng bóp chết Lời Chúa… Các ngươi đừng để cho những lo toan đè nặng tấm lòng các ngươi…”. Chắc Ngài đã phải kinh ngạc vì thấy nhiều người lo lắng đến thế, mà Ngài thì Ngài đòi cần phải có tinh thần hoàn toàn tự do.

Không thể lui tới với Ngài nếu chúng ta không luôn luôn chú ý giữ gìn sự tự do của chúng ta. Để lắng nghe hoặc để phục vụ Ngài, chúng ta cần loại bỏ các lo lắng thái quá. Chúng ta đã phá hoại rất nhiều sự lắng nghe của chúng ta, mọi người đều dễ dàng nhận ra điều đó.

Chúng ta ít chú ý đến việc các lo toan xâm nhập vào sự phục vụ. Sự lo lắng thái quá thì không tốt, nó có thể làm hỏng sự ân cần, người tận tuỵ trở thành hay càu nhàu, nô lệ cho sự bận rộn của mình và nhanh chóng ghen tị với những người khác vì “họ chẳng làm gì cả”. Chúng ta muốn làm cho vui vẻ thế nhưng lại tạo nên một bầu khí phản kháng, khó chịu.

Đây là điều đã xảy đến với Mácta đáng thương. Chị cũng cần phải có những giây phút đẹp đẽ để lắng nghe và những giây phút cao cả để phục vụ. Ngày hôm đó chị đã không biết hài lòng về tất cả trong sự độ lượng. Chúa Giêsu đến, bữa ăn ngon phải chuẩn bị, niềm vui được thấy Maria hạnh phúc.

Ôi Mácta, chị đã bắt đầu một ngày tốt đẹp biết bao! Chị có thể vừa làm vừa hát. Nhưng chị lo lắng, nóng lòng và không còn tấm lòng tự do nữa. Chính sự tự do này là phần tốt nhất.

 

 

9. Chỉ có một việc cần mà thôi – Veritas

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’)

Có một câu chuyện vui kể rằng, trên một chiếc phi cơ du lịch loại nhỏ có bốn người và một phi công, một thương gia, một linh mục nhà truyền giáo và một hướng đạo sinh. Phi cơ đang bay, bỗng một động cơ bị trục trặc, ngưng hoạt động, viên phi công cố gắng mãi mà động cơ vẫn không hồi phục và cũng không thể đáp khẩn cấp ở đâu được. Cuối cùng, ông phải tuyên bố một giải pháp là nhảy dù để thoát hiểm.

Ông mang ra ba cái dù và nói: Tôi là phi công, tôi còn có vợ và ba đứa con, nên tôi cần phải sống. Thế là ông ta đeo một chiếc dù rồi nhảy xuống. Liền sau đó vị thương gia tuyên bố: Tôi là một kỹ sư và là một thương gia, hiện thân của trí tuệ và giàu có của nhân loại nên tôi cần phải sống, rồi ông vội vã khoác tay vào dây đeo, lao đầu ra cửa nhảy xuống. Vị linh mục hốt hoảng nhìn chàng hướng đạo sinh và nói: Này con, con còn trẻ, tương lai đầy hứa hẹn, con cần phải sống và để giúp ích mọi người, con hãy mang cái dù còn lại mà thoát hiểm đi. Nhưng chàng hướng đạo sinh thưa với vị linh mục: “Tất nhiên ai cũng cần sống, cha hãy bình tĩnh lúc này hãy còn một cái dù cho cha và một cái cho con. Vì ông thương gia hiện thân của trí tuệ và giàu có của nhân loại đã đeo cái ba lô của con nhảy xuống mất rồi”.

Ai cũng cần phải sống, đó là lẽ tự nhiên, nhưng điều quan trọng hơn hết là biết cách làm thế nào để sống. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chị em Mattha và Maria đón tiếp Đức Giêsu vào nhà, Mattha tất bật lo phục vụ, cô bận rộn đến nổi cáu kỉnh như vẻ trách cô em Maria không biết chia sẻ gánh nặng và thầm trách Đức Giêsu chưa quan tâm đủ đến sự tất bật của mình.

Nhiệt tình đón tiếp vị khách, nhất là khách quí như Chúa Giêsu, đó là lẽ thường tình, nhưng Đức Giêsu lại nói với Mattha: “Chị băn khoăn và lo lắng nhiều chuyện quá, chỉ có một điều cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Có người xem ra đồng tình với Mattha và phản kháng Đức Giêsu khi đưa ra câu nói: “Có thực mới vực được đạo”. Đúng! Có thực mới vực được đạo, nhưng đáng tiếc có người chỉ hiểu được có một nửa của câu nói. Họ không biết rằng bên cạnh cái thực còn có đạo; bên cạnh của ăn vật chất còn có của ăn thiêng liêng. Ngoài cuộc sống đời này còn có cuộc sống đời sau, và người ta còn nói: “Sống không phải để ăn, nhưng ăn để sống”. Cho nên trong khi lo lắng kiếm cái thực, cái ăn để sống thì cũng phải biết lo lắng cho cái đạo để sống cho ra sống và để sống được trọn vẹn.

Đức Giêsu không phủ nhận giá trị công việc phục vụ của Mattha cũng như không từ chối sự đón tiếp của gia đình cô, nhưng Ngài đề cao việc Maria nghe lời Người. Đức Giêsu đã chẳng từng quan tâm đến những sinh hoạt đời thường và chia sẻ những khổ đau bệnh tật của dân chúng sao? Ngài đã từng làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, đã từng hóa nước thành rượu để niềm vui tiệc cưới được trọn vẹn. Ngài đã từng chăm sóc cứu chữa các bệnh nhân, cho người què đi được, người điếc được nghe, người mù được thấy, người chết sống lại, nhưng Ngài vẫn nhắm đến điều cần thiết hơn hết là cho mọi người được nghe, được lãnh nhận Lời Hằng Sống.

Có lần Người tuyên bố: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn bởi Lời của Thiên Chúa”. Con người sống không phải chỉ có vật chất, chỉ lo bơn chải những vấn đề cơm bánh mà còn phải có đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng nữa.

Đây chính là điều cần thiết hơn hết mà Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều chúng ta cần phải sống và sống hạnh phúc. Tất nhiên, Lời Chúa không phải là cái dù, chỉ cần đến khi nguy biến để thoát hiểm, nhưng chính Lời Thiên Chúa, Lời Chân Lý hằng sống làm cho những sinh hoạt hàng ngày của chúng ta có hiệu quả và có ý nghĩa hơn.

Thật khó hiểu khi một người cho mình là Kitô hữu mà không bao giờ biết lắng nghe và đón nhận Lời Thiên Chúa. Càng khó hiểu hơn khi một người làm việc tông đồ mà không được Lời Chúa nuôi dưỡng và hướng dẫn.

Thánh Phêrô và các tông đồ đã cho chúng ta một cái nhìn khi thưa với Đức Giêsu: “Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có Lời ban sự sống đời đời”. Và có một lần khi Đức Giêsu đang giảng trong hội đường thì giữa đám đông có một phụ nữ lên tiếng thưa với Người: “Phúc thay dạ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm. Nhưng Đức Giêsu đáp lại, đúng hơn phải nói rằng, phúc thay kẻ đã lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa”.

Ước gì mỗi người chúng ta ý thức rằng, mình đã được mời gọi để sống hạnh phúc và luôn sẵn sàng đón nhận Lời ban sự sống. Lời của Thiên Chúa chính là điều tôi cần phải sống. Giờ đây mỗi người chúng ta cùng tuyên xưng đức tin.

 

 

10. Một sự hiện diện thiết yếu – Achille Degeest

(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Tĩnh từ ‘tốt hơn’ chỉ một trạng thái trội hơn một trạng thái tốt khác. Có thể nói rằng phần tốt hơn của Maria không giảm giá trị cái phần tốt của Martha. Cả hai bà tiếp đón Đức Kitô, chăm chú săn sóc Chúa. Martha cư xử đúng vai chủ nhà lịch thiệp hiếu khách, nấu ăn bày bàn rất cầu kỳ. Đức Giêsu nhã nhặn vui vẻ, bảo bà chớ quá bận rộn làm chi. Tuy nhiên bao giờ cũng vậy, Chúa nhắm xa hơn cái hiện tại trước mắt. Chúa cho hai chị em cảm thấy sự quan trọng của chuyến viếng thăm. Điều quan trọng là không nên để các sự việc (phục vụ, hành động, …) dầu có giá trị và cần thiết hết sức, rút cuộc chiếm hết trí khôn, cản trở hoạt động của trái tim. Theo nghĩa trong Kinh Thánh, trái tim là tâm tình hướng về Đức Giêsu, cảm biết Chúa là sự Tuyệt Đối; chỉ có Chúa là hằng hữu, đáng kể, đáng chú ý. Do đó đương nhiên mọi sự phải giảm xuống mức tối thiểu. Khi Chúa đến thăm, Người chú ý đến chúng ta nhiều hơn là đến cách tiếp đón. Chúa ao ước chúng ta để ra thời giờ dừng lại tâm sự với Người, hơn là bận rộn sửa soạn lễ vật. Cách cư xử nào cũng có giá trị, cũng có mức tuyệt hảo. Bổn phận sửa soạn đãi khách không được làm giảm bớt sự săn sóc tiếp đón. Trái lại không nên vì quá săn sóc tiếp đón mà lơ là việc đãi đằng. Người ta thường căn cứ vào truyện hai bà Martha và Maria để so sánh hành động với chiêm niệm, điều thiết yếu là mỗi người phải sinh lợi ân huệ của Thiên Chúa. Ở đây chúng ta nêu ra hai điểm:

1) Đức Giêsu đến thăm gia đình Bêtania.

Điều cần là sự hiện diện thiết yếu của Chúa trong nhà chúng ta, tức là trong tâm khảm chúng ta, nơi xuất phát ý nghĩ và hành động. Giọng văn trong bài tường thuật, sự thân thiết tự nhiên của Martha, tất cả cho thấy Đức Giêsu được tiếp đãi như một người bạn thân. Đó là điểm đáng chú ý trong bài Phúc Âm hôm nay. Nói chung, trong tâm hồn chúng ta, Chúa phải cảm thấy dễ chịu như trong Nhà Người.

2) Trong nội bộ Giáo Hội, chúng ta phải tôn trọng ơn thiên triệu của giới này cũng như của giới kia.

Có thể là giới hành động không hiểu được đường lối tu trì ‘bất hành động’ của giới chiêm niệm, cho nên dễ đi đến chỗ muốn thưa với Chúa: ‘Lạy Chúa, xin Chúa xét xem có nên phối hợp tu sĩ các đan viện chẳng hạn, đưa họ vào công cuộc Phúc Âm hoá quá lớn lao không?’. Chắc chắn Chúa không trả lời. Nói đúng ra, Chúa trả lời, Chúa bảo không nên quan trọng hoá những phương thế bề ngoài của hành động. Hiệu năng công cuộc Phúc Âm hoá phát xuất từ sự hiện diện tác động của Thiên Chúa, tuỳ theo cường độ mạnh yếu, trong hành động cũng như trong kinh nguyện của chúng ta.

 

 

11. Sự cân bằng

Có một ông bố đã tâm sự với thầy giáo đang dạy cho các con ông như sau: Các con tôi mặc dầu không còn sống với tôi nữa, nhưng tôi vẫn yêu thương chúng và muốn biết chúng hiện đang học hành ra sao? Rồi ông kể cho thầy giáo hay việc vợ và bốn đứa con của ông đã lìa bỏ ông như thế nào. Ông vốn là một nhà thầu khoán nên nhiều lúc rất bận rộn. Có ngày ông phải làm việc tới 16 tiếng đồng hồ. Ông thường xuyên vắng mặt trong gia đình, nền dần dần những người thân yêu cũng trở nên xa cách. Ông buồn bã cho biết: Tôi rất ao ước sắm sửa cho vợ con tôi mọi thứ mà tôi từng mơ ước. Nhưng vì quá mải mê với công việc làm ăn, nên tôi đã quên mất một điều mà vợ con tôi đang cần đến, đó là họ cần một người cha, một người chồng để yêu thương và nâng đỡ họ.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chủ đích của đoạn Tin Mừng ấy là như thế này: Chúng ta có thể vì quá mải mê công việc làm ăn, đến nỗi quên mất lý do khiến chúng ta phải vất vả như thế. Chúng ta có thể vì quá mải mê khiếm sống đến nỗi quên mất chính mục đích của cuộc đời. Chúng ta trang bị những vật dụng mà đồng tiền có thể mua sắm được, để rồi quên mất tất cả những gì mà đồng tiền không thể mua sắm được.

Đây cũng chính là sự lầm lẫn của Martha được ghi lại qua đoạn Tin Mừng vừa nghe. Cô quá lăng xăng lo chuyện nấu nướng bữa ăn cho Chúa Giêsu đến nỗi đã quên mất rằng Chúa đến nhà cô là vì tình thương chứ đâu phải vì bữa ăn miễn phí.

Thực vậy con người chúng ta gồm có hồn và xác. Phục vụ vật chất cho thân xác là điều tốt. Thế nhưng con người còn có những nhu cầu, cần đến những phục vụ thiêng liêng cho linh hồn. Chẳng hạn, một người bạn đến chơi không phải chỉ cần đãi đằng họ là đủ, mà nhiều khi cần phải lắng nghe những tâm sự để chia sẻ những khó khăn họ gặp phải. Chính vì thế Chúa Giêsu đã khen Maria đã chọn phần tốt nhất bởi vì cô đã ngồi dưới chân Chúa để đón nhận những điều Ngài giảng dạy.

Còn chúng ta thì sao? Hiện thời chúng ta đang sống trong một thế giới rất dễ mất cân bằng, chúng ta vì bận rộn với công việc làm ăn, vì mải mê tìm kiếm tiền bạc, để rồi quân mất mục đích của đời mình, quên mất cái nào là ưu tiên số một trong cuộc sống, quên mất sự sáng suốt để lựa chọn, quên mất điều mình đang làm và lý do khiến mình làm điều đó.

Chúng ta giống như chú bé vẽ voi, đáng lẽ phải vẽ: con vỏi con voi với cái vòi đi trước, hai chân trước đi trước, hai chân sau đi sau, còn cái đuôi thì đi sau rốt. Thì chú bé lại vẽ: con vỏi con voi, cái đuôi đi trước, hai chân sau đi trước, hai chân trước đi sau, còn cái vòi thì đi sau chót.

Và quan trọng hơn nữa, đó là chúng ta quên mất phần rỗi của linh hồn chúng ta. Bởi vì như lời Chúa đã phán: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi gì?

 

 

12. Ngồi dưới chân Chúa Giêsu – Charles E. Miller

Tôi nghĩ rằng khi nghe câu chuyện về Matta và Maria, nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng cảm thấy đáng tiếc cho Matta. Maria đã bỏ mặc tất cả mọi công việc cho Matta, trong lúc cô ta vui hưởng cuộc nói chuyện với Chúa Giêsu. Khi Matta đến phàn nàn, Chúa Giêsu có vẻ như gắt gỏng cho dù Ngài gắt gỏng nhẹ nhàng, có lẽ Ngài đã lắc đầu và nói: “Matta, Matta con lo lắng nhiều chuyện, Maria đã chọn phần tốt nhất”. Nhưng chính xác là Maria có chọn phần tốt nhất không? Có phải đơn giản là vui hưởng ân sủng và là bà chủ đáng yêu trong lúc Matta thì tất bật trên bếp lò nóng?

Khi Thánh Luca viết rằng Maria ngồi nơi chân Chúa Giêsu, Ngài không miêu tả tư thế nhưng là mối liên hệ giữa Maria với Chúa Giêsu. Cụm từ”ngồi nơi chân” của một người nào có nghĩa là môn đệ của người đó. Trong văn hóa Do Thái thời Chúa Giêsu, không nghe nói có một người phụ nữ nào làm môn đệ của một thầy Rabbi. Theo trong tôn giáo hoặc ít nhất là quan sát bên ngoài thì các môn đệ đều là những người đàn ông. Chúa Giêsu đã phá vỡ cái truyền thống kéo dài từ xa xưa bởi vì truyền thống không đúng. Ngài đã đến để kêu gọi tất cả mọi người, người phụ nữ cũng như người đàn ông, con nít cũng như người trưởng thành, ngay cả những kẻ được xem như là người tội lỗi để trở thành môn đệ của Ngài. Ngài đã nhấn mạnh rằng Maria đã chọn phần tốt nhất. Cô ta đã hiểu sự mời gọi của Ngài, đã chấp nhận nó. Matta cảm thấy buộc phải duy trì khuôn mẫu của cô ta và đồng ý rằng chỗ của cô ta là trong bếp. Chúa Giêsu đủ thực tế để nhận biết rằng thực phẩm đã được sửa soạn và như thế Ngài có thể đã nói với Matta rằng chỉ cần một đĩa, một cái gì đơn giản là đủ. Tiếp đó, Ngài thêm không chỉ cho Matta mà cho tất cả mọi người trong mọi thời: “Maria đã chọn phần tốt nhất và cô ấy sẽ không bị ai cướp mất”. Chúa Giêsu đã muốn Matta làm một chọn lựa đó.

Maria đã được giới thiệu với mọi người nữ trong Giáo Hội nhưng trong một ý nghĩa lớn hơn cô đã trở nên kiểu mẫu cho mọi người. Chúng ta được kêu gọi để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, để dâng hiến cho Ngài sự ấm áp mà Ngài đã cảm nghiệm nơi nhà Bêtania, để lắng nghe Người với tất cả sự chú ý như Maria đã làm, đặt Người lên hàng ưu tiên trước mọi việc trong cuộc sống của chúng ta, và không cho phép điều gì hoặc người nào có thể dứt chúng ta ra khỏi mối liên hệ của Người. Abraham đã dâng hiến sự hiếu khách cho các thiên thần như là những sứ giả của Thiên Chúa. Chúng ta cũng được khẩn nài dâng hiến sự hiếu khách cho Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa.

Chúng ta sẽ hiểu trong một ý nghĩa sâu xa, chúng ta ngồi nơi chân Chúa Giêsu trong Thánh Lễ khi cử hành phụng vụ Lời Chúa. Theo Công đồng Vatican II đã long trọng dạy cho chúng ta rằng: “Đức Kitô đang hiện diện trong Lời của Ngài, đó chính là Ngài đang nói khi Thánh Kinh được đọc trong nhà thờ” (Hiến chế về phụng vụ, số 7). Chúa Giêsu đã ước ao khi chúng ta đặt trọng tâm sự chú ý của chúng ta vào Người. Lắng nghe Người trong đức tin, hấp thụ Lời và áp dụng nó trong cuộc sống của chúng ta. Tiếp đó chúng ta được nuôi dưỡng bởi lương thực thánh, Thánh Thể, bữa tiệc này không phải được sửa soạn bởi Matta nhưng bởi chính Chúa Giêsu.

Có lẽ chúng ta có thể thấy gương của Maria thì thật khó để theo. Thật là quá dễ để cho phép những lo toan trong cuộc sống hằng ngày làm chúng ta xao lãng việc nghe theo lời dạy của Chúa Giêsu. Đó là những cám dỗ cho phép những giá trị gian dối mà những giá trị đó giới thiệu cho chúng ta một xã hội vật chết đang hướng chúng ta ra ngoài những chân lý của đức tin. Chúng ta phải trung thành đến với Thánh Lễ, bởi vì ở đây chúng ta có thể đặt những sự chia trí ra ngoài, để đặt trọng tâm vào những gì thật sự là quan trọng cho chúng ta. Trong lúc chúng ta cử hành phụng vụ, nơi thờ lạy của chúng ta sẽ trở thành Bêtania của chúng ta, nơi mà chúng ta sẽ học để trở thành những môn đệ thật.

 

 

13. Mời Chúa vào nhà.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Cách đây ít lâu, trong một bài báo, một phụ nữ đã kể lại việc trang trí nội thất của gia đình bà như sau:

Mọi công việc trang trí đều được vợ chồng tâm đầu ý hợp với nhau cho đến khi chồng bà dùng quyền độc đoán bảo người trang trí nội thất treo một bức ảnh Chúa Giêsu kích thước cỡ lớn: 40x50 vào chỗ nổi bật nhất trong nhà. Bà cố gắng thuyết phục chồng đổi ý, nhưng ông vẫn cứ khăng khăng không chịu.

Tuy nhiên, đang lúc tranh cãi với nhau, bà chợt nhớ lại những lời của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai nhìn nhận Ta trước mặt kẻ khác, thì Ta cũng sẽ nhìn nhận người ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32). Thế là bà chịu nghe ý kiến của chồng.

Giờ đây bà nói, bà rất vui vì đã nghe theo ý chồng, vì bà nghĩ rằng bức ảnh Chúa Giêsu đã gây được ảnh hưởng đáng kể trên gia đình bà lẫn trên bạn bè khách khứa của bà. Chẳng hạn, ngày nọ có người khác lạ, sau khi chăm chú nhìn vào bức ảnh liền nói với bà: “Bà biết không, Chúa Giêsu trên bức ảnh kia không nhìn vào bà đâu, Ngài nhìn xuyên qua tâm hồn bà đó!. Và đêm nọ, một người bạn, sau khi ngồi ngắm bức ảnh cũng thốt lên: “Lúc nào tôi cũng cảm thấy trong nhà chị rất bình an”. Tuy nhiên, bà nói thêm, ấn tượng mạnh mẽ nhất tác động trên các bạn bè khách khứa xã hội tôi là mỗi khi nhìn tấm ảnh Chúa Giêsu thì tâm hồn họ luôn được nâng lên cao”.

Cuối cùng, bà nói rằng, có thể mọi người sẽ cười và không chừng còn nhạo báng những nhận xét trên đây của bà, nhưng bà chẳng bận tâm. Bà nói: “Theo thiển ý của tôi, một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi không còn như trước nữa”.

Thưa anh chị em,

“Một khi bạn biết mời Chúa vào nhà, chắc chắn bạn sẽ được biến đổi”. Sách Sáng Thế trong Bài đọc thứ nhất hôm nay đã kể lại câu chuyện ông Abraham mời Chúa vào nhà. Abraham vồn vã, nhã nhặn ra đón khách lạ theo kiểu Đông Phương. Ông sấp mình lạy, miệng mời Chúa ghé lại. Ông đặt ghế cho Chúa ngồi nghỉ mát, lấy nước cho Chúa rửa chân, lấy bánh và thịt mời Chúa dùng. Ông đứng hầu hạ phục vụ. Abraham được Chúa hứa ngay: “Sang năm vào độ nầy, tôi sẽ ở lại thăm ông, và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai”. Thế là ông được một người con nối dõi tông đường trong lúc tuổi già và son sẻ.

Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà. Matta người chị vốn có lòng hiếu khách và muốn tỏ ra lòng mộ mến sâu xa đối với một bậc thầy, là bạn của gia đình, nên chị định trổ tài nấu dọn một bữa ăn thật ngon để chiêu đãi Chúa. Chị lăng xăng chạy lên chạy xuống, lo sao cho mọi sự chu đáo…

Trong khi đó, Maria lại nghĩ rằng không nên để Chúa ngồi đơn độc một mình. Vả lại, Chúa cũng chẳng muốn chỉ vác bụng đến ăn không, nhưng còn muốn chia sẻ cho hai chị em những lời ban sự sống. Do đó, một người thì muốn nói, một người lại thích nghe, quên hết cả mọi sự!

Thế là Matta nổi cáu, trách Chúa không để ý đến mình, để mặc mình vất vả! Nỗi ghen tức kể ra cũng chính đáng. Nhưng Chúa cũng trách nhẹ Matta sao lo lắng nhiều chuyện quá làm chi. Chuyện ăn uống đâu có quan trọng đến nỗi ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết thôi: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”.

Có người giải thích câu nói: “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi”, cho rằng Chúa muốn nói: “Chỉ cần làm một món ăn thôi cũng đủ rồi!”. Lời giải thích ấy không phải là vô căn cứ, giải thích theo nghĩa thông thường đi nữa, thì lời trách nhẹ của Chúa Giêsu vẫn chính đáng; bởi vì trong chuyện tiếp khách, vấn đề không phải chúng ta chỉ biết cho, và người khách chỉ biết nhận, mà chính chủ nhà cũng phải biết nhận và để cho khách niềm vui được chia sẻ. Cho và nhận, đây không phải là có ý nói tới những gì là vật chất, như ăn uống, quà cáp… mà trước hết là sự hiện diện cũng như những câu chuyện trao đổi. Một người bạn thân khi đến với chúng ta, dù có được mời đến để dự tiệc, cũng không bao giờ chỉ biết vác bụng đến, nhưng còn đến trước hết với tình bạn của mình: người ấy muốn gặp chúng ta, muốn nói chuyện với chúng ta, còn chuyện ăn uống chỉ là một phương tiện, một bối cảnh được tạo ra, như người xưa thường nói: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Vậy, nếu được phép góp ý kiến cho hai chị em Matta và Maria, thì chúng ta sẽ có thể đề nghị như sau: hai chị em nên phân công nhau rõ ràng, mỗi người một việc. Nhưng làm sao luôn có người ngồi đó tiếp chuyện với Chúa, và nếu hai chị em đã biết tính Chúa thích ăn uống giản dị, thì cũng không nên trổ tài nấu bếp làm gì cho phí thời giờ, Chúa đến không chỉ để ăn uống với hai chị, mà Ngài còn muốn chia sẻ Lời Thiên Chúa cho hai chị nữa, nên cũng phải biết tỏ ra sốt sắng đón nghe Lời Chúa nói với các chị nữa.

Còn chúng ta thì sao, thưa anh chị em?

Chúng ta có thể vì quá mải mê công việc làm ăn đến nỗi quên mất lý do khiến chúng ta phải lao khổ như thế. Chúng ta có thể vì mải mê kiếm sống đến nỗi quên mất chính mục đích của cuộc sống. Chúng ta có thể lu bu đeo đuổi những cái mà đồng tiền có thể mua sắm được để rồi quên béng những gì mà đồng tiền không thể mua sắm được. Và chúng ta vô tình đã biến thành những Matta nhiệt tình thật đấy, nhưng lăng xăng lo lắng đủ chuyện, mà quên mất “một chuyện cần thiết nhất”: lắng nghe Lời Chúa, tiếp chuyện với Ngài.

Chúng ta lo xây cất cho Chúa những ngôi thánh đường đồ sộ lộng lẫy, nhưng rồi mấy ai trong chúng ta âm thầm tới ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe Chúa nói với chúng ta Lời Chúa, Lời làm cho chúng ta được sống. Bời vì “con người sống không chỉn hờ cơm bánh, nhưng còn nhờ Lời Chúa nữa” (Mt 4,4). Thực tế cuộc sống của chúng ta rất bận rộn. Chúng ta không có thời giờ để ngồi dưới chân Chúa. Chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, dự lễ ngày thường nhiều hơn, đọc Kinh Thánh hay sách báo đạo đức nhiều hơn. Nhưng chúng ta không có thời giờ.

Quả thật, Chúa muốn chúng ta vừa là Matta, vừa là Maria: vừa lao động vừa cầu nguyện. Chúa không nói rằng khi chúng ta làm việc như Matta, chúng ta không thể cầu nguyện như Marai, hay ngược lại. Hai việc đều liên hệ với nhau. Chúng ta phải vừa là Matta vừa là Maria. Ngày nay, một người phụ nữ danh tiếng nhất thế giới là một nữ tu bác ái, một Matta thời đại: Mẹ Têrêsa thành Calcutta Ấn Độ. Mẹ đã hiểu và đã truyền lại cho con cái thiêng liêng của Mẹ tinh thần Tin Mừng hôm nay. Cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày để ra một giờ để chầu Mình Thánh Chúa trước khi xuống “địa ngục Calcutta” để săn sóc những người nghèo khổ hoặc đi vào trong các “nhà hấp hối” để giúp những người sắp chết được an nghỉ trong Chúa.

Anh chị em thân mến,

Thánh lễ là lúc chúng ta trở thành những Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu lắng nghe Lời Ngài. Đến với Chúa, chúng ta đừng tiếc thời giờ, đừng lật đật vội vã đến trễ về trước, sợ thiệt thòi, mất mát, hay đến ở ngoài sân nhà thờ không chủ tâm dự lễ, không đón nhận Lời Chúa, Mình Thánh Chúa, không mời Chúa vào nhà. Chúng ta cũng đừng đến với Chúa ngày Chúa Nhật, chỉ vì bắt buộc, miễn cưỡng, sợ mắc tội. Hãy đến với Chúa như một người con, một người bạn, đến để tìm Chúa, gặp Chúa, lắng nghe Lời Chúa, chỉ vì tình yêu mến Chúa mà thôi.

Thánh lễ còn là lúc Chúa đến thăm chúng ta như đã đến với hai chị em Matta và Maria. Hãy quý trọng sự hiện diện của Ngài trong lòng chúng ta và biết tiếp chuyện với Ngài, để sự hiện diện của Chúa và Lời Chúa nuôi sống chúng ta ngày hôm nay, ngày mai và cho đến cuộc sống muôn đời.

 

 

14. Mácta và Maria – McCarthy

Suy Niệm 1.CHO VÀ NHẬN

Tôi có một giấc mơ. Chúa đến nhà tôi như đã đến nhà của Mácta và Maria. Vì thế tôi lau chùi, cọ rửa từ trên xuống dưới, rửa sạch và đánh bóng mọi thứ. Rồi tôi dọn bàn với khăn bàn tốt nhất, bộ chén dĩa bằng sứ, bộ dao nĩa muỗng bằng bạc loại tốt nhất, và cũng bài trí nến và hoa. Về thức ăn, tôi chọn món đắt tiền. Khi tất cả đã sẵn sàng và khách mời sắp đến, tôi trải thảm đỏ ra tận cổng nhà.

Người đến và tôi nghĩ tôi đã làm Người phải tự hào. Tôi phô bày thành tích cao. Tôi cung kính đứng hầu bên cạnh. Không ông vua nào có được sự phục vụ hào phóng hơn. Tôi chắc rằng cuộc đàm đạo sẽ không bao giờ nhạt nhẽo. Về phần Người, Người rất vui, Người tỏ vẻ cảm kích khi thấy tôi lúng túng. Mọi việc kết thúc chính xác như đồng hồ. Khi Người đã ra về, tôi cảm thấy tốt đẹp, và tuy vậy có một điều gì đó làm tôi phải băn khoăn.

Có một lúc tôi như đã hụt hẫng với điều lẽ ra phải có. Rồi một câu hỏi hiện ra trong tôi: Người muốn điều gì nơi tôi? Thức ăn? Lòng hiếu khách? Tôi tự hỏi. Nhưng rồi tôi nghe thấy một câu hỏi thứ hai vang lên trong tôi: Người muốn cho tôi điều gì? Tôi cảm tháy chắc chắn Người muốn cho tôi điều gì? Nhưng dù là điều gì, tôi đã không cho Người cơ hội để ban nó cho tôi. Tôi đã tạo ra cảm tưởng mọi việc đều hoàn hảo và tôi không muốn có thêm điều gì nữa.

Có những người rất hào phóng và tốt bụng khi cho nhưng rất nghèo nàn khi nhận. Bác sĩ Marie de Hennezel thành thập một số bộ phận tiếp nhận những người bệnh ở giai đoạn cuối trong một bệnh viện ở Paris. Trong cuốn sách của bà nhan đề Intimate Death, bà nói về một phụ nữ được đưa đến bộ phận ấy. Người phụ nữ này đã từng giúp đỡ mọi người nhưng giờ đây không thể giúp đỡ chính mình. Bà luôn luôn muốn được người ta ban cho thật nhiều yêu thương. Nhưng nhận được chúng thì thật là khó khăn. Bà nói về sự yêu thương của gia đình, của bạn bè, của những người chăm sóc bà như “một suối nước mà bà không biết phải uống như thế nào”. Bà cần học cách nào để lại trở thành một trẻ nhỏ, khiêm tốn đủ để nhận một món quà. Nhưng điều đó không dễ dàng bởi vì bà hoàn toàn đối lập với điều đó: bà thích cho một cách vị kỷ.

Những người vị kỷ, coi mình là trung tâm không thích nhận. Tại sao thế? Bởi vì nó làm cho họ cảm thấy thấp kém hơn người khác và đặt họ vào sự mắc nợ những người khác. Mặt khác họ thích cho bởi vì điều ấy tâng bốc cái tôi của họ, do đó (có lẽ một cách vô thức) làm cho họ cảm thấy cao sang hơn những người khác.

Cho là việc quan trọng. Nhưng nhận cũng thế. Không ai trong chúng ta tự cho mình là đủ. Mọi người chúng ta đều bất toàn. Chúng ta cần tiếp nhận của nhau, và trên hết, tiếp nhận từ Thiên Chúa. Không có khả năng tiếp nhận quả là bi thảm. Biết cho như thế nào chưa đủ, chúng ta cũng phải biết nhận như thế nào. Cả hai đều là những hoạt động của ân sủng.

Câu chuyện Tin Mừng cho chúng ta thấy sự khác nhau chủ yếu giữa Mácta và Maria. Mácta không có khả năng nhận, trong khi Maria có. Maria cho Chúa món quà là một tâm trí mở rộng và một tâm hồn mẫn cảm. Còn Mácta, trong lúc rất tốt, rất hào phóng khi cho, lại rất nghèo nàn khi nhận. Cả Chúa cũng không thể cho cô điều gì. Có một bài thơ ngắn nói lên điều ấy:

Nếu bạn có thể làm cho mình trống rỗng

Giống như một vỏ sò không

Hẳn Người sẽ tìm thấy bạn

Trên một bãi cạn của đại dương

Và Người tự nhủ: Nó chưa chết.

Và làm đầy bạn bởi chính Người

Nhưng nếu bạn quá đầy với chính bạn

Và với bao hoạt động khôn ngoan,

Đến nỗi khi Người đến Người liền nói:

Nó đủ cho nó. Nó quá đầy

Không còn chỗ dành cho Ta

(T. Brown. Thi sĩ xứ Manx)

Suy Niệm 2.SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA

Chúng ta không sống đời sống tâm linh một cách nghiêm túc, chúng ta không dành ra một ít thời gian để sống với Thiên Chúa và lắng nghe lời Người. Phần lớn chúng ta đọc một số kinh sáng và kinh chiều. Nhưng, khổ nỗi, những kinh nguyện ấy thường là những lời quá quen thuộc mà chúng ta đọc một cách máy móc, vội vàng trong lúc đầu óc cứ mãi chạy theo nhưng công việc đang chờ đợi chúng ta. Kinh nguyện như thế giống như mặc áo quần, rồi mới rửa tay của mình khi người ta cần phải được tắm rửa, kỳ cô. Chúng ta cần có sự cầu nguyện tập trung, dâng hiến, sự cầu nguyện giống như cơn đói phải được no thoả mà không gì có thể thay thế. Loại kinh nguyện ấy luôn làm cho chúng ta biến đổi và thêm sức mạnh. “Cầu nguyện không phải là xin xỏ. Nó là sự khao khát của linh hồn. Nó là sự thừa nhận mỗi ngày sự yếu đuối của chúng ta”.

Đối với nhiều người, cầu nguyện chủ yếu là đọc kinh hơn là cầu nguyện. Trong một ý nghĩa nào đó, cầu nguyện bắt đầu ở chỗ mọi diễn tả chấm dứt. Những lời nói mà môi miệng chúng ta thốt ra thường chỉ là những làn sóng trên bề mặt của bản thể chúng ta. Hình thức cao nhất của sự tôn thờ là thinh lặng.

Có lẽ kinh nguyện có lợi nhất chính là ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không nói hoặc làm điều gì. Chỉ ngồi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, như Maria ngồi trong sự hiện diện của Đức Giêsu. Nhưng đối với một số người, điều đó có vẻ như lãng phí thời gian trong khi có rất nhiều việc phải làm.

Ở trong sự hiện diện, không nói hoặc làm điều gì, không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì ngay khi chúng ta ngừng lại, chúng ta cảm thấy trống rỗng kể cả thấy mình vô dụng. Phần đông chúng ta có ý thức về giá trị của mình qua việc làm. Họ không biết đương đầu như thế nào với sự ngưng nghỉ và bất động. Kết quả là đời sống của họ nông cạn và hời hợt bên ngoài.

Phần đông con người có xu hướng đặt tình yêu của Thiên Chúa với hoạt động của xã hội. Dĩ nhiên cầu nguyện có thể là một sự tránh né và thoát ly. Nhưng hoạt động xã hội cũng thế. Hoạt động của chúng ta có thể là một sự tránh né việc tìm kiếm Thiên Chúa. Và không có cầu nguyện người ta có thể dễ dàng quỵ ngã, hướng ngã thay vì được Thiên Chúa hứng khởi.

Henry David Thoreau đã sống hai năm trong một túp lều trong rừng ở Maine. Ông ta làm gì trong suốt hai năm ấy? Ông trồng một vườn rau, đọc sách, và quan sát thiên nhiên. Nhưng một đôi khi ông không làm gì cả. Ông nói: “Thỉnh thoảng vào một buổi sáng mùa hè, tôi ngồi trên con đường ngập nắng dẫn vào túp lều từ sáng sớm cho đến trưa, mê man trong mộng tưởng giữa những cây thông, trong sự cô đơn và bất động yên tĩnh, trong khi bầy chim ca hát xung quanh tôi”.

Ông đã thu hoạch được gì từ điều đó? Ông nói:

“Trong những mùa ấy, tôi lớn lên như ngũ cốc trong đêm. Đó không phải là thời gian bị lấy mất khỏi đời tôi, nhưng vượt ra ngoài và bên trên sự bớt đi thông thường. Cần cù như những con kiến chưa đủ. Bạn cần cù về điều gì? Đừng sợ cuộc đời bạn sẽ kết thúc; đúng hơn phải sợ cuộc đời chưa bao giờ đã bắt đầu”.

Một số người có thể cho rằng Thoreau là một người mơ mộng lười biếng. Nhưng chúng ta cần dành thời gian cho việc cầu nguyện và suy niệm, hoặc chỉ cần ngồi thinh lặng trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó không phải là thời gian bị lãng phí mà là thời gian được sử dụng tốt. Mỗi ngày chúng ta phải cố gắng, dù chỉ trong một thời gian ngắn, tìm kiếm khuôn mặt của Thiên Chúa.

Với cái nhìn nông cạn, phần việc của Maria có vẻ dễ dàng hơn –cô chỉ việc ngồi đó, và phần việc của Mácta khó khăn hơn. Nhưng suy nghĩ kỹ, chúng ta có thể thấy ít nhất đôi khi, phần việc của Maria khó khăn hơn nhiều trong hai phần việc ấy. Gạt bỏ công việc của mình và chú tâm hoàn toàn vào người khác không dễ dàng. Đem sự chú tâm trọn vẹn ấy vào Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn. Nhưng đó là linh đạo sinh ra lợi ích rất lớn lao.

CÂU CHUYỆN KHÁC

Tổng Giám mục Anthony Bloom kể lại rằng người đầu tiên đến xin ngài một lời khuyên khi ngài đã được truyền chức thánh là một bà cụ, bà nói: “Thưa cha, con đã cầu nguyện hầu như không ngừng suốt mười bốn năm, và con chưa bao giờ có cảm giác gì về sự hiện diện của Thiên Chúa”.

“Con có để cho Thiên Chúa có cơ hội lên tiếng không?” ngài hỏi.

“Ồ không”, bà nói, “Con đã nói với Người suốt thời gian ấy. Như thế không phải là cầu nguyện sao?”.

“Không,” ngài nói. “Cha không nghĩ như thế. Bây giờ cha gợi ý thế này. Con hãy dành riêng mười lăm phút để chỉ ngồi trước mặt Thiên Chúa”.

Và bà đã làm như thế. Kết quả là gì? Không lâu sau, bà ta trở lại và nói: “Thật lạ lùng, khi con cầu nguyện cùng Thiên Chúa, nói cách khác khi con nói với Người, con không thấy điều gì. Nhưng khi con ngồi thinh lặng, yên tĩnh mặt đối mặt với Người, con cảm thấy được bao trùm trong sự hiện diện của Người”.

Sau cùng, cầu nguyện không phải để nhiều lời nhưng hướng đến sự hiệp thông với Thiên Chúa. Cầu nguyện là một sự yên nghỉ trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây là vấn đề giữ tĩnh lặng trong sự hiện diện của Người hơn là việc đọc kinh.

 

 

15. Martha và Maria.

Có một bà bếp của cha sở nọ, mỗi lần nghe đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, đều than phiền:

- Phải rồi, nếu không có Martha, thì ai sẽ lau nhà, sẽ nấu ăn, sẽ rửa chén.

Cũng vậy, nếu tôi chỉ ngồi suy nghĩ và bàn luận về những sự cao siêu trên trời, thì chắc chắn chẳng có ai làm những công việc tầm thường ấy. Ngay trong lúc này, hẳn nhiều người trong chúng ta cũng tự hỏi:

- Làm thế nào để dung hòa giữa thái độ của Martha và thái độ của Maria, hầu nhờ đó mà áp dụng vào cuộc sống cụ thể của mỗi người chúng ta.

Thực tế cho hay cuộc sống của chúng ta thì rất bận rộn, chúng ta không có thời giờ để ngồi dưới chân Chúa. Chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, chúng ta muốn tham dự thánh lễ thường xuyên hơn, chúng ta muốn đọc và suy gẫm lời Chúa lâu giờ hơn, nhưng kẹt một nỗi chúng ta lại không có thời giờ.

Quả thật, Chúa Giêsu muốn chúng ta vừa là Martha lại vừa là Maria. Ngài không nói rằng: Khi làm việc như Martha, chứ không thể cầu nguyện như Maria, hay trái lại, khi cầu nguyện như Maria, chúng ta không thể làm việc như Martha. Hai thái độ trên liên hệ mật thiết và bổ túc lẫn cho nhau: Chúng ta vừa phải là Martha vừa phải là Maria. Vậy thì chúng ta thực hiện lý tưởng ấy như thế nào?

Tôi xin thưa: Chúng ta hãy khởi đầu một ngày mới bằng cách dâng lên Chúa lời nguyện vắn tắt sau đây:

- Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa trọn ngày hôm nay.

Còn nếu như có đủ thời giờ, chúng ta hãy cầu nguyện:

- Lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa mọi tư tưởng, mọi lời nói và mọi việc làm, để tôn vinh danh Chúa, hợp cùng cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng cứu chuộc chúng con.

Đồng thời, thỉnh thoảng trong ngày, chúng ta hãy lặp lại lời kinh trên, nhờ đó thánh hóa những công việc tầm thường của chúng ta, biến những công việc tầm thường ấy trở thành một lời kinh liên tục, hay nói một cách khác biến cuộc đời chúng ta trở thành một thánh lễ nối dài.

Các vị thánh là những người bận rộn. Với các ngài, cái búa, cái cưa, cái cày, cái cuốc, cái chổi được coi như là những chén thánh ở trên bàn thờ. Tại sao lại như thế?

Tôi xin thưa vì những dụng cụ ấy là những dụng cụ để các ngài làm tôn vinh danh Chúa. Điểm chính yếu trong đời sống đạo đức đó là tinh thần phục vụ. Phục vụ Chúa trong mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc. Thánh lễ chúng ta đang tham dự cũng là một hình ảnh lý tưởng để chúng ta vừa là Martha lại vừa là Maria. Như Martha chúng ta cùng hát, cùng đọc và cùng dâng với mọi người. Như Maria chúng ta lắng nghe và suy gẫm lời Chúa, cũng như kết hiệp tâm tình để cầu nguyện với Chúa.

Khi rước lễ, Chúa Giêsu sẽ là vị khách quí ngự đến trong tâm hồn chúng ta, như ngày xưa Ngài đã là vị khách quí dưới mái nhà Bêtania. Xin Ngài hãy giúp chúng ta biết thực hiện tinh thần phục vụ như Martha và Maria, đó là hãy làm mọi việc dù tầm thường nhỏ bé nhất vì lòng yêu mến Ngài, nhờ đó những việc nhỏ bé tầm thường này sẽ trở thành những sợi chỉ vàng, dệt nên tấm vải cuộc đời chúng ta.

 

 

16. Những mẫu gương sáng ngời.

(Suy niệm của Lm. Phạm Thanh Liêm)

Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay cho thấy những tấm gương sống Lời Chúa trong những hoàn cảnh khác nhau: Abraham, Maria và Phaolô.

Chọn điều tốt nhất

Đức Giêsu trên đường rao giảng, ghé vào một gia đình rất quý mến Ngài. Đó là gia đình của Martha, Maria và Lazarô. Cô Martha lo làm đồ ăn đãi khách. Có lẽ có cả các tông đồ cùng ở với Đức Giêsu, vì thế Martha một mình làm bếp cho mười sáu người ăn. Với gia đình này, Đức Giêsu và các tông đồ là những vị khách quý, nên có thể đây là bữa tiệc. Biết bao việc phải làm, thế mà Maria vẫn ngồi bên chân Đức Giêsu và nghe Ngài giảng dạy. Chắc Martha đã ra hiệu hoặc nói với Maria giúp mình, nhưng Maria vẫn giữ lập trường: ngồi tiếp chuyện Đức Giêsu, ngồi nghe Ngài giảng dạy. Không thể chịu nổi nữa, Martha đã xin Đức Giêsu can thiệp: “em con để một mình con với bao nhiêu việc, xin thầy bảo nó giúp con một tay”.

Theo nhiều người, Martha hoàn toàn có lý. Cả Maria lẫn Đức Giêsu đều không được tế nhị lắm. Có lẽ Martha không chỉ trách Maria, mà trách cả Đức Giêsu như thể Đức Giêsu vô tình không để ý đến vất vả của Martha.

“Martha, chị lo lắng về nhiều chuyện quá. Chỉ cần một điều thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai cướp đi được”. Trên đời có nhiều điều có thể làm, phải chọn điều nào quan trọng và cần thiết để làm. Trong trường hợp này, không cần phải làm nhiều món để đãi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài. Không cần phải vất vả như vậy. Tại sao lại phải làm nhiều món, và điều đó lại là không quan trọng (đối với Đức Giêsu), để rồi phải càm ràm oán trách người khác. Maria đã chọn nghe Lời Chúa, và cũng sẵn sàng chấp nhận bị chị càm ràm, và cả người đời càm ràm chê trách, như thể là người lười, như thể là người không tế nhị và không biết giúp đỡ chị nữa.

Không có một bản lĩnh và một chọn lựa dứt khoát, không thể hành xử như Maria được. Trong cuộc sống, tôi đã chọn điều gì là quan trọng?

Niềm nở ân cần tiếp đón tha nhân

“Đang ngồi hóng mát, nhìn lên Abraham thấy “ba vị” đang đứng gần. Abraham chạy lại, cúi mình chào các vị, mời các vị khách rửa chân cho thoải mái trong một môi trường nóng bức, và dùng bữa”. Với Abraham, đây không phải là những người quen thường gặp, thế nhưng Abraham đã tiếp đón rất ân cần tử tế. Thái độ hiếu khách của Abraham đã làm tương quan giữa Abraham và khách trở nên rất tốt, đến độ các vị khách đã “tỏ mình” cho Abraham.

Thái độ hiếu khách của Abraham đặt vấn đề cho con người ngày nay. Thái độ sống của tôi đối với những người tôi gặp gỡ như thế nào? Abraham đã đón tiếp tha nhân, và cuộc đón tiếp này đã trở thành cuộc đón tiếp Thiên Chúa. Đức Giêsu cũng đã đồng hoá mình với những người nghèo, đến độ ai đón tiếp người nghèo là đón tiếp Chúa, ai cho người nghèo ăn là cho Chúa ăn, ai đi thăm và giúp đỡ người nghèo là đi thăm và đón tiếp Chúa (Mt.25, 31tt). Đối xử với con người, là đối xử với Thiên Chúa.

Rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô

Cả cuộc sống của Phaolô sau khi trở lại, là rao giảng, phục vụ Tin Mừng. Ngài được gọi để được sai đi rao giảng, và Ngài đã thực hiện sứ mạng của Ngài trong mọi hoàn cảnh, bất chấp những khó khăn và nguy hiểm. Ngài rao giảng cả khi ở trong tù, cho cả người Do Thái lẫn người ngoại, cho người đời bình thường cũng như cho những người có địa vị và thế lực. Ngài vui ngay cả trong những khổ đau, và Ngài muốn “hoàn tất” những gì còn thiếu trong thân thể Giáo Hội. Với Phaolô, Ngài “học no học đói”, Ngài làm tất cả để Chúa được tôn vinh hơn.

Với Phaolô, Đức Giêsu là Tin Mừng. Đức Giêsu là mầu nhiệm được giữ kín từ muôn thuở, nay được mặc khải cho con người. Đức Giêsu Kitô là tất cả đối với Phaolô, Ngài sẵn sàng bỏ tất cả để được Đức Giêsu Kitô.

Phaolô trở thành con người tuyệt vời, nhờ thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Ước gì mỗi người không mắc cỡ nhưng can đảm tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng. Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà mỗi người Kitô hữu trở thành người tuyệt vời.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Bạn có chấp nhận chọn lựa của Maria không? Tại sao?

2. Theo bạn, hiếu khách có còn giá trị trong xã hội hiện tại không? Xin cho biết lý do.

3. Có cần phải rao giảng Tin Mừng cho con người thời đại ngày nay không? Tin vào Tin Mừng giúp gì cho con người ngày nay?

 

 

17. Yêu theo cách của người mình yêu

Trên đường đi Giêrusalem, cách thành thánh 3 cây số, Chúa Giêsu ghé lại Bêtania, nơi ở của Mácta, Maria và Lagiarô, một gia đình mà Ngài rất quen thân và vẫn thường lui về nghỉ ngơi trong những dịp thi hành sứ vụ tại thủ đô. Không có nơi nào tính cách nhân loại mà Luca chủ trương phác hoạ được diễn tả trọn vẹn hơn ở đây, trong khung cảnh đầm ấm của gia đình, mà cũng khó gặp được một bức hoạ tâm lý sống động hơn ở đây. Có người tưởng tượng rằng Mácta là người khô khan nhưng cương nghị và đắc lực, còn Maria thì đôn hậu, đa cảm và lười. Thật ra cả hai chị em đều có những đức tính đáng khen. Cả hai đều yêu kính Chúa Giêsu và ước ao làm vui lòng Chúa. Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Mácta đã làm việc quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon. Còn Maria vì trực giác hơn được điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Nguời dạy. Nàng biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, nàng phải để ý đến ý muốn của vị khách trước. Trong việc tiếp đãi Thầy, nàng đã làm được việc lớn hơn chị nàng.

“Mácta tất bật lo việc phục vụ”. Nàng bù đầu với nhiều công việc mình muốn làm. Một kẻ theo Chúa có thể cố gắng thái quá, đôi khi điều đó bị thúc đẩy do cảm giác tự tôn và kiêu hãnh. Điều đó đã khiến cho người ta cáu kỉnh như Mácta khi nàng chỉ trích em mình, làm giảm giá em mình trước mặt vị khách của cả hai, vì câu nàng nói với Chúa ngụ ý trách cả Chúa nữa: “Em con để con một mình phục vụ mà Thầy không quan tâm sao?”.

Đáp lại Chúa tỏ lòng ưu ái bằng cách thân mật gọi tên nàng, nhưng trách nhẹ tinh thần của nàng và bày tỏ nguồn gốc của tinh thần ấy: “Mácta! Mácta! Con băn khoăn lo lắng về nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Ý Ngài muốn nói: không cần phải một bữa ăn thịnh soạn, một vài món cũng đủ rồi, nhưng có một điều cần thiết, điều ấy Maria đã chọn.

Chúng ta thử tìm những bài học nơi đây:

Nó bày tỏ sự va chạm giữa những tính tình khác biệt

Có người thì tự nhiên hăng hái hoạt động, lại có người khác ưa trầm tĩnh. Thật khó cho một người năng nổ hiểu một người chỉ thích ngồi yên để trầm tư mặc tưởng. Ngược lại, người trầm tư mặc tưởng lại thường khinh dể những người cứ luôn tay luôn chân. Không có vấn đề phải trái ở đây. Thiên Chúa đã không dựng nên mọi người giống nhau. Thiên Chúa cần có những người như Maria, nhưng Ngài cũng cần những người như Mácta, và cả hai người đó đều phục vụ Chúa. Không ai được độc quyền phục vụ Chúa hay chủ trương rằng chỉ có cách mình phục vụ mới là chính đáng.

Trong một cuộc lễ trọng, trên bàn thờ chưng đầy hoa nến, một cây nến được cắm giữa chậu hoa, đến cuối lễ, cây nến cháy hao dần và sức nóng toả ra làm các cánh hoa rũ rượi cụp xuống. Hoa than thở với nến: Chị và chúng em cùng phụng thờ Chúa, sao chị lại đốt rụi chúng em!

Nhưng ở đây còn có một bài học nữa: Bài học về một thứ lòng tốt sai lầm

Hãy nghĩ đến chỗ Chúa Giêsu đang đi đến khi chuyện này xảy ra. Ngài đang trên đường đến Giêrusalem. Toàn thể hồn xác Chúa đang lâm vào một cuộc chiến đấu nội tâm để làm cho ý muốn của Ngài hiệp nhất với ý muốn của Chúa Cha. Khi Chúa Giêsu tới gia đình này, đó là một ngày trọng đại cho họ. Để mừng ngày trọng đại này, Mácta rất muốn thực hiện một điều tốt nhất mà gia đình có thể thực hiện được. Vì thế nàng chạy ngược chạy xuôi, nấu nướng, và đó chính là điều Chúa Giêsu không muốn. Ngài chỉ muốn một điều là được yên tĩnh. Với hình ảnh thập giá ở trước mặt cùng một sự căng thẳng trong tâm hồn, Ngài đã rẽ bước về Bêtania để tìm một chỗ lặng lẽ nghỉ ngơi, dầu chỉ được một hai tiếng đồng hồ, để tránh xa đám đông dân chúng quá nôn nao đòi hỏi, và để có thể chia sẻ tâm tình với bạn thân để lòng vơi đi nỗi căng thẳng. Đó là điều Maria đã đem đến cho Ngài và đó cũng là điều mà Mácta vì lòng tốt đã làm hết sức để phá đi. “Chỉ một việc cần” câu ấy có thể có ý “Ta không muốn một bàn đầy thức ăn, Ta chỉ cần một món thật đơn giản”. Maria hiểu, còn Mácta thì không hiểu được. Đây là một trong những khó khăn của cuộc đời. Thường thì chúng ta muốn tử tế với mọi người, nhưng tử tế theo cách của chúng ta. Nếu cách thế của chúng ta không được thừa nhận, chúng ta cảm thấy dễ phật lòng tưởng rằng người ta không trọng mình.

Nếu chúng ta đang cố gắng ăn ở tốt với người khác, trước hết chúng ta phải hiểu ý của người mà mình muốn giúp đỡ, rồi chúng ta phải quên những chương trình của mình và chỉ nghĩ đến điều mà người đó đang cần.

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln viết thư mời ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch. Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo viết về vấn đề đó, trong đó nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành việc ủng hộ chế độ nô lệ. Sau khi hăng hái nói một hồi lâu. Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết. Lincoln đã nói, đã trút bỏ những suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn”. Lincoln chỉ cần một người bạn thân biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

Chúa Giêsu yêu thương Mácta và Mácta cũng yêu mến Chúa, thế nhưng khi Mácta tỏ lòng tốt, thì lại chỉ tốt theo cách của nàng, điều mà thực sự không tốt với Đấng mà tâm hồn đang khao khát sự yên tịnh, sự thân mật. Chúa Giêsu yêu Maria vì Maria yêu Chúa, Maria cũng hiểu biết Chúa nữa.

 

 

18. Phúc cho ai sẵn sàng đón nhận Chúa _ Jude Siciliano

Khi viết Tin Mừng, thánh Luca chia cuộc đời Chúa Giêsu làm 3 giai đoạn:

1. Ở quê hương Nazareth xứ Galilea;

2. Hành trình đi lên Giêrusalem;

3. Ở thành thánh Giêrusalem: chịu thương khó, bị giết chết và sống lại.

Thánh nhân thâu gom mọi hoạt động của Chúa vào 3 giai đoạn ấy bất kể nơi chốn và thời gian. Cho nên chúng ta khó xác định biến cố xảy ra ở đâu, lúc nào? thí dụ chuyện của hai chị em Matta và Maria hôm nay. Thánh sử ghi chép rất chung chung: “Trong khi Thầy trò đi đường. Đức Giêsu vào một làng kia…” Thánh Gioan nói rõ: làng Betania (11,1), và thời gian thì không phải Đức Giêsu đi lên Giêrusalem một lần duy nhất, nhưng vào nhiều dịp khác nhau. Tuy nhiên cứ theo thánh Luca thì câu chuyện Tin mừng hôm nay ở vào cuộc hành trình duy nhất này. Phụng vụ cho đọc về cuộc hành trình từ Chúa nhật 13 mùa thường niên. Một vài biến cố xảy ra lúc thầy trò đang đi đường. Một vài biến cố chỉ lấy con đường làm nền tảng còn thì xảy ra ở những nơi khác. Chuyện của hai chị em Matta và Maria không ở trên đường đi mà “vào một làng kia”. Cũng xin lưu ý nhiều tác gỉa không đồng nhất bà Maria này với Maria-Madalêna hay người đàn bà tội lỗi vô danh xức thuốc thơm chân Chúa ở nhà ông Simon (7,36). Ba người đàn bà có những tính nết khác nhau, không lẫn lộn được. Người đàn bà vô danh thánh Luca thuật chuyện ở giai đoạn thứ nhất. Ngài không lặp lại ở đây nữa (xem Le personnage de Marie-Madeleine dans L’Evangile, trong La revue Jerusalem tháng 9-10,1930).

Vì câu chuyện quá quen thuộc, chúng ta không nên vội vàng đi đến kết luận ngay, kẻo làm thiệt hại cho sự thật. Xin tưởng tượng mình đọc lần thứ nhất và để tâm suy nghĩ xem thánh Luca muốn nói gì với chúng ta nhân câu chuyện của hai chị em. Thí dụ về cô Matta, chúng ta đừng vội kết luận cô ta thuộc hạng người hoạt động thái quá, dễ nổi nóng và lo lắng tiếp đãi khách, cô không còn thời giờ lắng nghe lời Thiên chúa phán dạy. Nếu chúng ta có thành kiến gán cho cô như vậy, thì thử hỏi nhiều độc giả nghĩ thế nào khi đọc đoạn Tin mừng này? Bởi vì họ cũng là người cha, người mẹ vất vả kiếm sống cho con cái trong xã hội xô bồ hôm nay. Họ cũng là những công nhân, nông dân đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi gia đình! Liệu có ai trong cuộc sống văn minh ngày nay được thời giờ nhàn hạ như cô Maria? Liệu chúng ta có kết án vô lý tầng lớp sản xuất của xã hội? Tầng lớp mọi người đều trân trọng vì lao động của họ?

Ví dụ một người cha, người mẹ độc thân, lương lậu thấp, cố gắng rất mực để cho gia đình đủ ăn đủ mặc mà nghe giải thích bài Tin mừng hôm nay theo não trạng cũ, mà lại không thấy mủi lòng? Liệu họ có thể lựa chọn ngồi một chỗ thinh lặng chiêm niệm lời Chúa như cô Maria được không? Cho nên chúng ta không thể loại trừ tầng lớp lao động chân tay khỏi ý nghĩa của Tin mừng. Chúng ta phải làm thế nào cho cô Matta cũng được tham dự vào “phần tốt nhất” mà Chúa Giêsu tuyên bố cho những kẻ lắng nghe lời Chúa! Như vậy thì những phụ nữ lao động tại gia đình hoặc trong các xí nghiệp. cơ quan mới cảm thấy không thiệt thòi về phần thiêng liêng. Chính họ đã phải hy sinh nhiều vì chồng con. Lắm người lại còn phải mang gánh nặng góa bụa. Liệu Matta có phải là một bà góa không nhỉ? Những chỉ số thống kê gần đây cho biết phụ nữ luôn lãnh lương thấp hơn so với nam giới trong cùng một công việc. Ngoài ra phụ nữ lại là những nhân viên tình nguyện đông hơn nam giới trong các cơ sở giáo hội, từ thiện, bác ái, công ích xã hội. Họ ít thời giờ giải trí, vui chơi hơn đàn ông. Thực tế họ là những phụ nữ “Samaritanô” nhân hậu lắng nghe và tuân giữ lời Chúa như chị em Maria và Matta. Cho nên chúng ta phải công bằng với họ trong lý thuyết và thực hành, làm sao cho họ cũng là những kẻ đón nhận Chúa Giêsu, lắng nghe lời Ngài như bao người khác. Để rồi như dụ ngôn người “thân cận” chúng ta hiểu được việc phục vụ của các tín hữu hệ tại nội dung nào?

Một điều cần nói là trong bản dịch khác của tiếng Anh thì từ “đón nhận” được chuyển ngữ là “tiếp đãi” Chúa Giêsu. Thoạt kỳ thủy chỉ có Chúa và cô Matta. Maria chưa xuất hiện. Trong suốt câu chuyện Maria chẳng nói lời nào! Matta theo truyền thống đông phương đã tiếp đãi kẻ đi đường rất nồng hậu và lịch thiệp. Chúng ta thấy truyền thống này trong bài đọc 1. Ông Abraham tiếp đãi ba người khách lạ xin trọ nhà ở Mambrê, gần Hébron. Ông đã giục vợ là Sara làm bánh tiếp đãi các vị, rồi sai đầy tớ bắt bê béo làm thịt. Sách Sáng thế Ký kể: “Ông Abraham vội vã vào lều tìm bà Sara mà bảo: Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi rồi làm bánh. Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê non béo tốt, giao cho đầy tớ và anh này vội vã làm thịt. Ông lầy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm mà đãi khách”. Rõ ràng có những vội vã, rộn ràng trong việc tiếp khách của ông Abraham. Vậy mà ông đâu có bị quở mắng? Ngược lại hai ông bà lại được chúc phúc: sẽ có con cháu nối dòng. Đó là Isaac (tiếng này có nghĩa là nụ cười vì bà Sara cười thầm khi nghe khách báo tin). Cô Matta đã theo thói tục lâu đời của cha ông đãi khách lạ trong nhà mình. Cả hai câu chuyện đều có ý nghĩa chung: tiếp đón Thiên Chúa đến viếng thăm. Abraham và Sara đã được ơn phúc lớn vì sự hiếu khách của mình. Chẳng lẽ Matta lại bị quở phạt? Chúng ta phải hiểu câu chuyện của cô theo hướng khác.

Phụng vụ chọn đọc bài Sáng thế song song với bài Tin Mừng là có dụng ý. Chúng ta được kêu mời suy nghĩ kỹ hơn về các sự kiện. Nhờ lòng hiếu khách Abraham và Sara được Thiên Chúa chúc lành với người con nối dòng. Nhưng dòng dõi đích thực của họ là phần tinh thần. Con cái họ là những kẻ biết kính sợ và tin cậy Thiên Chúa. Đấng luôn luôn ngự giữa dân Ngài theo lời hứa. Đấng ký kết với Israel những giao ước vĩnh cửu. Dòng dõi Abraham và Sara là những kẻ lữ hành trong đức tin trên cuộc đời trần gian. Họ sẽ “mở lòng ra” đón nhận Thiên Chúa trong cuộc sống mình. Cũng như Matta và Maria, chúng ta là hậu duệ của hai ông bà, chúng ta cũng phải mở trí, mở lòng đón nhận lời Chúa, đón nhận “khách lạ” vào cuộc sống mình. Những khách lạ đó không hẳn là người đồng vai đồng vế, những môn đăng hộ đối về kinh tế, chính trị, học thức với mình. Nhưng có thể là thấp kém, cũng có thể là hơn. Hội thánh xưa nay vẫn vừa chiêm niệm vừa hoạt động, hai khả năng không loại trừ nhau. Đúng hơn hoạt động và chiêm niệm bổ túc cho nhau. Hoạt động để chiêm niệm và chiêm niệm để hoạt động. Không nghiêng hẳn về bên nào. “Cầu nguyện và hoạt động” như thánh Bênedictô dạy. Tuần này qua tuần khác, chúng ta lắng nghe Tin mừng thánh Luca. Giống như Maria ngồi bên chân Chúa và nghe lời Ngài, để học biết phải “đón tiếp” Chúa vào cuộc sống mình ra sao! Tuần vừa qua chúng ta nghe dạy mình phải là “thân cận” của những kẻ đang cần được giúp đỡ. Tuần này câu chuyện của Maria lắng nghe lời Chúa. Như vậy chúng ta học biết phải thi thố lòng hiếu khách và tử tế cho những ai có nhu cầu. Chẳng phải vô tình mà sử gia Luca đặt câu chuyện hôm nay ngay sau chuyện người Samaria nhân hậu. Thánh nhân có ngầm ý gởi cho độc giả một thông điệp. Mọi người phải thưa gởi Chúa Giêsu như thầy thông luật: “Con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” và câu chuyện của hai chị em Matta và Maria trả lời: “Hãy đón tiếp Chúa Giêsu vào cuộc sống và lắng nghe lời Người dạy bảo về yêu thương đồng loại, những kẻ thân cận của mình” và con đường dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu sẽ rõ ràng cho mỗi linh hồn.

Chúa Giêsu hỏi ngược nhà luật sĩ: “trong luật đã viết gì?” Ông ta trả lời: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn ngươi và yêu mến ngươi thân cận như chính mình”. Câu này có hai phần: phần thứ nhất: yêu mến Chúa, phần thứ hai: thương người thân cận. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu trả lời cho phần thứ hai. Tin mừng hôm nay trả lời phần thứ nhất: Lắng nghe lời Chúa tức yêu mến Ngài. Đứng riêng lẻ một mình không nội dung nào đầy đủ cả. Trong dụ ngôn tuần trước người Samaria trông thấy và giúp đỡ kẻ bị nạn. Cô Maria hôm nay đón nghe lời Chúa. Cả hai gộp lại mới cho chúng ý nghĩa trọn vẹn lời giảng của Chúa Giêsu. Xin nhớ nữ giới thời Ngài thường bị hạ thấp giá trị, tương tự như trong xã hội chúng ta ngày nay. Cho nên, cả người Samaria, cả cô Maria là những mẫu người được Chúa Giêsu đề cao: “Mẹ và anh em Thầy là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”(8,21). Thánh Phaolô trong bài đọc thứ 2 là gương mẫu người thực thi ý Chúa và thương yêu đồng loại. Ông viết: “Tôi đã trở nên người phục vụ Hội thánh, theo kế hoạch Thiên chúa đã ủy thác cho tôi, liên quan đến anh em! Đó là tôi phải rao giảng lời Người cho trọn vẹn, rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại”. Chữ “mầu nhiệm” thánh nhân dùng gồm tóm mọi chương trình của Thiên Chúa, dự định cho nhân loại. Nhưng nay đã được tỏ bày qua con người và sứ vụ của Chúa Giêsu.

Một từ giúp hiểu rõ bối cảnh của tin mừng hôm nay là danh xưng “Lạy Chúa” (tiếng Latinh: Dominus, tiếng Anh: Lord). Từ này chỉ được Tin Mừng dùng sau khi Chúa đã sống lại. Thí dụ ông Tôma thưa: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con (you are my Lord and my God)”. Thánh Luca đã có dụng ý biểu lộ phản ánh sinh hoạt của Giáo Hội tiên khởi nơi ông trụ trì. Họ đón nhận và lắng nghe Chúa sống lại trong cộng đoàn của mình. Hơn nữa Tin Mừng còn 2 lần nhắc lại từ “phục vụ”(diakonia) chỉ rõ thói quen hành xử của các viên chức hội thánh lúc bấy giờ. Người ta đã tranh luận nhiều về vai trò nữ giới trong các Hội thánh tiên khởi. Liệu họ có được phép “phục vụ” trong Giáo hội không? Nếu được thì phần việc của họ là gì? Tương tự như chúng ta ngày nay tranh cãi về các vấn đề nữ giới làm linh mục. Thực tế, thời thánh Luca nữ giới giữ nhiều chức vụ trong cộng đoàn: mục vụ, công việc tông đồ, lãnh đạo, rao giảng Tin mừng như trong các thơ của thánh Phaolô (Rm 16,1-5; 16,6-12; 1Cr 16,19; Phil 4,3…). Nhưng trong các thư cũng như bài đọc Tin Mừng hôm nay có sự chia rẽ. Một số thẩm quyền muốn nữ giới giữ vai trò lệ thuộc như cô Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Và như thế người phụ nữ im lặng là “phần tốt hơn”. Đó cũng là một lối giải thích cho câu chuyện của Luca! Liệu ông có dụng ý thực sự như vậy không? Ông muốn vai trò của phụ nữ là im lặng và thụ động? Nếu đúng, thì tại sao trong công vụ ông nhắc nhiều đến phụ nữ làm việc tông đồ, lãnh đạo giáo đoàn? Hơn nữa, theo thói tục Do thái người ngồi dưới chân “tôn sư” là chỗ của các sinh viên nam giới? Hoặc bởi vì Chúa Giêsu là người phóng khoáng, ít khi lệ thuộc vào thói quen và tập tục, cho nên không để cho những nề nếp trói buộc mình. Bất cứ ai lắng nghe lời Ngài đều được ngồi dưới chân và trở nên môn đệ của Ngài. Vấn đề thật nhiêu khê. Dầu sao,vai trò của Matta đón tiếp và phục vụ là công việc quan trọng trong Hội thánh. Ngày nay chúng ta luôn phải thực hành, để những người cô thân cô thế không bị bỏ rơi. Có biết bao nhiêu khách lạ, đói khát, rét mướt, trần truồng trong xã hội. Không người chăm lo cho họ thì Hội thánh liệu có làm tròn sứ vụ của mình? May thay, trong công việc này, nữ giới chiếm phần đa số. Tương tự như trong các giáo hội tiên khởi có rất nhiều phụ nữ tài năng. Kẻ thì ngồi im lặng lắng nghe lời Chúa như cô Maria, kẻ khác hoạt động cứu giúp những nạn nhân thiên tai, dịch họa, bần cùng, đói khát như cô Matta. Bằng đường lối riêng của mình cả hai loại người cùng đón tiếp Chúa Giêsu, cùng phục vụ Ngài. Rõ ràng cả hai đều được Ngài dạy dỗ, bày tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân. Chúng ta nên cân bằng những hoạt động của họ, không bên khinh bên trọng. Mọi tín hữu đều được mời gọi lắng nghe lời Thiên Chúa. Mọi tín hữu có bổn phận đem Lời Chúa ra thực hành. Loại trừ mọi khả năng ưu tuyển, nhận cho mình những phần hơn, phần tốt. Bởi lẽ khi hoàn thành công tác, mọi người đều được Thiên chúa thâu nhận vào nước trời, an hưởng cuộc sống đời đời. Đó là phần tốt nhất và không bị lấy đi. Trong thánh lễ hôm nay, xin Thiên chúa cho mọi linh hồn thấm nhuần được tinh thần đó. Amen.

 

 

19. Một sự cần thiết

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta phân biệt hai loại cần thiết, đó là cần thiết tương đối và cần thiết tuyệt đối. Vậy thế nào là cần thiết tương đối và thế nào là cần thiết tuyệt đối?

Cứ chung mà nói, ai trong chúng ta cũng cần đến tiền bạc cũng như cơm ăn áo mặc. Vì thiếu nó, chúng ta không thể sống và nếu có sống, thì cũng sống trong cảnh cùng cực túng thiếu, sống không ra người. Bời đó, ai cũng chịu khó bươm chải, chạy ngược chạy xuôi, làm lụng vất vả, đổ mồ hôi xôi nước mắt để tìm tiền kiếm bạc. Cơm áo gạo tiền là nỗi lo lắng số một của chúng ta. Và trong bất kỳ phạm vi nào, thì vấn đề đầu tiên bao giờ cũng phải là vấn đề tiền đâu.

Một khi tiền bạc đã rủng rỉnh, người ta lại mơ ước đến quyền hành và thế lực, nhờ đó mà lên mặt với đời và để lại trong thời gian một chút danh giá, một chút tiếng tăm.

Đô đốc Byrd là một nhà thám hiểm Nam cực, vì không có đủ tiền, ông đã cho đăng báo và hứa rằng nếu ai giúp đỡ ông về phương diện tiền bạc, thì khi tìm thấy sông hoặc núi, ông sẽ lấy tên người ấy mà đặt cho. Tức thì nhiều người giàu có đã mang tiền đến giúp vì họ muốn cho tên tuổi của mình được tồn tại mãi với thời gian.

Một trường hợp khác, đó là Carnégie, ông vua thép ở Mỹ. Trong việc làm ăn, đã xảy ra một sự cạnh tranh giữa ông và Pullman, nhiều lúc đã đi tới chỗ va chạm và xích mích, thiệt hại cho cả đôi bên. Ngày kia, Carnégie đến giặp Pullman và nói:

- Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều điên khùng. Vậy tôi xin đề nghị với ông, thay vì cạnh tranh, chúng ta hãy hợp tác với nhau.

Nói rồi, Carnégie kể ra những lợi ích to lớn do sự hợp tác đem lại. Cuối cùng Pullman chỉ hỏi một câu:

- Vậy ông tính đặt tên cho công ty là gì?

- Công ty Pullman chứ sao nữa.

Nghe vậy, Pullman đã mỉm cười, bắt tay và mời Carnégie ở lại dùng cơm tối.

Xem đó, chúng ta thấy đô đốc Byrd và Carnégie đã đánh trúng vào yếu điểm của nhiều người, đó là lòng ham mê danh vọng.

Thế nhưng, tiền bạc và danh vọng có thực sự là điều cần thiết tuyệt đối hay không? Chắc chắn là không. Vì khi phải đối đầu với cái chết, chúng ta sẽ chẳng mang theo được một chút gì sang thế giới bên kia:

- Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng,

Chết xuống âm phủ, chẳng mang được gì.

Với chúng ta thì khác, sự cần thiết tuyệt đối chính là phần rỗi linh hồn như lời Chúa đã phán:

- Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi chi.

Tự đời đời, Chúa chẳng cần đến chúng ta. Nếu không có vũ trụ và loài người, thì Chúa vẫn là Chúa. Ngài hoàn toàn đầy đủ và hạnh phúc. Sở dĩ Chúa dựng nên chúng ta là để chúng ta được chia sẻ phần hạnh phúc với Ngài.

Bởi vậy, nhiệm vụ của chúng ta là phải nhận biết và thờ phượng Ngài, hầu nhờ đó đạt được phần rỗi cho linh hồn.

Đúng thế, chúng ta được sinh ra bên ngoài là nhờ cha mẹ. Nhưng không cha mẹ nào dám xác quyết rằng tất cả đều do mình trao ban. Những sự vật rất tầm thường như khí trời, cơm gạo, rau cỏ để cho chúng ta được sống là do ai, nếu không phải là do bởi chính Thiên Chúa.

Vì thế, sự cần thiết tuyệt đối đó là nhận biết và thờ phượng Thiên Chúa. Nếu thiếu sót trong phạm vi này, chúng ta đã thiếu sót một chuyện rất quan trọng. Vì chỉ có vấn đề này mới thực sự là cần thiết.

Cavalière là một nữ tài tử nổi tiếng và gặp nhiều may mắn. Thế nhưng, theo lời cô, giữa những lời khen tặng cô vẫn cảm thấy trống vắng, khiến cho nhiều lần cô muốn đi tìm cái chết. Tự đáy lòng, cô luôn nghe như có tiếng nói:

-Hỡi Cavalière, có phải mi được sinh ra là để bám lấy những cái phù du giả tạo đó hay sao?

Một hôm, người ta không thấy bóng dáng cô ở Paris, kinh thành ánh sáng nữa. Cô đi tới một miền núi, sống âm thầm và cầu nguyện trong một nhà dòng. Hai năm trước khi qua đời, Robert de Pierre, một nhà báo, tìm đến nơi cô đang ở. Thấy cuộc sống quá lặng lẽ và quạnh hưu, nên đã nói:

- Sống như thế này thì có chi là sung sướng.

Nhưng cô đã trả lời:

- Sung sướng lắm chứ. Sung sướng gấp ngàn lần ở Paris. Vì nhờ đó, tôi được sống gần Chúa, được sống trong Chúa và được sống với Chúa. Đó chính là niềm hạnh phúc tuyệt vời của tôi.

Hãy nhận biết và thờ phượng Chúa, nhờ đó đạt tới cuộc sống vĩnh cửu, đó là sự cần thiết tuyệt đối mà mỗi người chúng ta phải chọn lựa, phải thực hiện giữa cuộc đời đầy huyên náo và bon chen.

 

 

 

20. Điểm dừng

Khi nói đến điểm dừng, tức là có chuyển động. Bởi nếu không bao giờ chuyển động thì đó không phải là điểm dừng, mà là điểm cố định, một điểm chết. Điểm dừng thì trước khi dừng đã chuyển động, và dừng để rồi sẽ chuyển động. Bởi lẽ, dừng mà không bao giờ chuyển động nữa thì cũng là điểm dừng chết.

Từ những điểm dừng trong đời.

Quan sát cuộc sống quanh ta, chúng ta sẽ bắt gặp được những điểm dừng. Có những điểm dừng chết chóc, nhưng cũng có những điểm dừng sống động. Có những điểm dừng mang đến tai họa, nhưng cũng có những điểm dừng mang lại niềm vui, một sự đổi mới, một sự cứu rỗi: đồng hồ đang chạy, ngưng đồng hồ chết; hạt giống gieo xuống đất rất cần để yên một thời gian nó mới nẩy mầm. Một người đang đi trong một cánh rừng, anh dừng lại quan sát xung quanh, sau đó quyết định đổi hướng đi vì biết mình đã lạc đường một điểm dừng cho sự đổi mới, một cái dừng giải thoát.

Trở lại bức tranh Tin Mừng hôm nay mà Luca phác họa cho chúng ta. Chúng ta cũng gặp được những điểm dừng: Chúa Giêsu và các môn đệ dừng chân ở nhà Mácta và Maria; Maria dừng chân dưới chân Chúa Giêsu; Mácta dừng chân bên chân Chúa Giêsu. Tất cả những điểm dừng đều có mục đích: Chúa Giêsu và các môn đệ nghỉ chân để tiếp tục hành trình lên Giêrusalem; Maria dừng bên chân Chúa để nghe Lời Chúa; Mácta dừng lại để cầu cứu Chúa, dường như muốn làm nũng, dường như muốn trách Chúa.

Qua điểm dừng của Mácta trong Phúc âm:

Cô Mácta bận rộn, rất bận rộn với công việc phục vụ bề bộn. Lòng mến Chúa, lòng hiếu khách của cô được thể hiện qua công việc, cô muốn làm những thức ăn ngon nhất, phục vụ chỗ nghỉ tốt nhất mà cô có thể dành cho Chúa và môn đệ của Ngài. Cô thật tốt bụng. Cô là chị lớn nên nặng trách nhiệm, cô đảm đang tháo vát và nhiều sáng kiến. Sáng kiến nhiều nên nhiều việc, và cuối cùng làm chẳng kham đành xin Chúa can thiệp.

Mácta phục vụ Chúa, điều đó thật tốt. Thế nhưng điều tốt xem ra bình thường đó lại có vấn đề. Vấn đề ở chỗ nào? Ở chỗ là cô không toàn tâm toàn ý phục vụ Chúa, vì cô còn bận tâm để ý đến người em, mà người em này hiện ra trong mắt cô với hình ảnh không mấy tốt đẹp đó là người trốn việc, biếng nhác, và do đó công việc của cô đã bề bộn lại càng bề bộn hơn, đã rối trí lại càng rối trí hơn, nhưng rất may cho cô là giữa lúc bế tắc đó cô còn biết dừng lại bên Chúa. Cái dừng lại đó cần thiết cho cô, ích lợi cho cô lắm, vì cô sẽ có người tiếp tay công việc, vừa khép sự chú ý của Chúa và mọi người về phía mình mà trước đó dường như không ai để ý tới, vừa giải tỏa được nỗi ấm ức trong lòng đối với cô em Maria. Mácta dừng lại để người khác khen mình, để tự khen mình, khen mình cũng là hạ giá người khác: “Em con để mình con phục vụ”. Phải chăng ý cô là: Con quá giỏi, còn em con nó vụng về chẳng biết làm gì, lại vô tâm quá. Một cái dừng để trách móc người khác, và cũng để trách Chúa: “Mà Thầy không để ý tới sao”. Cô trách khéo: sao con?. Một cái dừng để bắt người khác làm theo ý mình, làm như mình và cũng để lôi kéo Chúa về phe mình: “Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”. Lấy uy của Chúa, dùng quyền của Chúa để bắt người khác phục vụ ý mình, làm như mình muốn.

Nhưng Chúa Giêsu tận dụng giây phút dừng lại ấy của Mácta để thức tỉnh cô. Sự thực thì Chúa có vô tâm với cô không? Thưa không, Chúa không vô tâm nhưng để ý tới cô, để ý nhiều nữa kìa, không những biết việc cô làm nhưng Chúa còn biết lòng dạ, suy nghĩ của cô: Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” vì băn khoăn lo lắng nhiều chuyện đến nỗi dường như không còn biết điều gì khác nữa, cô đang ngủ mê trong công việc của mình nên Chúa phải thức tỉnh cô. Thức tỉnh trong yêu thương, Chúa gọi cô Kitô hữu phải một mà đến hai lần, như đánh thức người mê ngủ: “Mácta! Mácta ơi!...” thật êm ái và yêu thương. Sao mà cô không tỉnh thức được. “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”. Một điểm dừng làm thay đổi nhận thức, làm đảo lộn những giá trị mà Mácta đã xây dựng trước đó, nó mang đến một sự đổi mới theo chiều kích thiêng liêng cần thiết cho sự cứu rỗi.

Câu trả lời của Chúa chắc chắn làm Mácta ngạc nhiên, giật mình vì ngoài sự phán đóan và tỉnh ngộ, có một cái nhìn mới, đón nhận những giá trị mới. Từ nay cô không phải lo lắng bởi lương thực vật chất, nhưng phải lo lắng cho lương thực thiêng liêng. Từ của ăn trần thế mau hư nát, Chúa hướng cô đến lương thực Nước Trời trường tồn. Từ lương thực nuôi sống thân xác phàm tục Chúa hướng cô đến lương thực linh hồn thiêng liêng Lương thực Nước Trời thì tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất đó chính là Lời Chúa, đó là ơn Chúa.

Đến điểm dừng của Kitô hữu trong cuộc sống;

Cuộc sống con người ngày nay hoạt động nhiều hơn tĩnh lặng, nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển vùn vụt, con người như bị cuốn hút vào vòng quay của nó đến nỗi dường như không có thời gian để thở, để thư giãn, để nghĩ ngơi…Người Kitô hữu trong hoạt động Tông đồ, hoạt động truyền giáo, bác ái từ thiện, dấn thân xã hội…dường như cũng bị ảnh hưởng của thời đại: Thế giới còn nhiều người chưa nhận biết Chúa, còn nhiều người nghèo đói, bệnh tật, gặp hoạn nạn, đau khổ…cho nên bổn phận, trách nhiệm của Giáo hội, của một Kitô hữu còn nặng nề, cần nhiều hoạt động cụ thể và thiết thực. Nhưng hoạt động Tông đồ, truyền giáo, bác ái của chúng ta có phản ánh tình yêu Của Thiên Chúa? Có là hoa quả của tình yêu Thiên Chúa? Hay chỉ để làm tăng uy tín, tăng giá trị, khuếch trương ảnh hưởng của chúng ta, kéo sự chú ý của người khác về phía mình, yêu cầu Chúa làm theo ý mình?

Chúa có thể mải mê công việc của Chúa mà không được quên đi chính Chúa. Chúng ta có thể loay hoay với công việc của cuộc sống, nhưng không được quên đi mục đích của cuộc sống. Cần có những điểm dừng trong cuộc sống để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh cho những hoạt động của chúng ta. Chiếc ly cần phải đứng yên mới có thể hứng lấy nguồn nước từ vòi rót xuống. Thiên Chúa không thể đổ vào tâm hồn chúng ta điều gì cả nếu trước đó đã bị đầy mọi sự rồi. Để phân phát tình yêu Thiên Chúa, ta cần phải có tình yêu Thiên Chúa tràn đầy nơi mình trước. Hoạt động Tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em. Thế giới không thích thú gì khi gặp gỡ ta, những thế giới đang khao khát tình yêu Thiên Chúa, đang khao khát những gì Thiên Chúa muốn trao ban cho họ qua trung gian chúng ta.

Khi bị quay cuồng trong cuộc sống, nếu chúng ta biết dừng lại như Mácta và cầu cứu Chúa: “Chúa ơi! Con mệt quá”, lúc đó chúng ta sẽ được Chúa tiếp sức bằng Lời của Chúa, sẽ được Chúa chỉ cho chúng ta điều nào là quan trọng nhất, điều nào là phụ thuộc và qua đó ơn Chúa, tình yêu Chúa sẽ nuôi dưỡng và tiếp sức cho chúng ta. Chúng ta đừng quên chọn Chúa và Lời Chúa là phần tốt nhất cho đời mình. Hoạt động của chúng ta phải là hoa trái của tình yêu của Thiên Chúa. Cành sinh hoa kết quả không phải vì cành, nhưng vì cành biết kết hợp cùng cây.

Hành trình nào cũng cần có những điểm dừng, những điểm dừng ấy thật cần thiết để tiếp sức cho hành trình đạt đến đích. Hành trình về tiếp nhận ân sủng, tăng cường sức khỏe thiêng liêng, bồi bổ tâm linh cho hành trình đến đích. Gặp gỡ Chúa trong thinh lặng, cầu nguyện là cần thiết nhất để giao tiếp với Chúa, nghe tiếng Chúa và đón nhận ơn Chúa.

Thế nhưng liệu có thinh lặng cầu nguyện được trong thế giới ồn ào náo nhiệt, tràn ngập công việc này chăng?

Mẹ Têrêsa Calcuta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống “địa ngục Calcuta” để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào “nhà hấp hối” để an ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của mẹ đã quì trước Thánh Thể một tiếng đồng hồ, để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ.

 

 

 

21. Việc cần

Truyện cổ tích Arập có kể lại câu chuyện: Một vị hoàng tử được vua cha gởi vào sa mạc để thụ huấn với một vị hiền triết. Vị hoàng tử này kinh ngạc về thái độ lạ thường của nhà hiền triết, suốt ngày không thèm nói lời nào với hoàng tử mà chỉ ra dấu cho hoàng tử hãy ngồi im bên cạnh mình.

Sau một tháng im lặng như vậy, hoàng tử bực mình hỏi:

- Thưa thầy, cha tôi gởi tôi đến đây để học cùng thầy, nhưng đã một tháng qua rồi mà tôi chưa học được gì cả?

Nhà hiền triết ôn tồn trả lời:

- Này hoàng tử trẻ tuổi của ta, nếu con không học quí trọng sự thinh lặng của ta thì con sẽ không thể nào quí trọng được những lời ta nói. Nếu con không học được bài học sống trong thinh lặng thì con sẽ không học được gì nữa cả.

Triết gia người Pháp ông Pascal đã nhận định về thời đại của ông như sau: “Sau khi đã quan sát cuộc sống của những người đồng thời trong một thời gian lâu, tôi có thể kết luận rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng gây phiền phức xáo trộn cho con người là vì con người không còn khả năng sống trong thinh lặng nữa”.

Ông Pascal đã sống xa chúng ta hơn ba thế kỷ, ông sống vào thế kỷ XVII bên Pháp. Căn bệnh của những thời đại ông vẫn còn là căn bệnh của những người hay nhiều người của thời đại hôm nay, đó là căn bệnh sợ im lặng, sợ sống trong thinh lặng. Nhìn qua những ồn ào, những bạn trẻ lúc nào cũng phải nghe nhạc, xem truyền hình, lúc nào cũng phải đùa chơi với bạn bè, chúng ta có thể hiểu được phần nào căn bệnh này còn tồn tại. Nhưng không phải là sự thinh lặng của cô đơn, của sự trống rỗng không có gì cả. Người Kitô không bao giờ sống trong thinh lặng cô đơn trống rỗng này, vì có sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời và ngay bên cạnh. Sự thinh lặng của người Kitô là sự thinh lặng có đầy Chúa, để được đồng hiện diện với Chúa, để được nhìn thấy Chúa và lắng nghe tiếng nói của Ngài.

Thử hỏi trong một ngày sống chúng ta dành ra được bao nhiêu giây phút thinh lặng có đầy Chúa này? Bao nhiêu giây phút chúng ta im lặng đến gặp Chúa trong Bí tích Thánh Thể? Bao nhiêu giây phút chúng ta im lặng để đọc Kinh Thánh, để lắng nghe Lời Chúa? Đây là điều tốt nhất mà Maria đã chọn như trong Phúc âm Chúa nhật hôm nay kể lại cho chúng ta.

Sự thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa, đó là sự thinh lặng có đầy Chúa. Không dừng lại ở sự thinh lặng, nhưng luôn đi trên con đường noi gương sống của Chúa, được hiện diện với Chúa, được đồng hóa với Ngài, được chia sẻ sứ mạng của Ngài. Đây là điều chúng ta nhận thấy nơi vị tông đồ Phaolô được nhắc lại nơi bài đọc II. Sống trong sự thinh lặng có đầy Chúa, thánh tông đồ Phaolô đã định nghĩa cuộc sống của mình như là một cuộc sống trong Chúa, sống đầy Chúa và sẵn sàng lãnh nhận những gì còn thiếu nơi cuộc thương khó của Ngài.

Cách nói còn thiếu nơi sự thương khó của Chúa không có nghĩa là sự thương khó của Chúa còn thiếu điều gì, nhưng muốn nói là sự thương khó của Chúa cần được chia sẻ, được sống trong cuộc đời của tông đồ Phaolô. Có sống trong thinh lặng đầy Chúa này chúng ta mới có đủ can đảm vác thập giá với Chúa, chia sẻ những đau khổ, hy sinh của Chúa trong những hy sinh đau khổ chúng ta đương đầu hằng ngày.

Tâm thức sống ồn ào là tâm thức của những kẻ trốn chạy khỏi cuộc sống. Sống trong thinh lặng có đầy Chúa như Maria ngày xưa và như Mẹ Maria im lặng bên cạnh Chúa cho đến dưới chân thập giá. Đó là thái độ tốt nhất để sống trọn vẹn cuộc sống đầy gian nan thử thách của chúng ta trong hoàn cảnh ngày nay.

Xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong thinh lặng đầy Chúa này, thinh lặng để lắng nghe, để có thêm sức mạnh của Chúa, để giữ vững đức tin, đức cậy và đức mến vào Chúa.

 

 

 

22. Lắng nghe

Đoạn Tin Mừng thánh Luca kể lại câu chuyện tiếp đón Chúa Giêsu của hai chị em Marta và Maria tại nhà của họ ở làng Bêtania. Chúng ta thấy tất cả câu chuyện xoay quanh cách thức hai người tiếp đón Chúa, rồi tột đỉnh và kết thúc câu chuyện là nhận định của Chúa Giêsu về cách tiếp đón của mỗi người.

Trước hết, chúng ta thấy cả hai người đều tiếp đón Chúa, nhưng mỗi người một cách, mỗi người một vẻ: Marta thì bận rộn tíu tít, lo lắng lăng xăng nhiều việc. Còn Maria thì chỉ ngồi bên chân Chúa, tiếp chuyện Chúa và nghe Chúa giảng dạy. Cách tiếp đón nào làm hài lòng Chúa hay được Chúa yêu thích hơn? Đó là cách tiếp đón của cô Maria. Chính Chúa đã nhận định như thế: “Maria đã chọn phần tốt nhất”. Còn với cô Marta, Chúa nói: “Con lo lắng băn khoăn nhiều chuyện quá”. Thật ra, cả hai chị em đều hết lòng tiếp đón Chúa. Nhưng đối với Chúa: “Người ta sống không bằng cơm bánh mà thôi, nhưng còn bởi lời Thiên Chúa:, nghĩa là người ta không phải chỉ có sự sống như thực vật, động vật, mà còn phải có lẽ sống. Đối với chúng ta, lời Chúa cho chúng ta lẽ sống và đường sống. Vậy thì lời Chúa phải có vị trí ưu tiên, là vì phải nghe lời Chúa chúng ta mới có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình cho trung thực với lẽ sống và đường sống mà Thiên Chúa cho mình. Cô Maria đã làm đúng như thế. Đây là bài học thứ nhất chúng ta ghi nhận: Chúa muốn chúng ta, dù bận rộn công việc thế nào cũng phải biết dành thời giờ để lắng nghe và tìm hiểu lời Chúa.

Thực vậy, ai trong chúng ta cũng có nhiều việc phải làm. Đừng kể những người lười biếng hay những người chỉ muốn ăn không ngồi rồi, còn hầu hết chúng ta, nếu sống đúng vai trò và nhiệm vụ của mình, chúng ta đều thấy việc thì nhiều mà thời gian lại ít. Hai mươi bốn tiếng mỗi ngày hãy còn quá ngắn. Thời giờ lúc nào cũng chực chắp cánh bay đi, để lại công việc cứ tiếp nối nhau mãi, hoặc làm mãi mà không hết việc. Sống trong hoàn cảnh quá nhiều công việc như vậy, thì bài học nghỉ ngơi như cô Maria càng cần thiết cho chúng ta, chúng ta không thể để cho công việc lôi kéo mà quên mất mục đích chính của đời mình. Công việc làm ăn tay chân nghề nghiệp chỉ là phương tiện nuôi sống, là con thuyền đưa chúng ta về trời, chứ nó không thể là mục đích của đời chúng ta. Có lẽ Chúa chẳng hài lòng gì mà còn đau lòng nữa, khi thấy chúng ta quá bận rộn vào biết bao công việc, phí phạm bao nhiêu sức lực của tuổi đời, bao nhiêu thời gian quí giá, để lo cho những công việc không có giá trị trường cửu, để rồi kết thúc cuộc đời mình trong lo lắng, sợ hãi về số phận đời sau.

Như vậy, điều chúng ta cần ghi nhớ là chúng ta phải biết gặp gỡ Chúa trong hoạt động, trong việc làm. Nói cụ thể hơn, trong một ngày và trong hoạt động, chúng ta phải biết dành ra ít giây phút cho việc gặp gỡ Chúa. Thí dụ: một lúc im lặng, một khoảnh khắc nâng tâm hồn lên cao, một ít phút đọc Kinh Thánh, một ít phút để cầu nguyện, để tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với tâm hồn mình. Nói tóm lại, chúng ta cần tìm ra ý nghĩa sâu xa những câu nhận định của Chúa Giêsu: “Chỉ có một chuyện cần mà thôi”, “Maria đã chọn phần tốt nhất”, nghĩa là cuộc đời của chúng ta, có nhiều điều phải lo lắng, có nhiều công việc phải làm, nhưng chúng ta phải biết khẳng định cái gì là ưu tiên, cái gì cần làm, cái gì phải làm trước. Đó là lắng nghe Lời Chúa, đó là cầu nguyện.

Đàng khác, bài Tin Mừng còn gợi cho chúng ta suy nghĩ thêm một vấn đề nữa, đó là câu nói của Marta: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao?”. Câu nói của Marta tỏ lộ phần nào thái độ phân bì ghen tị thường sẵn có trong lòng mọi người. Chúng ta biết: ghen tị là một trong bảy mối tội đầu, là tội nặng. Kẻ ghen tị rất tự cao, không muốn ai hơn mình. Mà nếu có ai hơn mình thì tỏ ra khó chịu, buồn rầu, chán nản, tức tối, oán ghét với những thành công của người khác… Có người chỉ ghen ghét một người nào đó trong một thời gian thôi. Nhưng có người ghen ghét suốt đời. Người ta ghen tị về đủ mặt: của cải, tài ba, nhan sắc, thành công, nhân đức… Thường những người ở trong cùng hoàn cảnh, cùng môi trường, cùng tình thân mới ghen ghét nhau, như bạn bè, chị em ghen nhau; nhà giáo, nghệ sĩ, hàng thịt, hàng cá ghen nhau. Rồi người lớn hay ghen tị nhiều hơn tuổi trẻ, vì tuổi trẻ còn đang ganh đua và có nhiều điểm phải vươn tới, rồi họ lại dễ bỏ qua, tha thứ. Cho nên, nếu có, thì chỉ là tạm thời. Còn người lớn ghen tị thường đưa đến oán thù, phá đổ.

Chẳng hạn, vua Saolê, khi thấy Đavid được dân chúng ca tụng là tài giỏi hơn vua, thì nhà vua ghen tức với Đavid, đến nỗi từ đó tìm đủ cách để giết Đavid, dù Đavid không có tội gì hết. Saolê ghen tị thật vô lý. Đavid là một tay tài giỏi, thắng trận trở về, xứng đáng được toàn dân ca tụng biết ơn. Còn Saolê, lẽ ra phải vui mừng vì Đavid đã đem phần thắng về cho mình, thì Saolê đã làm ngược lại là ghen tức và cay đắng trả thù. Đúng như câu nói: “Khi một người thắng trận trở về nhà, dù lòng đang vui cách mấy đi nữa, khi thấy có người khác hơn mình, thì niềm vui đó sẽ trở thành buồn bực và đau khổ”. Nếu như chúng ta ở trong trường hợp của Saolê, có lẽ chúng ta cũng ghen tức như Saolê. Chúng ta có thể cười người khác khi thấy họ ghen tị, và chúng ta cho đó là thái độ trẻ con. Nhưng chính chúng ta cũng nên phản tỉnh lại xem chúng ta có hơn trẻ con không? Khi thấy người khác đau khổ, chúng ta dễ chạnh lòng thương, an ủi giúp đỡ họ. Ngược lại, thử hỏi chúng ta có vui một cách thành thực khi anh em mình được may mắn thành công chăng? Thường thường chúng ta hay đi chia buồn hơn là chia vui. Chúng ta hãy nhớ: Ghen tị sinh ra nhiều tai hại: ghen tị thường đi đến chỗ nói hành, nói xấu, vu oan cáo vạ, bôi nhọ, xét đoán bừa bãi. Ghen tị làm đứt mất tình bác ái và gây nên nhiều gương mù gương xấu. Vì thế, bằng mọi giá chúng ta phải tốp lại cái thói ghen tị vô lối của mình.

Bài Tin Mừng cũng như những điều tìm hiểu trên đây nhắc nhở chúng ta suy nghĩ: Mỗi người chúng ta đã tiếp đón Chúa, gặp gỡ Chúa, lắng nghe lời Chúa như thế nào trong cuộc sống: theo kiểu của Marta hay Maria? Chúng ta có biết kết hợp giữa cầu nguyện và hoạt động trong cuộc sống để đáp ứng những đòi hỏi phát triển con người toàn diện không? Chúng ta có tự cho mình là đúng, công việc của mình là hay hơn cả, để rồi phủ nhận hoặc công kích người khác, công việc của người khác không? Trong khi có thể chính người đó mới đúng và công việc của họ mới đáng kể? Ước mong mỗi người hãy suy nghĩ và kiểm điểm để đổi mới hoặc bổ túc những gì còn sai lỗi hoặc thiếu sót trong đời sống đạo của mình.

 

 

 

23. Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:

1. Thử đặt ngược lại vấn đề: nếu cả Mácta cũng tiếp chuyện Đức Giêsu mà không có ai lo việc tiếp đãi Ngài, cụ thể là lo nước nôi tiếp khách và bữa ăn cho Ngài, thì có nên không? Ngài có hài lòng về cách tiếp đãi đó không?

2. Giữa hai chị em với nhau, thái độ của mỗi người có chỗ nào hay, chỗ nào dở? Mỗi người phải sửa đổi lại thái độ của mình thế nào cho hoàn hảo?

3. Bạn nghĩ gì về người năng cầu nguyện mà không năng hành động, hay năng hành động mà không năng cầu nguyện?

Suy tư gợi ý:

1. Hiếu khách phải là một đặc điểm của người Kitô hữu

Đức Giêsu đến làng Bê-ta-ni-a, nơi nhà Mácta và Maria, là những người rất mến mộ Ngài. Đây là một dịp tốt để hai chị em tỏ lòng yêu thương và quí mến Ngài. Tinh thần hiếu khách như hai chị em này là một trong những đặc điểm của người Á Đông, mà cũng phải là đặc điểm của mọi Kitô hữu, vì đó là một khía cạnh quan trọng và cụ thể của tình yêu thương vốn là nền tảng của Kitô giáo. Trong bài đọc I, A-bra-ham đã tỏ ra thật hiếu khách. Không ngờ lần này khách đến lại là sứ giả của Thiên Chúa. Nếu bình thường ông không hiếu khách, thì khi thiên sứ đến bất ngờ dưới dạng người thường, làm sao ông tỏ ra hiếu khách với các vị ấy được? Điều này giúp chúng ta ý thức lại: mọi người khách đến với gia đình ta đều là hình ảnh của Thiên Chúa, và phần nào là hiện thân của chính Đấng mà ta đang tôn thờ và muốn yêu mến hết lòng. Như thế, quí mến khách cũng là một cách tỏ lòng quí mến Chúa.

2. Cần có sự phân công hợp lý trong gia đình, trong tập thể

Để tiếp đón Ngài cho phải lẽ và làm hài lòng Ngài, phải có người tiếp chuyện Ngài, vì nếu để Ngài ngồi không một mình thì quả là bất lịch sự. Nhưng cũng phải có người lo chuyện nước nôi và những món ăn tiếp đãi khách chứ! Vì nếu tới bữa ăn mà để cho khách ra về bụng đói, hoặc cho khách ăn một bữa cơm quá thanh đạm, xoàng xĩnh, thì còn gì là quí mến khách nữa? Vì thế, hai chị em không ai nói với ai, đã tự phân công: một người hầu chuyện Ngài, một người lo chuyện phục vụ Ngài, điều ấy thật hợp lý. Nếu cả hai cùng tiếp chuyện Ngài, thì ai lo nấu ăn? Hay nếu cả hai đều lo nấu ăn, thì ai tiếp chuyện Ngài?

3. Cần quan tâm đến nhau và tìm cách làm cho nhau hạnh phúc

Ưu điểm của Mácta là tinh thần năng động, cô biểu lộ tình yêu và sự quí mến của mình bằng việc phục vụ, quan tâm tới nhu cầu cụ thể của người khác. Thật là một đức tính tốt! Nhưng điều không hay nơi Mácta là ganh tị với em: thấy em ngồi nói chuyện với Đức Giêsu, có vẻ nhàn nhã quá, để mình phải vất vả cực nhọc, thì đâm ra buồn phiền. Cô không thể dấu trong bụng sự tị nạnh đó, mà phải bộc lộ ra, đến độ có vẻ như trách móc Đức Giêsu: «Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!». Có vẻ như cô cảm thấy không được ai chú ý tới, nhất là không ai biết tới sự khó nhọc của mình. Cái thiếu sót này rất đáng thông cảm vì tâm lý chung mọi người đều như vậy!

Cái hay của Maria là biểu lộ tình yêu và lòng quí mến của mình bằng cách chăm chú nghe và ghi nhận, học hỏi những điều hay từ Đức Giêsu. Điều này sẽ rất ích lợi cho cô, nhất là về mặt tâm linh. Nhưng cái thiếu sót của Maria là dành độc quyền nói chuyện với khách, mà không nghĩ gì tới sự khó nhọc vất vả của chị mình để tìm cách chia sẻ công việc với chị. Chẳng hạn, thỉnh thoảng cô có thể mời chị lên tiếp chuyện với Thầy và làm bếp thay thế chị một chút. Hai chị em thay phiên nhau, vừa tiếp Thầy, vừa lo chuyện phục vụ Thầy thì đẹp hơn biết mấy!

Trong cuộc sống chung của gia đình hay tập thể, nếu chúng ta biết quan tâm đến nhau, đến niềm vui, nỗi khổ, đến những nhu cầu, lo lắng, bận tâm của nhau, thì cuộc sống chung trở nên hạnh phúc biết bao! Sự quan tâm ấy thể hiện cụ thể tình yêu thương của ta đối với nhau. Nếu không có tình yêu thương, nếu ai cũng chỉ nghĩ đến mình, đến niềm vui và nỗi khổ, nhu cầu và lo lắng của mình, thì cuộc sống chung sẽ trở thành hỏa ngục.

4. Cần ưu tiên cho đời sống tâm linh.

Cách trả lời của Đức Giêsu: «Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi», khiến cho nhiều người nghĩ rằng Đức Giêsu đã coi việc tiếp chuyện Ngài là quan trọng và đẹp lòng Ngài hơn chuyện lo chăm sóc bữa ăn cho Ngài. Từ đó họ suy ra rằng việc cầu nguyện thì đáng quí và làm hài lòng Chúa hơn việc hoạt động. Nhưng ta thử đặt vấn đề: nếu cả hai chị em đều lo ngồi hầu chuyện Đức Giêsu, mà chẳng ai lo bữa ăn chu đáo cho Ngài, thì Ngài có hài lòng lắm không?

Là người hướng dẫn tâm linh, Ngài thấy đời sống tâm linh quan trọng hơn thể chất rất nhiều, nhân đó Ngài muốn, bằng câu nói trên, cho hai chị em một bài học: cần phải đặt nặng và lo cho đời sống tâm linh hơn thể chất. Tại sao? Vì người đời thường có khuynh hướng lãng quên đời sống tâm linh, mà chỉ chú tâm đến đời sống thể chất. Họ dành rất nhiều thì giờ và năng lực vào chuyện cơm ăn áo mặc, chuyện tiện nghi vật chất, chuyện quyền lực địa vị, chuyện tranh đua để hơn người khác, tóm lại là những chuyện liên quan đến đời sống tạm bợ ở trần gian. Đa số ít quan tâm, hoặc ít người quan tâm đầu tư cho đời sống tâm linh của mình, là điều chẳng những đem lại hạnh phúc thanh tao ở đời này, mà còn đem lại hạnh phúc lâu dài đời sau.

5. Cần có sự điều hòa và quân bình giữa tâm linh và thể chất, giữa cầu nguyện và hành động

Trong thực tế, hai khía cạnh của sự sống – tâm linh và thể chất – liên quan đến nhau, hỗ trợ nhau. Khía cạnh này tốt đẹp và lành mạnh thì cũng sẽ ảnh hưởng tốt đẹp lên khía cạnh kia. Tuy nhiên, quá quan tâm đến khía cạnh này thì sẽ bỏ bê đồng thời làm hại cho khía cạnh kia. Do đó, hai khía cạnh ấy của sự sống cần phải được quan tâm một cách điều hòa và quân bình: không nên quá quan tâm đến khía cạnh này mà bỏ bê khía cạnh kia, nhất là đối với giáo dân, là những người sống giữa trần gian.

Cũng tương tự như thế, cần phải có sự điều hòa và quân bình giữa sự cầu nguyện và hành động. Cầu nguyện nhiều mà không cảm thấy có sức mạnh nào thúc đẩy mình đi đến hành động thực tế, thì sự cầu nguyện ấy hẳn nhiên không phải là cầu nguyện đích thực, nghĩa là không thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Rất nhiều Kitô hữu hiện nay ở trong tình trạng này. Họ cảm thấy an tâm, tự cho mình là người đạo đức, chỉ vì họ đã dành rất nhiều thì giờ để cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện của họ chẳng dẫn họ đến hành động để thể hiện cụ thể tình yêu thương mà đáng lẽ họ phải đạt được khi cầu nguyện đích thực. Vì thế, rất nhiều việc đáng lẽ họ nên làm hoặc phải làm, nhưng họ đã không làm. Và hiện nay cũng có nhiều nhà hướng dẫn tu đức chỉ hoặc quá nhấn mạnh đến cầu nguyện, mà không quan tâm hoặc không nhắc nhở gì đến bổn phận phải hành động.

Tuy nhiên, năng hành động mà không năng cầu nguyện thì ta dễ đi đến chỗ hành động chỉ vì lợi ích riêng của mình, chứ không phải vì Thiên Chúa hay tha nhân. Hành động như thế xét về mặt tâm linh thì không mấy giá trị và ít đem lại lợi ích thiêng liêng. Người hành động nhiều mà không cầu nguyện giống như người hành trình vào một vùng đất lạ, chỉ biết đi tới mà không biết phải lâu lâu dừng lại xem bản đồ để biết mình đang ở đâu, và biết phải đi đường nào để tới nơi mình muốn. Vì thế, có rất nhiều khả năng là họ sẽ lạc đường. Hoặc như người hành trình không biết dừng lại để ăn uống, hay để đổ xăng, hầu tiếp sức cho chính bản thân hoặc tiếp nhiên liệu cho phương tiện di chuyển. Họ sẽ không đủ sức và phương tiện để đi hết cuộc hành trình. Vậy, cầu nguyện và hành động đều rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu mà chúng ta cần phải thực hiện một cách quân bình và điều hòa trong cuộc sống.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, bất kỳ một nhân đức nào trong đời sống cũng đòi hỏi phải được bổ túc bằng một nhân đức đối nghịch với nó thì nhân đức ấy mới thật sự là nhân đức. Vì thế, xin hãy cho con ơn khôn ngoan và khiêm nhượng đi đôi với lòng can đảm, cho con hiền lành mà cương quyết, năng cầu nguyện nhưng dám hành động, v.v… Tóm lại, cho con vừa biết lắng nghe lời Chúa như Maria, nhưng cũng vừa biết săn tay lên để làm việc như Mácta. Amen.

 

 

24. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

MATTA VÀ MARIA

Trình thuật đưa độc giả vào đề tài tình yêu Chúa cũng nhắc đến đoạn Chúa Giêsu đi đường và xin chỗ trú ngụ. Bà chủ nhà và người con gợi nhớ tới, đối với ai biết Tin Mừng thứ tư, hai người chị của Ladarô ở Bêtania (Ga 11;12,1-8). Nhưng trong trình thuật của Luca còn ghi lại là những người xa lạ mà theo lôgich1 thì ngược lại là những người kia ở mãi Giêrusalem. Maria không có gì để đồng hoá được với Maria Magđala cả (8,2; 24,10).

Sự tương phản giữa hai chị em trước hết là ở việc được trình bày Maria như một đệ tử hoàn hảo, ngồi dưới chân Thầy để đón nhận giáo huấn Ngài. Ngồi là tư thế cổ điển (x.8,35; Cv 22,3); truyền thống lại đã chẳng nói: Ước gì nhà con là nhà hội họp cho các hiền nhân, hãy níu lấy bụi đất ở chân họ và uống lấy lời của họ cho đã khát! (Misnha, Abot 1,4). Có điều không ổn ở đây nói tới một phụ nữ! Khi một Kinh sư nổi tiếng ở cuối thế kỷ thứ nhất dám nói: “Dạy cho con gái mình luật thì như dạy nó sống truỵ lạc” (Misnha, Sota 3,4), thì Chúa Giêsu lại khuyến khích một phụ nữ theo giáo huấn của mình. Thái độ của cô chủ nhà thì khỏi cần khách sáo: cô tất bật lo việc phục vụ –điều đó rất phù hợp với vai trò các phụ nữ- môn đệ ở 8,3. Nhất là cô muốn người em cũng phải phục vụ như cô: cô còn xác tín rằng Chúa không thể nào không đồng ý với cách thẩm định giá trị của riêng cô (c.40).

Ngoài tiếng gọi “Chúa!” –tước hiệu “Chúa” ở đây được Luca dùng hai lần. Như lời tuyên tín của cộng đoàn Kitô hữu đối với Đấng Phục Sinh (x. Cv 2,36), chính Chúa ở đây cần can thiệp trong Giáo Hội Người, bởi vấn đề được nêu lên luôn luôn có tính cách thời sự. Ở Cv 6,2-4, ta sẽ gặp được một đối nghịch tương tự giữa phục vụ Lời Chúa và phục vụ bàn ăn. Ngoài chuyện nêu lên việc phục vụ bàn ăn; vấn đề là nhìn nhận có một tầm mức quan trọng khác nhau giữa hai việc: Chúa trách cô chủ nhà về sự băn khoăn lo lắng của cô là điều trái ngược với tâm trạng của người tín hữu đích thực (12,25-26) và, khi cô cho việc phục vụ bàn ăn là ưu tiên, Ngài bênh vực cô Maria đã đặt việc nghe lời Ngài lên trước mọi quan tâm khác. Như thế, làm môn đệ Chúa Giêsu, chính là chọn điều cần duy nhất. Thực ra, đó không phải chính là yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực… sao? Khi trình bày câu chuyện như ông đã làm từ câu 25, đó chính là điều mà Luca muốn gợi lên cho độc giả của mình.

Có cần xác định thêm là một phụ nữ có thể là môn đệ đúng hệt với danh nghĩa ấy như một nam nhân và không bị giới hạn vào việc phục vụ bàn ăn chăng? Chắc chắn rồi… Khẳng định theo đó “phần tốt này sẽ không bị lấy đi” lại không chói tai đối với nhiều Kitô hữu là những người, như Matta, lấy làm khó chịu khi phải chấp nhận để một người phụ nữ nghe Lời và phục vụ Lời sao?.

 

 

25. Chú giải của Noel Quesson

Trong khi thầy trò đi đường, Đức Giêsu vào làng kia.

Chúng ta chớ quên đang cùng với Đức Giêsu trên “con đường” nào.

Vẫn luôn luôn là chính lộ lên Giêrusalem mà Luca dành nhiều chươg để thuật lại. Không dưới mười chương dài (Lc 9,51 đến 19,28). Như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật thứ mườl ba thường niên, ngay sau khi Đức Giêsu được thật sự nhận biết là Đấng Mêsia, Người quyết tâm lên đường đến Giêrusalem (Lc 9,51). Kế đó, trong Chúa nhật thứ mười bốn, chúng ta chứng kiến sứ vụ của bảy mươi hai môn đệ (Lc 1ọ,l-20). Chúa nhật vừa qua, chúng ta đã ở trên con đường đến Giêrikhô, cách Giêrusalem ba mươi kilômét để lắng nghe dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc 10,25-37). Hôm nay chúng ta dừng lại trong một ngôi làng không được nêu tên, nhưng đó là làng Bêtania, cách trung tâm thủ đô ba kilômét. Dọc đường, Luca cho chúng ta thấy Đức Giêsu nói chuyện với các bạn hữu của Người rất lâu, có lẽ để chuẩn bị họ vào thời điểm mà Người sẽ chỉ còn ở với họ không bao lâu nữa. Điều này nói lên sự quan trọng của các tình huống và lời nói cắm mốc trên con đường lên Giêrusalem đó.

Chúng ta sắp tham dự vào một cảnh thể hiện lòng, hiếu khách đầy sự dịu dàng.

Chúng ta còn nhớ Người ta không muốn tiếp đón Người, trong một ngôi làng ở Samari. Hôm nay, Đức Giêsu tìm được một gia đình hiếu khách. Chúng ta vui mừng vì biết rằng không phải lúc nào Đức Giêsu cũng bị xua đuổi, không phải lúc nào Người cũng đi lang thang không nới trú ẩn... và có lúc Người cũng dừng lại ở nhà các bạn hữu Người để nghỉ ngơi, để ngồi nói chuyện... để sử dụng thời gian... và thời gian của tình bằng hữu không phải là thời gian đánh mất!

Ở đầu dốc, bên cạnh con đường đầy bụi có ngôi nhà mà Người quen biết. Bên cạnh cửa sổ có đặt lưới sắt, một cây táo đầy hoa (bây giờ là mùa xuân và lễ Vượt qua gần đến) tỏa hương thơm ngát. Đức Giêsu gõ cửa. Cửa mở ra. “Chào! ôi, vui biết mấy, nào mời Thầy vào!”

Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Maria

Đó là hai chị em. Họ có một em trai là Ladarô.

Các sách Tin Mừng nói về họ ba lần, trong những cảnh ở đó tính khí của họ đã được điển hình hóa và giống nhau trong mỗi câu chuyện. Mácta, một người hoạt động. Maria, một người trầm lặng. Thánh Gioan trong một câu ngắn ngủi đã kể lại: “Đức Giêsu quý mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô” (Ga 11,5). Và trong dịp gia đình họ có đám tang, Gioan- thuật lại cho chúng ta rằng Đức Giêsu đã khóc. Một lần khác, người ta thấy Mácta đang phục vụ một bữa ăn, còn cô Maria “cứ ngồi bên chân Chúa” (Ga 12,2-3). Như thế, Đức Giêsu đã có những người bạn gái Tuần lễ cuối cùng trước khi chết, chiều nào Người cũng trở về nhà họ (Mt 2 1,7 -26,2; Mc 11,11; Ga 11,1-18-12,1; Lc 19,29).

Vậy thì ít nhất đó là một nơi mà Đức Giêsu có thể đề cao sự dịu dàng của tình bằng hữu.

Trong sách Khải Huyền, Gioan sẽ sử dụng hình ảnh ấy để nói về đời sống của Người Kitô hữu: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà Người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).

Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ.

Ôi! Một bức tranh thánh kỳ diệu! Phải ở yên thật lâu trong sự im lặng để nhìn ngắm cảnh tượng ấy, hình ảnh ấy. Ví dụ như, hãy thử tưởng tướng mình có mặt trong phòng tiệc ấy. Hãy thử hình dung lại các động tác, cử chỉ, âm thanh, mùi vị, màu sắc, những lúc im lặng, những khuôn mặt và những tấm lòng.

Đức Giêsu nói chuyện với cô Maria ngồi bên chân Chúa... cô lắng nghe. Hai người cùng nhau nói điều gì? Giọng nói của Người như thế nào? Người kể lại cho cô dụ ngôn người Samari tốt lành chăng? Người giải thích lại các mối phúc thật cho cô chăng? Người là Đức Giêsu đã không mệt mỏi nói với cô Người quan niệm thế nào về các suối nguồn của hạnh phúc thật? Bản thân tôi, tôi thích nghĩ rằng Đức Giêsu nói nhỏ với Maria những lời tâm sự về cái chết và sự sống lại của Người.

Người lên Giêrusalem là vì việc đó! Nó chiếm trọn tâm hồn Người. Đã nhiều lần, Người thử chia sẻ sự lo lắng của Người với các môn đệ nhưng xem ra họ không hiểu. Với Maria, cô có hiểu không? Về câu chuyện tâm sự đó, há chẳng có một sự đồng cảm mầu nhiệm và tuyệt vời của tình bạn cởi mở đó sao.” Dẫu sao, nhờ Máccô và Gioan, chúng ta biết rằng người phụ nữ trực cảm này đã hiểu rõ hơn những người khác mầu nhiệm cái chết, sự mai táng và sự sống lại của Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ trở lại Bêtania trong nhà cô những ngày trước lễ Vượt qua, và một cách dịu dàng, Maria sẽ thực hiện trước một cách ướp xác bằng dầu thơm cho Người.

Các phụ nữ sẽ không thể thực hiện việc ướp xác ấy khi họ muốn đến ngôi mộ “ngày đầu tiên trong tuần” để làm việc đó, bởi vì họ sẽ thấy ngôi mộ trống. Nhưng Maria đã làm việc đó rồi, với sự tinh tế tuyệt diệu của cô! Và Đức Giêsu sẽ hiểu điều đó: “Điều gì làm được thì cô ấy đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng (Mc 14,8). Cô ấy giữ lại dầu thơm này cho ngày mai táng Thầy; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”(Ga 12,7-8).

Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!”

Sự can thiệp này của Mácta làm nổi bật sự khác nhau hoàn toàn của hai chị em. Trước khi nghe câu trả lời của Đức Giêsu, chúng ta phải thán phục Mácta không nên đánh giá thấp cô chị. Ở đây không có sự đối lập giữa Mácta và Maria. Mácta thì hữu ích. Sự phục vụ của cô là cần thiết. Đức Giêsu cũng được tôn vinh vì đã đem trọn tình yêu “phục vụ” những người khác... “Nào những kẻ Cha Ta phúc phúc hãy đến. Vì xưa Ta đói, các người đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống” (Mt 25,34).

Lạy Chúa, con xin dâng cho Chúa những công việc nội trợ đa đoan rất khiêm hạ, đầy ắp yêu chuộng của vô số các phụ nữ trên toàn thế giới, trong mọi nền văn minh.

Chúa đáp

Chúng ta không thể không nhận thấy sự trang trọng khi Luca dùng danh xưng “Đức Chúa” ba lần. “Đức Chúa” chỉ Đức Kitô trong vinh quang sau Phục sinh. Điều đó chỉ cho chúng ta thấy rằng cảnh tượng không chỉ nhằm kể lại một giai thoại lịch sử dù rất thú vị mà một lần nữa, chúng ta đứng trước một “mạc khải”. Đấng sắp nói chính là Đức Chúa Vinh hiển. Người sắp nói một điều quan trọng và phải được chúng ta tiếp nhận “trong đức tin”. Vả lại, toàn bộ câu chuyện trên đây rất dung dị, nhưng lại dẫn đến lời tuyên bố sau đây:

Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!

Hẳn người ta có thể mong đợi Đức Giêsu kêu gọi Maria phải ngoan ngoãn như chị cô. Trong nhiều tình huống. Đức Giêsu đã yêu cầu chúng ta phải “phục vụ”, phải yêu thương. Rõ ràng, câu trả lời của Người đã được đặt vào một bình diện khác.

Đức Giêsu nhận thấy rằng Mácta lo lắng và “giao động” quá nhiều. Đây là một đề tài được Người ưa thích. Người đã nói rằng “những lo lắng về đời sống! có thể bóp nghẹt Lời Chúa đã được gieo vào lòng người (Lc 8, 14). Người sẽ yêu cầu các tông đồ không nên lo lắng về của ăn và của mặc (Lc 12,22-26). Người sẽ khuyến cáo các thừa sai chớ lo lắng phải biện hộ như thế nào khi họ bị kết tội trước các toà án (Lc 12,11). Người sẽ nói rằng chớ để “lòng mình ra nặng nề vì lo lắng sự đời” trong lúc chờ đợi Con Người lại đến” (Lc 21,34). Đức Giêsu nói: “Bạn ơi! Chớ quên điều chủ yếu!”

Đức Giêsu không lên án Mácta vì công việc của cô cũng như nhiệt tình tiếp đón tích cực... nhưng vì sự căng thẳng, sự giao động thái quá mà dường như cô đặt vào công việc.. Rõ ràng là một sự bực bội nào đó làm cho chúng ta co quắp lại với chính mình.

Chúng ta hãy tiếp nhận lời lời gọi của Chúa cho chúng ta biết phải chậm lại đôi chút. Lúc nào chúng ta cũng chạy, phi nước đại, cũng bận trăm công nghìn việc. Thời gian nghỉ hè lẽ ra phải trở thành thời gian để tìm lại sự, quân bình của chúng ta hơn để “sống” thay vì để chạy! Đức Giêsu nói: Bạn ơi! Ta nói lại với bạn điều này, bạn chớ quên điều chính yếu.

Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi

Vậy “chuyện cần thiết duy nhất” ấy là gì?

Đó là làm điều Maria đã làm “Ngồi bên chân Chúamà nghe lời Người dạy”. Khi khẳng định đó là điều cần thiết duy nhất của con người. Bằng một phương thế triệt để và mạnh mẽ, Đức Giêsu đã thực hiện một mạc khải. Vâng, Lời Chúa phải được ưu tiên hơn mọi lo lắng trần gian khác Đức Giêsu cũng đã đưa ra càng một yêu sách trong những dịp khác. “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” (Lc 4,4). “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34) Đức Giêsu nói: Bạn ơi! Bạn chớ quên điều chính yếu.

Vậy quả thật Đức Giêsu không đánh giá thấp sự “phục vụ” mà Mácta đem lại khi bận rộn với việc “nội trợ và bếp núc”. Nhưng để “đi theo Đức Giêsu” thì ngay cả những gì có giá trị nhân bản nhất cũng phải buông bỏ (Lc 5,11-18,22-9,61). Hãy lắng nghe Lời Chúa! Đó là bổn phận đầu tiên của con người, của Kitô hữu. Đức Giêsu nói đó là sự cần thiết duy nhất, tuyệt đối, triệt để. Và đây không phải là lần đầu tiên cũng không phải là lần cuối cùng mà Đức Giêsu khẳng định điều đó. Không lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên cát (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời chính là trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc chân thật và duy nhất của Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu không phải vì Mẹ là Mẹ Người, mà vì Mẹ đã “'lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 1 1,27-28).

Vả lại khác với các Thánh sử khác, rõ ràng Luca đã đồng hóa lời của Đức Giêsu với “Lời của Thiên Chúa” (Lc 5,1-8-11-21-11,28).

Lòng chúng ta yêu thích lắng nghe Lời như thế nào? Có phải đó là “phần tốt nhất” hàng ngày của chúng ta? Chúng ta có những ưu tiên sao? Điều nào là điều chính yếu?

 

26. Matta và Maria – R. Gutzwiller

Ta chỉ có thể hiểu dễ dàng những lời Chúa nói với Matta khi đặt chúng vào trong mối tương quan mật thiết với chủ đề ‘lên đường’. ‘Lên đường’ không có nghĩa là dửng dưng với những cái thuộc về vật chất hay những lo toan trần thế.

Đây không có vấn đề đối nghịch giữa đời chiêm niệm và đời hoạt động, mà chính là giá trị và sự hài hoà đúng đắn giữa hai đời sống đó. Chúng ta không nên đắm mình vào chủ nghĩa duy hoạt mà hãy biết sử dụng những giây phút trầm tư thinh lặng, hoàn toàn kết hợp với Thiên Chúa -dĩ nhiên là không tìm kiếm, ước ao an nhàn thanh thản nhưng chính là kín múc ở đó một năng lực mới để phục vụ con người. Vì sống là ‘lữ hành’ là ‘đi’ nên con người phải dành cho đời mình những lúc ‘dừng chân đứng lại’, ‘nghỉ ngơi lại sức’ định lại hướng đi, dò lại bước đường đã qua để có thể vững bước tiếp tục cuộc hành trình và ra đi phấn khởi hơn.

Hoạt động phải được xen kẽ bằng chiêm niệm và chiêm niệm phải chứa chan cuộc sống và triển nở trong việc làm. Trong Tổng yếu giáo lý, Th. Tôma nhấn mạnh rằng việc giảng dạy và soi sáng những người khác thì quan trọng hơn là chỉ có sự hiểu biết thông suốt nội tâm thôi.

Dĩ nhiên chúng phải bắt nguồn nơi việc chiêm niệm nhưng thay vì khư khư giữ lấy cho mình, chúng ta phải thông truyền sự hiểu biết và thông suốt nội tâm ấy cho tha nhân. Chỉ có tác động hợp nhất với Thiên Chúa và sự hợp nhất với Ngài triển nở ra việc làm, mới cấu thành một mối toàn vẹn, sự trọn hảo tối cao….

Những lời Chúa nói với Matta, là một cảnh tỉnh chống lại thứ hoạt động ồn ào, giả tạo, quá khích tức là thứ hoạt động không hề hay biết đến dành cho những khoảnh khắc để cầu nguyện, hay ít là những lời nguyện tắt, không để ý gì đến tiếng Chúa mời gọi trong cái thinh lặng và dần dà để mình bị tha hoá, thác loạn.

Còn việc Chúa khen cô Maria không có nghĩa là Ngài bảo chúng ta phải chuyên tâm chiêm niệm mà thôi, để thấy rõ điều này, chúng ta hãy xem gương của Đức Giêsu; Như vậy, việc Ngài khen cô Maria chẳng qua là Ngài nói đến tinh thần sẵn sàng và tỉnh thức để sống trọn vẹn và tích cực cho Chúa, vào lúc mà Ngài muốn nói với tâm hồn ta một cách đặc biệt.

Lên đường có nghĩa là đi về với Chúa, tức là luôn hướng nhìn về Ngài và hằng lắng nghe Lời Ngài. Như thế không phải là dừng laị và nghỉ ngơi trong việc chiêm niệm, mà chính là để tiếp tục cuộc hành trình kết hợp với Chúa đích thực. ‘Chiêm niệm trong hành động’hiệp nhất với Thiên Chúa trong công việc, phục vụ con người là dấu đích xác cho thấy việc phục vụ Thiên Chúa. Việc phục vụ ấy chỉ có thể có đối với những ai biết dành những khoảnh khắc cầu nguyện đặc biệt, thuộc trọn về Chúa để có thể hiến thân trọn vẹn phục vụ con người hơn. Đó là thái độ Đức Giêsu đã sống. Theo Chúa Kitô giả thiết một thái độ tương tự như thế.

 

27. Người khách muốn gì? – Lm Vũ Phan Long

“Phần duy nhất cần thiết” của đời môn đệ Đức Giêsu là: lắng nghe giáo huấn của Người, và là để cho Người tiếp tục hướng dẫn.

1.- NGỮ CẢNH

Chúng ta vẫn đang ở trong chuyến đi lên Giêrusalem. Vì có lý để nghĩ rằng hai chị em Mácta và Maria chính là những nhân vật của Ga 11,1tt, tức ở Bêtania, gần Giêrusalem, chúng ta phải tự hỏi tại sao tác giả Luca lại đặt truyện này ở đây, vì đến lúc này truyện vẫn gần với Galilê hơn Giêrusalem. Hơn nữa, ngài lại bỏ tên Bêtania đi, mà chẳng lẽ ngài lại không biết? Như thế, hẳn ngài có ý gì đó khi đặt truyện này ở đây chứ không phải ở chỗ khác (chẳng hạn ở ch. 19 hoặc 20). Chúng ta xem truyện này liên hệ với các bản văn trước thế nào. Maria được mô tả như người “lắng nghe lời” Đức Giêsu. Đức Giêsu công bố rằng chính việc “lắng nghe lời” này sẽ không bị lấy mất. Trước đó, Đức Giêsu mới nói đến quan hệ sâu sắc, duy nhất, Người có với Chúa Cha (10,22). Quan hệ này được nói đến vì nó liên hệ đến các môn đệ Đức Giêsu: họ được chúc phúc bởi vì họ được Người mạc khải Chúa Cha cho; họ được nghe và thấy những điều Người biết về Chúa Cha. Như thế, các môn đệ có một đặc quyền lớn lao là được thấy và nghe những điều mà thậm chí các ngôn sứ và các vua chúa ước ao hết sức mà không được. Ở đây, tác giả Lc nhắc lại đặc quyền đó. Ngài mô tả Maria trong tư thế tốt đẹp nhất: lắng nghe lời dạy của Đức Giêsu. Khi lắng nghe Người, Maria nghe Người mạc khải về Chúa Cha. Chính vì thế, tác giả đã nhắc lại động từ “lắng nghe” (cc. 24.39) như để nối kết các ý tưởng của hai đoạn văn.

Sau đó, Lc trình bày cuộc đối thoại về “điều răn lớn” (10,25-37), với câu kết: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37). Mục đích của ngài khi bố trí truyện Mácta-Maria ở đây là để nêu bật tầm quan trọng tối hậu của giáo huấn của Đức Giêsu trong Lc 10,25-37: giáo huấn này là một mạc khải mà “các vua chúa và ngôn sứ” không được đón nhận.

Truyện Mácta-Maria cũng có thể được đặt ở đây để điều chỉnh một sự hiểu lầm có thể có đối với dụ ngôn Người Samari nhân hậu. Ông này đã “chạnh lòng thương” (esplanchnisthê): vậy, hành vi luân lý của chúng ta rất có thể được hướng dẫn bởi các tình cảm của con người! Lc muốn sửa lại: chính giáo huấn của Đức Giêsu mới điều hành hành vi luân lý.

2.- BỐ CỤC

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Khung cảnh và các nhân vật (10,38-40a);

2) Đối thoại giữa Mácta và Đức Giêsu (10,40b-42).

3.- VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

- một làng kia (38): Trong TM III, làng này không có tên (x. 9,56). Cứ theo bản văn, “làng” này còn gần Galilê hơn là Giêrusalem. Theo Ga 11,1; 12,1-3, ta biết rằng Mácta và Maria, hai chi của Ladarô, ở tại Bêtania, một làng gần Giêrusalem.

- Maria (39): Cô này cũng được xác định là em gái của Mácta trong Ga 11,1. Không được đồng hóa cô này với Maria Mácđala ở 8,2.

- ngồi bên chân Chúa (39): Đây là tư thế của người môn đệ đang lắng nghe (x. 8,35).

- Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi (42): dịch sát: “Chỉ cần một điều mà thôi”. Lời Đức Giêsu đáp lại yêu cầu của Mácta dường như lúc đầu nhằm trấn an cô, bằng cách bảo cô rằng cô chỉ cần dọn một món thôi. Nhưng khi nghe trọn câu nói của Đức Giêsu, ta mới hiểu ra rằng “một điều” không chỉ là “một món” mà còn có ý nghĩa khác. “Một điều” đây chính là “phần tốt nhất” (= lắng nghe lời Chúa). Và Đấng là thành phần của “phần tốt nhất” ấy bảo đảm là Maria sẽ không bị lấy mất.

4.- Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN

* Khung cảnh và các nhân vật (38-40a)

Chúng ta vẫn đang ở trong chuyến đi lên Giêrusalem. Đức Giêsu đã dừng lại tại một làng kia (hẳn là Bêtania?), để thăm gia đình những người bạn thân. Cô chủ Mácta đón Người vào và tất bật phục vụ. Còn cô em Maria thì cứ bình thản ngồi bên chân Đức Giêsu mà nghe Người giảng dạy. Theo truyền thống của các kinh sư, chỉ phái nam mới được ban cho những lời giảng dạy và những huấn thị; các phụ nữ bị loại ra bên ngoài. Nhưng Đức Giêsu nhìn nhận các phụ nữ có cùng một phẩm giá như phái nam, nên Người ngỏ lời cả với phụ nữ. Ở đây tác giả đã không ngần ngại mô tả một người nữ như là môn đệ ngồi bên chân Đức Giêsu. Thái độ của Đức Giêsu khiến chúng ta nhớ đến Cn 31,26.

* Đối thoại giữa Mácta và Đức Giêsu (40b-42)

Bấy giờ Mácta mới lên tiếng nhận định về Maria và về bản thân mình. Lời trách của cô có lý, vì hoàn cảnh quá rõ: một người khách quí vừa đến nhà. Phải làm mọi sự để đón tiếp người ấy cho chu đáo; thật ra còn cả đoàn môn đệ của Đức Giêsu nữa! Nhà chỉ có hai chị em; thế mà Maria cứ để cho chị phải xoay sở một mình. Mácta có lý khi yêu cầu em giúp mình.

Mácta có lý, nếu vấn đề là phải tiếp đãi người khách cho tươm tất. Nhưng nhận định của Đức Giêsu khiến chúng ta phải tự hỏi: vấn đề phải chăng là như thế? Người khách phải chăng chỉ muốn được tiếp đãi ân cần chu đáo? Đối với Người, điều gì quan trọng nhất? Những câu hỏi này, Mácta không hề đặt ra cho mình. Ngay từ đầu, hầu như là do thói quen, cô tưởng là mình biết tình thế cần cái gì. Không hề tự hỏi là người khách thật sự muốn gì, cô áp đặt cho người khách ấy điều cô nghĩ là hợp lý hơn, cần thiết hơn, vào lúc này. Chắc chắn Mácta có hảo ý. Nhưng cô không mấy quan tâm đến các sở thích và ý hướng của người khách. Đức Giêsu giúp cô hiểu rằng trước tiên Người không muốn được đón tiếp, nhưng muốn một điều quan trọng hơn nhiều.

Maria lắng nghe Ngài. Đây là điều duy nhất cần thiết và là điều luôn luôn đúng: lắng nghe Chúa. Đức Giêsu đến nhà Mácta và Maria trước hết không phải để được đón tiếp, nhưng là để được lắng nghe. Với tất cả thiện chí, Mácta đã sao nhãng ý muốn này của Đức Giêsu. Chỉ có Maria là đã gắn bó với điều Đức Giêsu muốn. Trước hết, Người muốn cống hiến, chứ không muốn đón nhận. Trước hết, Người không muốn có một sinh hoạt chuyên chăm cần cù, qua đó người ta chứng tỏ người ta luôn biết điều gì là đúng và điều gì phải làm; nhưng Người muốn người ta suy nghĩ và ở yên để lắng nghe, suy tư và để cho Đấng khác nói với mình điều thật sự quan trọng và điều thật sự mình phải làm.

+ Kết luận

Khi viết 10,38-42, tác giả Lc không hề muốn phân biệt giữa đời sống tu trì chiêm niệm và đời sống tu trì hoạt động, cũng không hề coi thường việc phục vụ người khác. Ngài chỉ muốn nhấn mạnh đến “phần duy nhất cần thiết” là: làm môn đệ Đức Giêsu, là lắng nghe giáo huấn của Người, để Người tiếp tục hướng dẫn.

Nhìn lại ngữ cảnh rộng, chúng ta có thể cho rằng Lc đặt bản văn 10,38-42 ở đây nhắm nêu bật giáo huấn của Đức Giêsu ở 10,25-37 (Điều răn lớn) như là đáng để mọi người lưu ý, như là thuộc về “điều duy nhất cần thiết”, và như mạc khải về Chúa Cha, Đấng mà không ai biết như Đức Giêsu, đồng thời để dạy rằng động lực của mọi hành vi luân lý Kitô hữu phải tuyệt đối là giáo huấn của Đức Giêsu.

5.- GỢI Ý SUY NIỆM

1. Đối với Mácta, tiếp khách là chuyện quan trọng nhất. Thường thường chúng ta gặp nguy cơ bị thu hút bởi mối bận tâm đối với các nhu cầu vật chất, đối với đồ ăn thức uống, chuyện ăn mặc, nhà cửa trú ngụ, những tiện nghi, và chúng ta dùng hết năng lực và thì giờ cho những chuyện ấy. Dĩ nhiên, cần phải quan tâm đến những điều ấy. Nhưng cũng phải thấy rằng chỉ lo chừng ấy chuyện thì chưa đủ. Phải có một bậc thang các giá trị để đi theo.

2. Các Kitô hữu cần thường xuyên xét lại hệ thống các xác tín và các thói quen của mình để sẵn sàng điều chỉnh. Người tín hữu cần được thanh thoát, không bị ràng buộc bởi những thói quen cá nhân, khuynh hướng hưởng thụ, mức sống. Không phải chỉ đơn giản chấp nhận những gì môi trường chung quanh coi là thông thường, cần thiết và đúng đắn, là đã đủ. Người Kitô hữu còn cần phải suy nghĩ về những gì là thật sự cần thiết và đúng đắn. Đức Giêsu đặt việc lắng nghe lời Người vào chỗ nhất. Như thế, Kitô hữu chúng ta cần có một thời gian yên tĩnh và suy tư để cầu nguyện. Chúng ta cần phải thường xuyên lắng nghe Đức Giêsu và để Người chỉ đường. Khi đó, chúng ta không được tránh né cố gắng và thậm chí đau khổ để có thể tái định hướng và thay đổi.

3. Trong đời sống chung (cộng đoàn tu trì, gia đình, giáo xứ…), cần biết thường xuyên đặt câu hỏi: “Những người khác đang muốn gì? Họ đang cần gì, ngoài những của cải vật chất?”. Khi đó, hẳn là ta sẽ thấy rằng những người ấy đang đặc biệt cần được chúng ta quan tâm và cần có thì giờ của chúng ta. Các em bé không chỉ cần được ăn cái gì mà thôi. Các cha mẹ phải có giờ cho chúng, để chơi với chúng, để trả lời những câu hỏi của chúng, để giúp chúng kể những kinh nghiệm của chúng. Những người già cũng muốn xin chúng ta có thì giờ cho họ, muốn chúng ta lắng nghe họ, chúng ta hiệp thông vào các suy tư, các mối bận tâm, và cả những kỷ niệm của họ. Những người thợ trong một hãng xưởng không chỉ cần một đồng lương hậu hĩ; họ cũng cần được quan tâm và nhìn nhận, cần một lời khen và một lời nói nhân ái. Giúp đỡ về vật chất mà thôi thì chưa thỏa mãn được nhu cầu số một là có giờ cho nhau, lắng nghe nhau trong kiên nhẫn và yêu thương và sống cho nhau.

 

 

28. Phần tuyệt hảo

Có một thời người ta đã dựa vào đoạn Tin Mừng này để đề cao đời sống chiêm niệm, như là phần tối hảo mà Maria đã khôn ngoan giành lấy cho mình. Còn đời sống bôn chôn hoạt động của Martha là phần ít giá trị hơn. Thực ra Chúa Giêsu không thể bênh vực cho thứ chiêm niệm lười lĩnh cũng như thứ hành động múa may. Điều Ngài đòi hỏi là lắng nghe và thực thi lời Chúa.

Ngày kia, có lẽ bất ngờ, Chúa Giêsu đến thăm viếng gia đình ba chị em Martha, Maria và Lagiarô. Đối với người Do Thái, thì được tiếp đón một người khách đến thăm là một ơn huệ Chúa ban và cũng là dịp để tưởng niệm cuộc xuất hành của dân Chúa trên đường tiến tới miền đất Hứa. Việc đón tiếp khách được tổ chức một cách tỉ mỉ và ân cần. Khách vào nhà được rửa chân vì đi đường bụi bậm. Thường thì người nhỏ nhất trong nhà có phận sự rửa chân cho khách.

Trong đoạn Tin Mừng này, chúng ta có một vài dấu hiệu cho biết Maria là người được phân công rửa chân cho khách. Maria ngồi dưới chân Chúa Giêsu và xem ra Maria cũng đóng vai trò tiếp chuyện khách. Bà ngồi bên chân Chúa để lắng nghe lời Ngài. Trong khi đó Martha nắm giữ địa vị của một người nội trợ bận rộn với công việc bếp núc. Bà muốn cho việc tiếp đón phải thật chu đáo. Nhưng Chúa Giêsu thì lại nghĩ khác. Việc đón tiếp chu đáo và đúng nghĩa nhất đối với Ngài là đón nghe lời Ngài. Còn tất cả chỉ là phụ thuộc. Martha đã bị Chúa quở trách vì bà đã quá chú trọng vào những cái phụ thuộc, để mình chìm nghỉm trong mọi thứ công việc khiến không còn thời giờ và sức lực để nghe và đón nhận lời Ngài. Người khách như Chúa Giêsu đến với gia đình Bêtania, hẳn không phải là để được hạ, tiếp rước, mà là để ban phát, để thiết tiệc lời hằng sống. Do đó ưu tiên số một không phải là việc cho Ngài ăn gì, uống gì mà là lắng nghe lời Ngài vì của ăn đích thực của Ngài là rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

Chúng ta còn nhớ một lần kia bên bờ giếng Giacóp, Ngài đã xác quyết: Của ăn của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta. Và ý của Đấng đã sai Ngài chính là việc rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Vì thế, những ai muốn theo Ngài, cũng phải lắng nghe và thực hiện những lời Ngài truyền dạy.

Vào một dịp lễ trọng như lễ Chúa Giêsu chẳng hạn, cả giáo xứ để hết tâm trí vào việc dọn dẹp và trang trí nhà thờ, làm hang đá, treo đèn kết hoa, khiến cho không còn thời giờ, không còn lòng trí để tìm hiểu và đào sâu ý nghĩa của việc Con Thiên Chúa làm người. Giáo xứ ấy đã đi theo vết chân của Martha và bỏ mất phần tối hảo.

Bởi đó chúng ta đã kiểm điểm đời sống xem chúng ta đã thực sự đầu tư một cách đầy đủ cho điều chính yếu, là lắng nghe và thực thi lời Chúa, hay vẫn còn đang lẩn quẩn ở những vòng ngoài, ở những cái phụ thuộc.

 

 

29. Chọn phần tốt nhất – Thiên Phúc

(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi:

- Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:

- Thưa thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin!

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:

- Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?

Chàng sinh viên liền hỏi:

- Thưa thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy xúc cảm, ông trả lời:

- Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!

Chúa phán: “Marta, Marta! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”. Phần tốt nhất ấy chính là ở bên cạnh Chúa, lắng nghe Chúa nói, và cầu nguyện với Chúa.

Nhà bác học đại tài Ampère, với công việc nghiên cứu của ông về điện tử học, về nam châm điện đã đem lại biết bao lợi ích cho nền văn minh của nhân loại. Thế nhưng, ông không cho đó là vĩ đại, mà ông nói: “Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi”.

Mẹ Têrêxa Calcutta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống “địa ngục Calcutta” để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào “nhà hấp hối” để an ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của mẹ đã quì cầu nguyện trước Thánh Thể một tiếng đồng hồ để kín múc nơi Chúa: tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ. Hoạt động tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em, tại sao chúng ta lại không kín múc nơi Chúa là suối nguồn yêu thương. Cho dù là hoạt động truyền giáo, hoạt động từ thiện bác ái, hay sinh hoạt hằng ngày theo bổn phận, chúng ta cũng đừng quên “chọn phần tốt nhất” này. Hãy nhớ lời Chúa: “Không có Ta, chúng con không làm gì được”.

Các triết gia Phương Tây có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì, con người làm hết. Các triết gia Phương Đông trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là: “Cầu nguyện và hoạt động”, Marta phải đi đôi với Maria. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. P.Graef có một câu nói rất thâm thúy: “Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt”. Tuy nhiên, có một cám dỗ khiến chúng ta khó thoát khỏi. Đó là nhiều khi chúng ta tưởng mình phục vụ Chúa, nhưng hóa ra chúng ta phục vụ chính mình. Nhìn Marta lăng xăng dọn bữa ăn, chúng ta thấy dáng dấp của chính mình. Chúng ta hoạt động để được tiếng khen, để gây chú ý: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay”. Chúng ta mời gọi kẻ khác cộng tác, cũng là để phục vụ cho chương trình của chính mình. Đôi khi chúng ta cầu nguyện cũng là để kéo Chúa về phe mình, xin Chúa ủng hộ để cá nhân mình sớm được vẻ vang. Chúng ta muốn mình luôn được thành công. Chúng ta không chấp nhận thất bại. Chúng ta mãn nguyện với những hoạt động tông đồ của mình. Chúng ta hài lòng với công cuộc từ thiện của chúng ta. Chúng ta đi tìm chính mình!

 

 

 

30. Phần tốt nhất

(Trích dẫn từ ‘Manna’)

Nếu dựa trên bài Tin Mừng về người Samari tốt lành, hẳn chị Mácta phải nhận được một lời ca ngợi, vì chị đã làm, đã phục vụ Đức Giêsu. Thế nhưng ở đây, Ngài chỉ dành cho chị lời trách móc.

Đức Giêsu có đối xử bất công không?

Chúng ta cần nhìn ngắm chị Mácta tất bật dưới bếp. Chị thấy còn bao việc phải làm ngay cho kịp. Lòng chị lo lắng bồn chồn về việc tiếp đãi Chúa. Vậy mà cô em Maria lại ngồi không... Mácta không thể nén được nữa. Chị ngắt lời lúc Đức Giêsu đang trò chuyện với em. Hơn nữa, chị muốn Ngài ra lệnh để em mình xuống bếp. Câu nói của chị có nguy cơ phá vỡ cuộc trò chuyện. Cả Đức Giêsu và Maria đều bị coi là những người vô tâm, thản nhiên trò chuyện khi mà công việc đang ngập đầu.

Câu trả lời của Đức Giêsu đầy cảm thông, trìu mến. Ngài hiểu nỗi bối rối của Mácta khi tiếp đãi Ngài, nhưng Ngài cho thấy ngồi nghe cũng là một cách tiếp đãi, thậm chí một cách tiếp đãi tuyệt vời.

Trong một thế giới thực dụng, coi trọng hiệu quả, Hội Thánh có khá nhiều Mácta và rất ít Maria.

Lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện bị coi là xa xỉ phẩm, là những điều vô ích, mất thì giờ, ù lì, thụ động. Nhưng có hành động nào hiệu quả bằng ngồi nghe Chúa? Tiếp xúc với Đấng Toàn Năng cho ta sức mạnh để làm mọi sự.

Một Hội Thánh quân bình khi có cả Mácta và Maria.

Một Kitô hữu quân bình khi coi trọng việc ngồi bên Chúa.

Không phải chỉ là làm cho Chúa, mà còn sống với Ngài trong một tương quan mật thiết bền chặt. Đừng đợi lúc rảnh, lúc lắng mới đến gặp Chúa. Lúc cần gặp Chúa hơn cả là lúc bận bịu, lo âu.

Con người hiệu năng là con người cầu nguyện.

Khi được hỏi về bí quyết của mình, Mẹ Têrêsa đáp: “Bí quyết của tôi rất đơn giản: tôi cầu nguyện.”

Có ai trong chúng ta muốn chọn phần tốt hơn như Maria?

Khi nhìn Mácta, chúng ta thấy khuôn mặt của mình.

Lúc đầu, chị chỉ muốn phục vụ Chúa. Nhưng dần dần, điều chi phối chị không phải là Chúa nữa, mà là sự thành công rực rỡ của bữa ăn do chị nấu. Chị huy động mọi người để phục vụ cho dự tính của chị, thay vì phục vụ Chúa. Chị đi đến chỗ nghi ngờ cô em lười biếng, trách Đức Giêsu vô tâm. Cuối cùng không rõ chị tìm Chúa hay tìm mình, tìm làm vui lòng Chúa hay thành công cá nhân.

Có khi chúng ta cũng bắt Chúa đứng vào phe mình để cho công việc mình chóng thành tựu.

Làm thế nào để chúng ta phục vụ mà không thấy mình phục vụ, không ngắm nghía, nhâm nhi sự quảng đại của mình?

Làm sao tôi có thể yêu một cách trong suốt như Maria?

Gợi Ý Chia Sẻ

Cầu nguyện là lắng nghe Chúa nói với mình, là gặp gỡ Chúa trong tình con thảo. Bạn nghĩ gì về đời sống cầu nguyện của bạn hiện nay? Chất lượng và thời gian ra sao?

Cái khó và cái dễ khi bạn cầu nguyện trong một xã hội công nghiệp hiện đại?

Cầu Nguyện

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến, xin dạy con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu không ngại thương tích, biết làm việc không tìm an nghỉ, biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen.

 

 

31. Chỉ có một điều cần

(Trích dẫn từ ‘Manna’)

Trên dặm đường rao giảng Tin Mừng, thỉnh thoảng Đức Giêsu và các môn đệ gặp được một chỗ nghỉ chân chan chứa tình người.

Mácta là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu. Chị tất bật lo việc tiếp đãi nấu nướng, chị lo lắng trước bao việc phải làm ngay để có được một bữa ăn thịnh soạn hầu tỏ lòng kính trọng đối với vị khách quý. Trong khi đó cô em Maria lại vô tư và bình thản, ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Người.

Maria say mê nghe Lời Chúa, Lời mở tâm tư cô ra trước những chân trời mới mẻ. Cô thấy chẳng có gì hạnh phúc hơn giây phút này, được ngồi nghe Thầy giảng như một môn đệ thực thụ.

Mácta không hiểu được cô em gái, chị cũng không hiểu được Đức Giêsu, nên cuối cùng chị đã đến thưa với Chúa: Thầy không để ý tới sao? Mácta muốn Thầy để ý đến việc mình đang làm, muốn Thầy nhận ra sự vất vả mình phải chịu. Em con để mình con phục vụ. Mácta tưởng chỉ có mình mới là người phục vụ. Chị không nhận thấy rằng Maria cũng đang tiếp khách và ngồi nghe Chúa cũng là một cách phục vụ.

Xin Thầy bảo em giúp con một tay.

Mácta kéo Đức Giêsu vào cuộc, kéo Ngài đứng về phía mình, phía đúng, để gây áp lực trên cô em. Chị muốn Maria phải vào bếp với mình, phải phục vụ theo kiểu của mình. Ngấm ngầm, Mácta không chấp nhận kiểu phục vụ của Maria. Có lẽ chị nghĩ đó là một hành vi vô ích, trong khi có biết bao việc quan trọng khác cần làm.

Đức Giêsu không ghét Mácta, không coi nhẹ việc phục vụ của chị, nhưng buộc lòng Ngài phải lên tiếng. Ngài muốn giải phóng Mácta khỏi nỗi bồn chồn quá mức. Ngài muốn giải phóng chị khỏi cái tôi, khỏi lối nhìn hẹp hòi, để nhận ra điều duy nhất cần thiết.

Ngài gọi tên chị hai lần: Mácta! Mácta! Con lo lắng và xao động vì nhiều chuyện quá, dù chuyện ấy là chuyện con lo cho Thầy.

Cần thanh lọc lòng mình khỏi những tìm kiếm vị kỷ, khỏi những ganh tị nhỏ mọn và tự mãn ngấm ngầm, để có thể làm việc cho Chúa trong bình an thư thái, dù có gặp thất bại hay bị lãng quên.

Chỉ có một chuyện cần mà thôi.

Coi chừng nỗi lo lắng về nhiều chuyện phụ lại làm ta quên mất chuyện chính, một chuyện cần hơn cả, đó là an tĩnh gặp gỡ và lắng nghe Chúa mỗi ngày trong tư thế khiêm hạ của người môn đệ.

Cuộc sống dồn dập hôm nay dễ biến chúng ta thành Mácta: xao động, âu lo, căng thẳng, mất kiên nhẫn. Cả người làm việc cho Chúa cũng bị cuốn hút. Có lẽ cần bớt việc và thêm giờ cầu nguyện, cần để cho Chúa làm việc nơi tôi và qua tôi thay vì tự mình bươn chải một mình.

Phải chăng đời Kitô hữu là kết hợp giữa Mácta và Maria, giữa tất bật và an tĩnh, giữa lăng xăng và ngồi yên, giữa hoạt động và cầu nguyện?

Để rồi giữa tất bật, tôi tìm thấy an tĩnh, - giữa lăng xăng, tôi thấy mình ngồi yên, - giữa hoạt động, tôi thấy mình chiêm niệm.

Gợi Ý Chia Sẻ

Có khi nào những khúc mắc của cuộc sống đưa bạn đến ngồi dưới chân Chúa không? Bạn nghĩ gì về sự cân đối giữa cầu nguyện và hoạt động trong đời bạn? Bạn cầu nguyện có đủ và sâu không?

Cầu nguyện là gặp gỡ và lắng nghe như cô Maria. Có khi nào bạn có kinh nghiệm như Maria không? Bạn có khi nào nghe Chúa nói tự thẳm sâu cõi lòng không?

Cầu Nguyện

Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.

Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe Lời Người.

Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con.

Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của Chúa.

 

 

32. QUÂN BÌNH CUỘC SỐNG GIỮA CẦU NGUYỆN VÀ PHỤC VỤ _ LM ĐAN VINH - HHTM

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 10,38-42

(38) Trong khi Thầy trò đi đường, Đức Giê-su vào làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. (39) Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. (40) Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !” (41) Chúa đáp: “Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều việc quá ! (42) Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”.

2. Ý CHÍNH: Câu chuyện trong Tin mừng hôm nay có 3 nhân vật chính: Đức Giê-su và hai chị em Mác-ta Ma-ri-a. Hai chị em này phục vụ Đức Giê-su mỗi người một cách: Mác-ta thì bận rộn lo việc cơm nước, đang khi Ma-ri-a lại ngồi bên chân Thầy và nghe Lời Người. Mác-ta khó chịu với cô em và xin Thầy can thiệp bảo Ma-ri-a giúp đỡ mình. Nhưng Người lại cho biết việc nghe Lời Chúa mà Ma-ri-a đang làm mới là điều quan trọng và cần thiết hơn cả.

3. CHÚ THÍCH: 

- C 38-39: + Trong khi Thầy trò đi đườngvào làng kia: Đức Giê-su vào làng Bê-ta-ni-a, cách Thủ đô Giê-ru-sa-lem 3 cây số. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta: Đây là chị cả trong một gia đình có ba chị em. Mác-ta chưa lập gia đình, vì nếu đã có chồng thì người chồng đã phải đứng ra tiếp đón Đức Giê-su. Là chị cả nên Mác-ta phải đảm đương mọi việc. Bà lo dọn bữa ăn phục vụ Đức Giê-su và các môn đệ. + Đón Người vào nhàNgười Do thái vốn hiếu khách. Đức Giê-su không những là khách mà còn là bạn thân của gia đình (x. Ga 11,5). Thái độ tiếp đón này trái với thái độ dân làng Sa-ma-ri trước đó đã từ chối đón tiếp Người (x. Lc 9,53). Trong thời điểm những ngày cuối đời, việc đón tiếp Đức Giê-su của Mácta còn là hành động can đảm. Vì khi ấy Người đang bị các đầu mục Do thái theo dõi, ai đón tiếp Người sẽ bị coi là đồng đảng và có thể bị khai trừ ra khỏi hội đường nữa (x. Ga 9,22 ; 12,10.42). + Người em gái tên là Ma-ri-a:Đây là Ma-ri-a làng Bê-ta-ni-a, khác với Ma-ri-a làng Mác-đa-la (x. Lc 8,2), cũng không phải là Ma-ri-a thân mẫu Gia-cô-bê và Giô-sép (x. Mt 27,56), không phải Ma-ri-a mẹ của Gio-an (x. Cv 12,12). Cô Ma-ri-a là em của Mác-ta, là chị của La-da-rô. Chính cô Ma-ri-a này đã hy sinh bình dầu đắt tiền để xức chân Đức Giê-su (x Ga 12,3). Cần phân biệt cô Ma-ri-a này với người phụ nữ tội lỗi cũng xức dầu thơm trên chân Đức Giê-su (x Lc 7,38). Cả 3 chị em nhà này đều được Đức Giê-su yêu mến (x. Ga 11,5). + Ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người dạy:Trong Lu-ca, ngồi dưới chân là thái độ của người môn đệ (x. Lc 8,35 ; Cv 22,3)

C 40-42: + Em con để mình con phục vụ...: Mác-ta luôn tỏ lòng quí mến Đức Giê-su và quan tâm phục vụ Người (x. Ga 12,2). Cô không hài lòng khi thấy cô em Ma-ri-a nhàn nhã ngồi bên chân và nghe Thầy dạy đang khi cô phải vất vả lo làm bữa cho Người. Do đó cô đã yêu cầu Đức Giê-su cho Ma-ri-a xuống bếp giúp cô một tay. + Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi: Chuyện cần thiết duy nhất này là gì ? Đó là điều cô em Ma-ri-a đang làm: “Ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy”. Đức Giê-su không đánh giá thấp việc bếp núc của Mác-ta. Nhưng việc tìm biết thánh ý Thiên Chúa lại là điều duy nhất cần thiết. Hơn nữa, Lời Chúa là của ăn tinh thần nên có giá trị cao hơn của ăn vật chất như Người đã nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” (Lc 4,4) và “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34).

4. CÂU HỎI

1) Tin mừng đã kể ra mấy phụ nữ tên Ma-ri-a và các bà này liên quan thế nào với Đức Giê-su ? 

2) Có mấy người phụ nữ đã xức dầu thơm cho chân Đức Giê-su ? 

3) Đức Giê-su đã cho biết quan điểm thế nào giữa hai việc phục vụ: Một là phục vụ bàn ăn của Mác-ta và hai là ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người của Ma-ri-a?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Cô Ma-ri-a cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người dạy. Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ” (Lc 10,39-40).

2. CÂU CHUYỆN: 

1) GƯƠNG CẦU NGUYỆN CỦA MỘT NHÀ BÁC HỌC.

PHÊ-ĐÊ-RIC Ô-DA-NAM (Federic Ozanam), một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo hội Pháp vào cuối thế kỷ 19, khi còn là sinh viên đại học đã trải qua một cơn khủng hoảng về đức tin. Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh vào một ngôi thánh đường ở Pa-ri. Từ cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện ở hàng ghế đầu gần gian cung thánh. Đến gần, chàng sinh viên nhận ra đó không ai khác hơn là nhà bác học ĂM-PE (Ampère), vị giáo sư của anh, một nhân vật nổi tiếng lúc bấy giờ. Anh đứng lặng lẽ một hồi để quan sát nhà bác học khi ông đang cầu nguyện rất sốt sắng. Sau đó, anh theo gót thầy trở về phòng làm việc của ông. Thấy chàng sinh viên đứng thập thò ngòai cửa, nhà bác học liền mở lời hỏi: “Này anh bạn trẻ, anh cần gì ? Tôi có thể giúp gì được cho anh đây ?” Chàng thanh niên nhỏ nhẹ thưa: “Thưa giáo sư, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm. Hôm nay con xin hỏi thầy một vấn đề về đức tin !” Nhà bác học mỉm cười khiêm tốn đáp: “Anh lầm rồi. Đức tin là môn yếu nhất của tôi đấy. Nhưng nếu giúp được anh điều gì thì tôi cũng sẵn sàng”. Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa giáo sư, người ta có thể vừa là một nhà bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu đạo đức siêng năng cầu nguyện hay không?” Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của anh học trò. Sau một lát im lặng, ông trả lời bằng một giọng run run đầy cảm xúc: “Con ơi ! Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi !”.

2) GƯƠNG CẦU NGUYỆN CỦA MỘT VỊ TỔNG THỐNG :

Trong tác phẩm SỐNG HẠNH PHÚC của Tổng Gíam Mục Fulton J. Sheen có một nhân chứng đương thời với Tổng thống Hoa Kỳ Áp-bra-ham Lanh-côn, kể lại rằng ông ta đã có thời gian ba tuần sống chung với A. Lincoln sau khi trận đánh Bull Rull kết thúc :

“Đêm ấy tôi không ngủ được. Tôi bèn thử dợt lại những gì sẽ phải nói trước công chúng vào sáng hôm sau. Bấy giờ đã quá nửa đêm, hay đúng hơn là gần đến hừng đông. Và tôi nghe có tiếng thầm thì trong phòng ngủ của Tổng Thống. Cửa phòng còn hé mở. Tôi bước lại gần và thấy một cảnh không thể nào quên được. Tôi thấy Tổng Thống quì bên một cuốn Kinh Thánh đang mở. Ánh sáng trong phòng chỉ vừa đủ. Ngài quay lưng về phía tôi. Tôi đứng lặng một lúc quá đỗi bàng hoàng và kinh ngạc. Rồi tôi nghe Tổng Thống cầu nguyện :

“Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời cầu khấn của Sa-lô-mon trong đêm khuya, để xin được ơn khôn ngoan. Xin Chúa nhậm lời con đây, con không thể dẫn dắt dân tộc này nếu Chúa không ra tay giúp đỡ con. Con là kẻ nghèo hèn và tội lỗi. Lạy Chúa, Chúa đã nhậm lời cầu xin của Sa-lô-mon, xin hãy nghe lời con nài van mà cứu lấy đất nước này!”

3) TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỜI CẦU NGUYỆN KHI GẶP GIAN NGUY :

Trong cuộc khảo thí tại trường sĩ quan trẻ, vị Thiếu tá giám khảo hỏi một chuẩn uý :

- Trong một cuộc hành quân, đơn vị do anh chỉ huy rơi vào tình huống này: Phía trước và hai bên đơn vị của anh đều bị quân địch vây chặt, chúng chặn cả lối rút lui của anh, có nghĩa là đơn vị anh bị bao vây gọn, lúc đó anh sẽ xử trí thế nào?

Mọi con mắt của Ban Giám Khảo đều đổ dồn về phía anh sĩ quan trẻ, anh suy nghĩ một lát rồi đứng nghiêm trả lời :

- Thưa Thiếu tá và Ban Giám Khảo, tôi sẽ hạ lệnh: “Cầu nguyện”.

Tất cả Ban Giám Khảo nhìn nhau bỡ ngỡ, vì không ai nghĩ tới một câu trả lời như thế. Viên Thiếu tá liền vỗ vai anh sĩ quan trẻ và nói:

- Anh hãy nhớ xử lý đúng như lời anh vừa nói nhé !

3.THẢO LUẬN

1) Qua Lời Chúa dạy hôm nay, bạn thấy cầu nguyện có cần không ? Mỗi ngày bạn thường cầu nguyện vào những lúc nào ? Bạn thường cầu nguyện như thế nào ? 

2) Có khi nào bạn cầu nguyện bằng cách đọc một đoạn Tin mừng, sau đó suy nghĩ và cầu nguyện dựa theo ý tưởng mà Lời Chúa gợi ra hay không ? 

3) Bạn có thể dùng cách nào để biến các việc làm hằng ngày trở thành lời cầu nguyện liên lỉ dâng lên Thiên Chúa không ?

4. SUY NIỆM: 

1)TẦM QUAN TRỌNGCỦA LỜI CẦU NGUYỆN TRONG CUỘC SỐNG:

Trong cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn, Đức Giê-suđã ghé làng Bê-ta-ni-a và vào trọ trong nhà người bạn thân là anh La-gia-rô (x Lc 13,22).Chính trong ngôi nhà này Đức Giê-su đã cho thấy tầm quan trọng của sự cầu nguyện, là noi gương Ma-ria ngồi bên chân Chúa và lắng nghe lời Người.

“Thầy không để ý tới sao ?”:Mác-ta đã tỏ thái độ không hài lòng trước sự thờ ơ của Đức Giê-su và của cô em Ma-ri-a khi để mặc cô phải phục vụ nấu ăn một mình.Cô nhờ Đức Giê-su nhắccho Ma-ri-a hãy xuống bếp phụ giúp cô.Trong câu trả lời, Đức Giê-su không bác bỏ việc vất vả làm bữa phục vụ Người của Mác-ta, nhưng Người muốn cô nhận ra đâu là điều tốt nhất và cần nhất để có Nước Trời làm gia nghiệp. Khi nhận xét về thái độ của Mác-ta, Đức Giê-su dùng từ “nhiều chuyện”, nghĩa là quá chú trọng về món ăn vật chất mà quên đi sự cần thiết của món ăn tinh thần là Lời Chúa. 

-“Chỉ có một chuyện cần mà thôi” :Đức Giê-su không chê thái độ phục vụ của Mác-ta, vì đó là cách biểu lộ lòng mến cô dành cho Người.Nhưng Người lại đánh giá cao tâm tình của Ma-ri-a, khi cô đặt Người làm trung tâm cuộc đời của cô. Qua đó, Người muốn dạy chúng ta rằng:Tuy hằng ngày phải vất vả lo toan tìm kiếm cái ăn cái mặc như Mác-ta, nhưng chúng ta cũng cần dành ra thời giờ để cầu nguyện, lắng nghe lời Chúa và tâm sự với Người như Ma-ri-a.

2) GƯƠNG CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC GIÊ-SU:

Sách Tin Mừng đã ghi nhận gương Đức Giê-su cầu nguyện với Chúa Cha như sau :

- Sau khi chịu phép rửa tại sông Gio-đan, Đức Giê-su đã khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng cách lên núi ăn chay và cầu nguyện suốt 40 ngày đêm (x. Mt 4,2b), để xin Cha chúc lành cho công việc Người sắp thực hiện. Người cũng dạy môn đệ tránh thái độ phô trương, nhưng hãy cầu nguyện nơi kín đáo (x. Mt 5,4-6). Tránh cầu nguyện dài dòng như dân ngoại nhưng hãy nói vắn gọn như trong kinh Lạy Cha (x. Mt 4,7-14).

- Đức Giê-su đã nêu gương cầu nguyện với Chúa Cha trước khi làm phép lạ nhân bánh ra nhiều: “Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông” (Mt 14,19). Người khuyên các môn đệ hãy hiệp thông với nhau trong lời cầu nguyện: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp nhau lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20).

- Trước cuộc tử nạn, Đức Giê-su đã cầu nguyện với Chúa Cha (x. Mt 26,36-46). Tin Mừng Gio-an đã ghi lại lời cầu nguyện của Đức Giê-su gồm 26 câu trong đoạn 17. Trong vườn ghết-sê-ma-ni Người đã cầu xin Chúa Cha: “ Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con mà xin theo ý Cha” (Lc 22,42).Trên thánh giá trước khi tắt thở, Đức Giê-su đã cầu nguyện: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34)…

3) TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI TÍN HỮU:

- Các mẫu gương cầu nguyện :Đầu tiên là nhà bác học AM-PE, tên đầy đủ là André Marie Ampère (17751836), một nhà vật lýlừng danh người Pháp, đã để lại nhiều thành quả nghiên cứu khoa học như điện học, nam châm điện... mang lại ích lợi cho nền văn minh nhân loại. Thế nhưng, Am-pe không coi những thành quả đó là lớn lao khi nói với một anh sinh viên rằng : “Chúng ta chỉ vĩ đại khi cầu nguyện mà thôi”. Tiếp đến là Thánh TÊ-RÊ-SA thành Can-quýt-ta, một nữ tu sống thánh thiện giữa đời thường. Mỗi ngày trước khi bước xuống “địa ngục Can-quýt-ta” để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đến “nhà hấp hối” để an ủi những kẻ đau liệt, Mẹ Tê-rê-sa đều cùng chị em trong cộng đoàn đến quì chầu Thánh Thể tại nhà nguyện một giờ đồng hồ.

- Ích lợi của sự cầu nguyện :Ngày nay, trong một thế giới thực dụng coi trọng hiệu quả bề ngoài, Hội thánh đang có nhiều Mác-ta nhưng lại có ít Ma-ri-a. Nhiều người đã coi việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện là việc vô ích vì mất thời giờ và thụ động. 

Nhưng thực ra có hành động nào hiệu quả cho bằng nghe và thực hành Lời Chúa ? Làm việc tông đồ là mang Chúa đến cho tha nhân. Vậy tại sao chúng ta lại không múc đầy tình yêu nơi Chúa Giê-su là suối nguồn yêu thương vô tận. Hãy ý thức tầm quan trọng của sự kết hiệp với Chúa như lời Người dạy: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Đôi tay của cô Mác-ta lo bữa ăn cho Đức Giê-su là một việc quan trọng và không thể thiếu về phần thể xác. Nhưng đôi chân quì bên Chúa và đôi tai lắng nghe Lời Người của Ma-ri-a lại càng quan trọng và cần thiết hơn như Lời Chúa đã khẳng định: “Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất”(Lc 10,42). 

4) THÁI ĐỘ QUÂN BÌNH GIỮA CẦU NGUYỆN VÀ PHỤC VỤ:

Trong một ngày, chúng ta thường chỉ dành ít phút buổi sáng cho việc cầu nguyện dâng lễ, còn phần lớn thời gian còn lại là dành cho các sinh hoạt khác. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể biến mọi sinh hoạt đời thường như: ăn uống, ngủ nghỉ, học tập, làm việc... trở thành lời cầu nguyện, bằng cách dâng ngày mỗi sáng khi vừa thức giấc. Rồi trong ngày hãy năng thưa với Chúa lời nguyện tắt trước mỗi công việc “Lạy Chúa, con làm việc này để biểu lộ lòng con yêu mến Chúa,… để cầu xin cho một người đang lạc xa Chúa được sớm trở về với Chúa”… Nhờ đó, chúng ta sẽ biến những việc làm hằng ngày của mình trở thành lễ vật, kết hiệp với lễ vật cao trọng là Mình Máu Chúa Giê-su luôn được dâng trên các bàn thờ khắp nơi trên thế giới.

Một tín hữu sẽ có nếp sống đạo đức quân bình khi vừa lo chu tòan việc bổn phận phục vụ Chúa và tha nhân như Mác-ta, nhưng đồng thời không quên kết hiệp với Chúa như Ma-ri-a. Đừng đợi đến khi xong việc mới nhớ đến Chúa. Vì chính khi đang bận rộn phục vụ tha nhân, là lúc chúng ta cần được Chúa ban ơn trợ giúp bằng sự cầu nguyện.

5. NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Khi con bị bao vây bởi những tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng bên Chúa. Khi con vất vả với trăm công nghìn việc, xin cho con biết quý trọng những phút giây được an nghỉ bên lòng Chúa. Khi con bị kéo ghì bởi những đam mê dục vọng, xin cho con được ơn giải thoát và hướng lòng trí lên cao nhờ kêu cầu Danh Thánh Chúa. Ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần trong cuộc sống đời thường của con, để con có thể cầu nguyện không ngừng như lời dạy của thánh Phao-lô: "Vậy, dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10,31).

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm