Danh mục bài viết

Cập nhật hôm nay, lúc 8:58 - Lượt xem 6612

Các bài Suy niệm Lễ Hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô

Lời Chúa: Cv. 12, 1-11; 2Tm. 4, 6-8.17-18; Mt. 16, 13-19

 

1. Anh là Tảng đá _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô, 
chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, 
rất khác nhau mà cũng rất giống nhau. 
Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình. 
Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ. 
Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, 
về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh. 
Ông chưa hề gặp mặt Ðức Giêsu khi Ngài còn sống. 
Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng. 
Cả hai đều được Ðức Giêsu gọi. 
Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. 
Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Ðamát. 
Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài. 
Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. 
Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. 
Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng. 
Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. 
Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, 
trong một phút giây quá tự tin vào sức mình. 
Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, 
trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng. 
Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai. 
Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới. 
Phêrô và Phaolô đều yêu Ðức Giêsu cách nồng nhiệt, 
vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu. 
“Này anh Simon, anh có mến Thầy không? 
Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,16) 
Cả Phaolô cũng yêu Ðấng ông chưa hề chung sống, 
vì Ngài là “Con Thiên Chúa, 
Ðấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20) 
Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: 
Không gì có thể tách được chúng ta 
ra khỏi Tình Yêu của Ðức Kitô (x. Rm 8, 35.39) 
Tình yêu Ðức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, 
vì nói cho cùng truyền giáo chính là 
giúp người khác nhận ra và yêu mến 
Ðấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại. 
Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng, 
bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. 
Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40) 
Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28). 
“Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Ðức Giêsu” (Gl 6, 1-7) 
Cả hai vị đã chết như Thầy. 
Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18). 
Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, 
và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6). 
Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, 
dám bỏ, dám theo và dám yêu 
dám sống và dám chết cho Ðức Kitô và Tin Mừng. 
Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá. 

Lạy Chúa, 
chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, 
một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, 
để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội. 
Chúa xây dựng Giáo Hội 
trên một tảng đá mong manh, 
để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa. 
Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con 
theo Chúa, sống cho Chúa, 
đặt Chúa lên trên mọi sự: 
gia đình, sự nghiệp, người yêu. 
Chúng con chẳng thể nào từ chối 
viện cớ mình kém đức kém tài. 
Chúa đưa chúng con đi xa hơn, 
đến những nơi bất ngờ, 
vì Chúa cần chúng con ở đó. 
Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, 
bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, 
hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen. 

 

2. Nghịch lý giữa Ân sủng và Tội lỗiLm G.B Trần Văn Hào, SDB

Trong một cuộc triển lãm ghi dấu ngày con tàu Titanic khổng lồ chìm sâu giữa đại dương mênh mông, người ta trưng bày hai bức ảnh với hai chủ đề đối nghịch. Bức ảnh thứ nhất chụp cảnh con tàu vĩ đại đang từ từ chìm xuống giữalòngbiển khơi trước con mắt kinh hoàng của hơn một ngàn du khách trên tầu. Tác giả chú thích:‘Sự yếu ớt của con người trước sức mạnh hùng vĩ của thiên nhiên’. Bức ảnh thứ hai ghi lại cảnh một người đàn ông quý phái đã can đảm nhường chỗ của mình trên chiếc thuyềncứu hộ cho một phụ nữ và sẵn sàng chấp nhận cái chết. Tác giả chú thíchở dưới :‘Sự yếu ớt của thiên nhiên trước sức mạnh của tình yêu con người’. Tổng hợp cả hai bức ảnh, người ta muốn nói lênrằng, con người là một sinh vật rất nhỏ bé trước thiên nhiên và vũ trụ, nhưng con người sẽ trở nên vĩ đại và cao cả nhờ vào tình yêu dànhtrao cho nhau.

Hôm nay, Giáo hội mừng lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô. Hai vị là những con người thật nhỏ bé và yếu đuối do những lỗi phạm trong quá khứ, nhưng cả hai đã trở nên vĩ đại nhờ vào tình yêu hiến dâng cho Chúa Giêsu một cách trọn vẹn.

Nhữngquá khứđen tối.

Nơi Phêrô, chúng ta nhậnra sự yếu đuối rõ nét qua balần phản bội. Phêrôcho dù rất cương quyết và bộc trực, nhưng đã nhát đảm và runsợchối Chúa,ngay cả khiđứng trước một cô gáinhỏ trongsân nhà thượng tế Cai-pha. Tuy nhiên,cũng chính nơi Phê-rô, chúng ta khám phá ra sựphi thường và sức mạnh tuyệt đối của ân sủng. Ân sủng và tình yêu Thiên Chúa đã biến một cây sậy dập nát trở nên đá tảng xây dựng Hội thánh. Nguyên lý của sự biến đổi này chính là sự đáp trả tình yêumột cách tròn đầy. “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”(Ga 21,17).

Tương tự nơi thánh Phaolô,chúng ta cũng thấy rõ sự đối kháng giữa tội lỗi và ân sủng, giữa sự chết và sự sống, giữa ánh sáng và bóng tối. Một hung thủ đã từng ra tay sát hại biết bao Kitôhữu,lạitrở thànhvịTông đồ trổi trangnhất,bôn bađi khắp nơi rao giảng Tin mừng về Chúa Giêsu cho dân ngoại. Thánh Phaolôđã diễn tả cảm thức đức tin của mình một cách sâu xa khiNgài viết trong thơ Rôma:“Ở đâu tội lỗi càng nhiều, ở đó ân sủng càng chan chứa” (Rm 5,20).

Nguyên lý căn bản nơi cuộc trở về của Phaolôcũng chính là nguyên lý của tình yêu, như Ngài đã viết:“Tình yêu Đức Kitôthúc bách tôi. Không gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô” (Rm 8,38).

Nói tóm lại, tình yêu là tên gọi của Thiên Chúa (1 Ga 4,15)vàcũng là thuộc tính căn bản của Ngài. Tình yêu chínhlà khung căn bản hình thành nên ơn gọi của Phêrôvà Phaolô. Chính tình yêu đã biến đổi hai con người yếu đuối và tội lỗi trở nên những vị thánh vĩ đạinhất.

Được biến đổi trong Ánh sáng

Thánh Tôma Aquinôđã nói:“Kẻ nào sa ngã trong tội, đó là một con người rất bình thường. Ai ởlỳtrong tội lỗi, đólà một tên ác quỷ. Còn nhữngaibiết trỗi dậy từ trong đống bùn tội ácđể trở về với Chúa, đó lại là một vị thánh”. Một nhà tu đức cũng đưa ra một nhận định tương tự khi phát biểu :“Mỗivị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai”. Qúakhứ của con ngườicho dầu có đặc kín tội lỗi với bao bầm dập và thương tích, chúng ta vẫn có thể hướng về một tương lai tươi sáng ngậptràn hy vọng,nếu biết tín thác vào lòng thương xót của Chúa và bước đi trong ánh sáng tình yêu Ngài. Kinh nghiệm này chúng ta có thể học hỏimột cách cụ thểtừ nơi hai vị Thánh Phêrôvà Phaolô.

Cả hai Tông đồ đã trải nghiệm sâu xa nguồnsáng từchính Đức Giêsu soi chiếuvào mình. Trongsân của thầy thượng tế Caipha, ánh sáng từ đôi mắt Chúa đã quét ngang khuôn mặt Phêrô, khơi dậy nơi Ngài cảm thức thống hối chân thành. Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Lc 22,61). Chính ánh mắt thân thương của Chúa Giêsu đã soi dọi vào tâm hồn Phêrô một luồng ánh sáng để xua tan bóng tốitội lỗi sau 3 lần phản bội. Ánh mắt đó mang chởcả một bầu trời lồng lộng chất chứa tình yêusâu thẳm. Phêrôđã cảm nhậnđược tình yêu này và Ngài đã đượcbiến đổihoàn toàn.

Cũng vậy,trên đường đi Đamas, ánh sáng củaChúa từ trên caođã chọc thủng đôi mắt của Saolêkhiến ông trở nên mù lòa, nhưng luồng sáng ấy lại khai mở nơi Phaolôcặp mắt đức tinsáng ngời. Cuộc đời của Phaolôđã được biến đổi vì Ngài cảm thấu được luồng ánh sángtình yêutừ nơi Đức Kitô hắt dọi vào tâm hồn mình.

Trong hành trình ơn gọi của mỗi người, điều quan trọng là chúng ta có biếtnhận ra ánh sáng từ tình yêu của Thiên Chúa hay không. Tội chúng ta cho dầu nặng đến mấy, nhiều đến bao nhiêu cũng không quan trọng. Ánh sáng nơi tình yêu Chúasẽ hoá giải tất cả, miễn là chúng ta biết trải lòng mình ra để cho ánh sáng ấy hắt dọivào.

Sứ mạngphụcvụ Hộithánh.

Tại quảng trường Thánh Phêrô ởVatican, chúng ta thấy hai bức tượng bằng đá đứngsừng sững giữa trời, đó là tượng Thánh Phêrôvà tượng Thánh Phaolô. Đây là hai vị Tông đồ trưởng, hai cột trụ vững chắc của Giáo Hộimà hôm nay chúng ta mừng kính. Đọc lại sách Tông đồ công vụ, chúng ta sẽ học được cách thức mà hai vị đã thể hiện trong sứ vụphục vụ Hội Thánh thuở ban đầu. Hai con ngườiphát xuất từ hai môi trường văn hóa hoàn toàn khác biệtnhau. Phêrôgốc Do Thái,cònPhaolôlà một công dân Rôma. Phaolôthuộc giới tríthức, đã từng thụ giáo dưới chân thầy Gamalien, còn Phêrôchỉ là một anhdân chài quê mùachất phác. Phêrôcoi trọng truyền thốngcủa tổ tiên, nhất là việc tuân giữ tập tụccắt bì, còn Phaolôthì không.Tuy nhiên, cả hai đều rất năng động và hăng hái. Một Phêrôđã từng cương quyết đi theo Thầy đến cùng cho dù phải chấp nhận cái chết, còn Phaolôthì hăng say đi lùng bắt các Kitôhữu chỉ vì ngộ tín.

Nhưng những khác biệt sâu xa nơi hai vị Thánh đã đượcThánh Thần hóa giải. Công đồng Giêrusalem đã được triệu tập, và chính Thánh Thần đã liên kết hai vị Tông đồ trở nên một lòng một trí với nhau để chung tay xây dựng Giáo hội.

Trong Hiến chế Gaudium et Spes,Công đồng Vaticanô2đãnói đến ý niệm ‘Đồng nhất trong dị biệt’ (Unity in diversity) nơi Giáo hội để mời gọi chúng ta hãy biết từ bỏ ý riêng và biết cách làm việc chung trong việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô. Tại mỗi Giáo hội địa phương, nhưtại cácgiáo xứ hay tại các giáo phận,mô thức này rất quan trọng giúpchúng ta noi gương thánh Phêrôvà thánh Phaolô để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Có như thế, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng Giáo hội một cách hữu hiệu.

Kết luận

Trong tác phẩm ‘Quovadis’, nhà văn Sienkievich đã viết:“Đế quốc hùng mạnh của bạo Chúa Néron sẽ có ngày sụp đổ, nhưng con thuyền mộc mạc của bác dân chài quê mùa miền Galilêvẫn luôn vững vàng lướt sóng”.Đó là con thuyền Giáo Hội, được xây trên đá tảng là Thánh Phêrô. Cuộc hành trình ơn gọi của thánh Phêrôcũng như của thánh Phaolôlà cả một huyền nhiệmsâu xa. Hai vị thánh đã trở nên vĩ đại nhờ vào việc biết mở rộng cõi lòng để cho tình yêu Chúa Giêsu chiếm ngự. Đó là khuôn mẫu nội tâm cho tất cả mọi người chúng ta hôm nay.

 

 

3. Hủy bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Kinh Thánh có nhiều đoạn về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô; nhưng phụng vụ đọc cho chúng ta nghe 3 bài này trong thánh lễ hôm nay. Chắc chắn phải có một hay nhiều ý tứ nào đó. Chúng ta được tự do tìm hiểu. Và nếu chúng ta đồng ý, chúng ta thử xếp đặt lại thứ tự 3 bài đọc như sau để có một phương hướng suy nghĩ. Trước hết bài Phúc âm gợi lên vinh dự của hai thánh Tông đồ được đặt làm rường cột cho Hội Thánh Chúa, rồi bài sách Công vụ cho chúng ta thấy các ngài được bảo hộ mạnh mẽ như thế nào khi thi hành sứ vụ; và cuối cùng bài Thánh thư kêu gọi chúng ta hết thảy hãy tin tưởng phấn đấu như các ngài đã hy sinh không mỏi mệt.

A/ Là những Tông đồ được đặc cách

Bài Tin Mừng chỉ nói đến vinh dự đặc biệt đã được dành cho Phêrô. Nhưng vinh dự ấy một ngày kia cũng sẽ được trao tặng Phaolô qua lời Chúa phán với Hananya: Hãy đi tìm Saulô, vì nó là lợi khí Ta chọn để mang Danh Ta ra trước mặt các dân ngoại. Và Hananya đã ra đi làm theo lệnh Chúa, vì ông hiểu Phaolô đã được đặc cách, như Phêrô và các Tông đồ trước đây.

Phêrô hôm ấy cùng đi theo Chúa với đồng bạn... Cuộc truyền giáo của Chúa ở Galilê đã sửa soạn hoàn tất. Ngài sắp phải qua Yuđê để chịu thương khó. Ngài ý thức mọi sự và mọi việc. Ðể đánh dấu khúc quanh lịch sử quan trọng này, Chúa Yêsu đột xuất qua hỏi môn đệ: Người ta nói Con Người là ai? Ngài muốn đo kết quả của 3 năm truyền giáo. Ngài muốn biết môn đệ đã hiểu Ngài đến mức nào?

Người thì bảo Ngài là Yoan Tẩy giả; kẻ lại nói Ngài là Êlya; nhiều người khác nữa thì tưởng Ngài là Yêrêmya hay một tiên tri nào đó. Như vậy chung chung thiên hạ đã lờ mờ nghĩ rằng Ngài là Thiên sai cứu thế vì dư luận Dothái thời đó cho rằng các vị tiên tri như thế sẽ trở lại trong thời Ðấng Thiên sai và có thể một trong những vị đó sẽ chính là Ðấng muôn dân trông đợi. Ở đây chúng ta chỉ chú ý điều này: một mình sách Tin Mừng Matthêô nhắc đến tên tiên tri Yêrêmya, có lẽ muốn ngầm nói rằng: Ðấng Thiên sai sẽ đau khổ và bị bắt bớ như nhà Tiên tri đã có cuộc đời gian nan khổ sở, mà Chúa nhật XII Thường niên chúng ta đã nghe nói. Dù sao phần đông người ta vẫn chưa dám khẳng định dứt khoát Ðức Yêsu Kitô là ai.

Còn chính các môn đệ?

Chúa đã hỏi thẳng các ông. Chưa ai dám lên tiếng thưa, thì Phêrô đã nói: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chắc chắn mọi người đã phải giật mình. Chính Chúa Yêsu cũng thấy rõ không phải xác thịt đã nói lên được điều đó. Con người tự nhiên không thể biết được như vậy. Quả là Cha trên trời đã mạc khải cho Phêrô, đã nói qua miệng lưỡi người Tông đồ này. Vì lời tuyên xưng kia thật là chính xác, là chính sự thật, vượt quá mọi hiểu biết và suy tư của con người. Chỉ có Cha trên trời biết Con, thế mà cho đến nay Người chưa mạc khải ra. Ðúng hơn, Người đã có lần công bố Yêsu Kitô là Con Chí Ái, nhưng Thánh Thần chưa được ban xuống cho loài người thì làm sao ai hiểu được điều đó. Thế mà miệng lưỡi của Phêrô vừa nói lên niềm tin chính xác mà chỉ sau này, khi đã được tràn đầy Thánh Thần, Hội Thánh mới có thể tuyên xưng.

Như vậy Phêrô đã được ơn mạc khải đặc biệt. Chúa Cha đã tỏ ra đặc cách Phêrô. Thế thì luôn luôn thi hành Thánh ý Người, Ðức Yêsu liền tuyên bố sẽ chọn Phêrô làm nền tảng để xây Hội Thánh của Người. Và quả thật tên của Phêrô như đã được tiền định vì Phêrô trong tiếng Dothái có nghĩa là Ðá. Vậy Phêrô sẽ là đá tảng xây nên Hội Thánh. Và Ðá này sẽ được củng cố để ngay sức mạnh hỏa ngục dấy lên cũng không lung lay nổi. Nhưng không phải để Phêrô đè đầu thiên hạ; Hội Thánh của Ðức Kitô là để cứu thế. Và cứu thế, trước hết là tha tội. Thế nên Ðức Kitô lại tiếp: Ta sẽ ban cho con chìa khóa Nước Trời để con đóng mở cho người ta ra vào.

Chúng ta mừng cho Phêrô đã được những vinh dự như vậy. Ðó là những ơn hoàn toàn nhưng không mà Thiên Chúa đã ban cho người, vì hạnh phúc của tất cả chúng ta. Sự lựa chọn hoàn toàn chỉ vì tình thương. Cũng như sau này, đang khi Phaolô hung hăng phi ngựa trên con đường Ðama để bắt đạo, Ðức Kitô đã từ trời cao phán gọi người, khiến người tức khắc ngã quỵ để rồi khi ngẩng lên, đã trở thành vị Tông đồ dân ngoại.

Nhiều người đã muốn thử giải thích vì những lý do tâm lý, xã hội và tôn giáo nào đã khiến hai thánh Tông đồ được lựa chọn một cách đột xuất, và được trao phó những sứ mạng cao cả như vậy? Nhưng chẳng có câu trả lời nào thỏa đáng, ngoại trừ công nhận chính mạc khải của lòng nhân nghĩa Chúa.

Do đó, ngày lễ hai thánh Tông đồ, trước hết chúng ta phải tuyên xưng điều ấy: chính Thiên Chúa đã đặc cách hai ngài. Và việc này khiến chúng ta phải hân hoan tạ ơn, bởi vì Hội Thánh chúng ta được xây trên nền tảng của hai ngài, mà hai ngài được Chúa đặc cách như vậy, thì tòa nhà Hội Thánh của chúng ta tốt đẹp, vinh dự và bảo đảm biết bao? Ngôi nhà của chúng ta không những vững bền mà còn đầy phúc, vì nền tảng của nó là hai vị Tông đồ đã được tuyển chọn một cách tuyệt diệu. Chúa Cha và Chúa Yêsu Kitô đã tỏ ra vô vàn ưu ái và rộng rãi, quyền năng đối với nền tảng của tòa nhà Hội Thánh chúng ta. Chúng ta phải hân hoan cảm mến. Và phải tiếp tục xem hai vị Tông đồ ưu tú đó đã thi hành sứ mệnh thế nào.

B/ Các Ngài tiếp tục được Chúa bảo hộ

Bài sách Công vụ cho thấy Lời Chúa nói với Phêrô khi đặt người làm nền tảng Hội Thánh, luôn luôn thực hiện. Phêrô quả thật là Ðá vững vàng trong mọi sóng gió. Hêrôđê bấy giờ bắt đạo. Hành động và thái độ của nhà vua rất đẹp lòng người Dothái. Hêrôđê liền mạnh tay, truyền bắt giam chính Phêrô, thủ lãnh của Hội Thánh mới. Sức mạnh của hỏa ngục rõ ràng mạnh mẽ. Nhưng bài sách nghe đọc hôm nay cho thấy Phêrô bình tĩnh lạ thường. Dường như ông không nhúc nhích. Mặc cho người ta cùm tay trói chân, và đặt lính gác trong ngoài cửa ngục, ông như chìm đắm trong suy nghĩ nhớ đến giáo đoàn và hiệp ý cầu nguyện với tất cả nhiệm thể. Bỗng dưng xiềng xích ở tay chân mở ra. Có người bảo Phêrô mặc áo, thắt lưng và xỏ giầy vào. Rồi bảo ông đi theo. Ông không ngần ngại khoan thai cất bước, chẳng cần tìm hiểu. Hai người tiến bước dễ dàng; đi đến đâu, người vật dường như đều nhường bước. Kể cả cửa sắt có lính canh gác, cũng tự động mở ra mời hai người ra phố. Ðến lúc thần Chúa biến đi, Phêrô mới nhận ra: quả thật Chúa đã giải cứu mình.

Và về sau, khi suy nghĩ lại sự việc, ông mới thấy câu chuyện thật là mầu nhiệm. Ông đã bị bắt vào dịp lễ Bánh không men và cũng đã được giải thoát trong dịp ấy. Chúa Yêsu cũng đã bị nộp, bị giết và được Thiên Chúa cho sống lại vào dịp lễ Bánh không men. Phải chăng sự việc đã chẳng có ngụ ý rằng: đầy tớ không trọng hơn Thầy và đường Thầy đi thì tớ cũng sẽ phải theo. Phêrô phải đi theo đường của Chúa và sẽ đưa Hội Thánh Chúa đi vào. Ðó là con đường bị bắt, bị nộp, bị giết... nhưng sẽ dẫn tới phục sinh vinh quang. Và những người đi trên con đường ấy đều như thể chiên cừu bị đưa đi xén lông mà không hề kêu la. Phêrô trong câu truyện bị bắt hôm nay đã bắt chước Chúa Yêsu, hoàn toàn vâng theo Thánh ý Thiên Chúa. Và nếu chúng ta có đọc lại cuộc đời của Phaolô, chúng ta cũng thấy như vậy.

Những lời đầu tiên trong bài thư hôm nay xác định điều đó. Phaolô thấy mình là "tửu tế đã tiến", tức là cuộc đời mình đã trở thành lễ tế. Ðó là thứ rượu người ta dâng khi thuyền rời bến... Và chính Chúa Yêsu cũng đã nói với Hananya khi sai ông đi gặp Saulô. Ta sẽ tỏ cho nó biết tất cả những gì nó sẽ phải chịu vì Danh Ta. Nên tất cả cuộc đời của Phaolô là chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa. Người đã chạy đến cùng đường... Và nhìn lại người có thể đếm trên con đường ấy: bao nhiêu lần đắm tàu, nhịn đói, chịu khát, bị đánh, bị tù. Sức mạnh của hỏa ngục cũng tung ra mạnh mẽ, nhưng Ơn Chúa vẫn đủ cho Phaolô cũng như cho Phêrô. Ðến nỗi ngày hôm nay, nhắc lại việc tử đạo của hai ngài Hội Thánh hân hoan cử hành một ngày vinh quang.

Quả thật hôm nay chúng ta kính nhớ cuộc chiến vẻ vang của hai thánh Tông đồ. Gian khổ các ngài đã chịu thật là sức mạnh của hỏa ngục. Nhưng Chúa đã bảo hộ các ngài. Các ngài đã đưa con thuyền Giáo hội vượt xa qua bao sóng gió... Con thuyền ấy cứ mỗi ngày một lớn. Và nhìn khắp mặt biển trần gian, không chỗ nào mà ta không thấy nó. Có chỗ nó đang ung dung rẽ sóng. Chỗ khác, nó lại như thuyền của các Tông đồ gặp bão trên mặt hồ Tibêria. Chính trong những trường hợp khó khăn này, khuôn mặt của Phêrô và Phaolô như lại nổi lên, nhắc lại Lời Chúa hứa sẽ ở cùng Hội Thánh mãi mãi và sức mạnh của hỏa ngục sẽ chẳng làm gì được.

Chúng ta hãy lưu ý tỉ mỉ hơn đến điều nhắn nhủ của các ngài.

C/ Các Ngài kêu gọi chúng ta tin tưởng

Ðối với chúng ta, các ngài có một tình yêu thương đặc biệt. Bài thư Phaolô gửi cho Timôthê làm chứng điều ấy. Phêrô chắc chắn cũng đồng ý khuyên nhủ chúng ta như vậy. Vì hôm nay là lễ của hai ngài, Giáo hội nhắc nhớ lại cuộc đời phấn đấu kiên trung và thành quả của các ngài. Sự kiện này nào muốn nói lên gì khác hơn việc kêu gọi chúng ta hãy bắt chước các ngài.

Phaolô nói với Timôthê, tức là với tất cả chúng ta. Chúa đã phù hộ và ban sức mạnh cho người. Chúa sẽ cứu và độ người vào Nước trên trời. Và hoàn lại cho người triều thiên công chính, không phải cho người mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đầy lòng mến yêu trông đợi cuộc hiển linh của Chúa. Nói tắt, hai thánh Tông đồ đã muốn cho chúng ta cũng mến Chúa và tin tưởng phấn đấu cho Chúa.

Vì thế chúng ta phải nhìn lại đời sống các ngài để thấy từ đầu các ngài đã đón nhận ơn Chúa thế nào và đã tiếp tục làm sao để đi đến vinh quang ngày nay. Các ngài đã được Chúa chiếu cố một cách đặc biệt và đã được Người tiếp tục bảo hộ. Có thể nói các ngài chẳng có công trạng nào hết: Phêrô rõ ràng là người không có gì cả; còn Phaolô đã có lần khẳng định mọi điều người có theo xác thịt, thì người đã bỏ đi hết và coi như phân bón để được tình yêu nhưng không của Ðức Yêsu Kitô.

Ðó là thái độ căn bản của Kitô giáo. Người ta phải hủy bỏ con người cũ và mọi sự thuộc về nó để mặc lấy con người mới là Thần trí của Ðức Yêsu Kitô hầu chỉ còn sống cho Thiên Chúa. Khi đó người ta mới là người của Chúa và là lợi khí để Người dùng vào việc xây dựng Nước Trời. Và triều thiên công chính mới để dành cho người ấy.

Chúng ta có nên sợ trở thành những con người như vậy không? Có lẽ nhiều người ngại ngùng khi nghe nói đến thái độ từ bỏ. Nhưng ai có gì lắm mà sợ phải bỏ? Ðàng khác điều quan trọng là từ bỏ con người cũ; chứ từ bỏ những sự vật chất đâu đã là điều khó lắm. Và con người cũ là tinh thần không muốn đón nhận mạc khải của Chúa, không để cho Lời Chúa đi vào tâm hồn và sinh động ở trong đó để dần dần đổi mới chúng ta từ bên trong. Cả Phêrô và Phaolô đều đã bắt đầu đi vào đường lối của Chúa khi đón nhận lời mạc khải. Phêrô đã để Chúa Cha nói lên ở trong mình. Phaolô đã để lời Chúa Yêsu lọt vào tai khiến mình quỵ xuống và trở nên con người mới. Chúng ta phải bắt đầu nên thánh từ thái độ đầu tiên ấy: tức là đón nhận lời mạc khải, đón nhận ơn Chúa vào mình và để cho chính ơn Chúa từ đó làm việc nơi chúng ta.

Giờ đây Chúa cũng đến với chúng ta trong thánh lễ. Mình Máu Thánh Chúa đến tăng cường cho Lời Chúa chúng ta vừa nghe. Ai đón nhận Lời Chúa và Mình Thánh Chúa thật sự, sẽ để Người tiếp tục sống trong mình. Chính Người sẽ hoàn thành công việc của Người nơi chúng ta như nơi hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô. Chúng ta hãy cầu xin hai thánh cho chúng ta biết bắt chước các ngài.

 

 

4. Hai con người

Từ xưa tới nay, Giáo Hội vẫn có thói quen liên kết hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô trong một triều thiên vinh quang. Kinh Tiền Tụng hôm nay đã diễn tả như sau: Thánh Phêrô là vị thủ lãnh trong việc tuyên xưng Đức Kitô. Thánh Phaolô là người bảo vệ lừng danh trong việc tìm hiểu Đức Kitô. Thánh Phêrô thiết lập Hội Thánh tiên khởi cho những người Israel còn lại. Thánh Phaolô là thầy và là đấng dạy dỗ muôn dân được kêu gọi. Và kinh Tiền Tụng đã kết luận: Các ngài đã dùng những đường lối khác nhau mà quy tụ một gia đình cho Chúa. Với lời ca tụng trên đây, Giáo Hội không những đề cao sự hợp nhất giữa hai đường lối khác nhau mà còn ngợi khen sự hợp nhất giữa hai con người có nhiều khác biệt.

Thực vậy, thánh Phêrô vốn bản chất dân chài lưới, trực tính và nghiêng về thực tiễn. Còn thánh Phaolô là người trí thức, hay lý luận và thích đào sâu giáo lý. Thánh Phêrô quan tâm đến việc loan báo Tin Mừng cho người đạo cũ, nên không muốn sửa đổi nhiều những gì vốn có kẻo phật lòng họ. Còn thánh Phaolô nhằm truyền bá đức tin cho các dân ngoại, nên muốn bỏ đi những lề luật của đạo cũ không còn thích hợp, kẻo nặng gánh cho những người dân ngoại xin tòng giáo. Thánh Phêrô là Giáo hoàng, nhưng không vì thế mà áp đặt ý kiến của mình. Thánh Phaolô là Giám mục, nhưng không vì thế mà không thẳng thắn trình bày quan điểm riêng của mình, để trao đổi và bàn luận. Thánh Phêrô là người đã có lần chối Chúa vì yếu đuối và đã ăn năn sám hối do cái nhìn xót thương của Chúa. Còn thánh Phaolô đã có lần bắt bớ đạo Chúa vì lầm lạc và đã trở lại nhờ sự giúp đỡ của một môn đệ Chúa.

Với nhiều khác biệt, hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ đã được liên kết lại để bổ túc cho nhau, làm cho nền móng của Giáo Hội được bền vững. Động lực liên kết các ngài lại với nhau chính là việc mở rộng Nước Chúa. Cái nhìn trên đây giúp chúng ta thêm tin tưởng hơn vào Chúa trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển Giáo Hội. Đúng thế, Giáo Hội là hình ảnh của sự quy tụ hiệp thông và liên kết. Giáo Hội là khí cụ kết hợp với Chúa và với nhân loại. Trong Giáo Hội có yếu tố Thiên Chúa và cũng có yếu tố nhân loại. Có người nhân đức và cũng có kẻ tội lỗi. Có phẩm trật và cũng có thành phần dân Thiên Chúa. Giáo Hội vừa trung thành với truyền thống vừa phải đổi mới cho thích hợp với lịch sử từng thời và từng nơi. Giáo Hội vừa củng cố đức tin cho người có đạo lại vừa truyền bá đức tin cho người ngoại đạo.

Biết liên kết những cái khác nhau trong Giáo Hội và trong nhân loại là một đặc điểm quan trọng của Kitô giáo. Bởi vậy trong giây phút này chúng ta hãy cầu nguyện cho sự hiệp nhất, mặc dù có những khác biệt trong lòng Giáo Hội, nhưng chúng ta vẫn có thể và phải liên kết phải trở nên một hầu ước vọng của Chúa Giêsu sẽ là một sự thật: Xin cho mọi người được hợp nhất trong chúng ta để cho thế gian nhận biết rằng Cha đã sai con.

 

 

5. Một đức tin

Hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta long trọng cử hành lễ trọng kính thánh Phêrô và Phaolô, lễ này cũng là dịp giúp chúng ta chiêm ngắm gương sống đức tin của các Ngài. Các Ngài là hai con người khác nhau, nhưng đón nhận cùng một đức tin từ Thiên Chúa, nhưng các Ngài đã vượt qua và ra đi rao giảng đức tin của mình.

Đức tin được đón nhận

Chúng ta thấy Phêrô và phaolô hai người có hai hoàn cảnh, hai địavị, hai trình độ… hoàn toàn khác nhau nhưng các Ngài cùng đón nhận một đức tin duy nhất đến từ Thiên Chúa. Phêrô là người chài lưới, ông rất hăng say, nhiệt tình và có một tâm hồn nhạy cảm. Ông không ngần ngại, không suy nghĩ đắn đo gì, đã bỏ tất cả mọi sự theo Chúa khi Chúa gọi, điều này cho chúng ta thấy rất rõ Phêrô cảm nghiệm bằng tình yêu nhanh hơn lý trí. Phêrô tin và theo Chúa với tất cả lòng nhiệt thành của mình và niềm tin đó được tuyên xưng cách mạng mẽ rõ ràng: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng này thật chính xác, vượt quá mọi hiểu biết và suy tư con người, đây là lời tuyên xưng về bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu này chính là chỉnh cao trong đời sống niềm tin của Phêrô. Có thể là đại diện cho nhóm mười hai, nhưng đây cũng là lời tuyên xưng cho chính Phêrô. Chúa Giêsu xác định lời tuyên xưng này do Chúa Cha mạc khải nên Phêrô mới biết được: “Anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy Đấng ngự trên trời”.

Với Phaolô, ông là người biệt phái đã từng bách hại môn đệ Chúa, thái độ đó được biểu lộ khi ông đồng tình trong vụ ném đá Stêphanô. Đang khi ông hăng say phi ngựa trên đường Damas để bắt đạo, Phaolô được Chúa Kitô Phục sinh gọi và thanh luyện, một quầng sáng đã bao ttrùm ông, khiến ông bị mù lòa đôi mắt thân xác sau khi ngã ngựa, nhưng đồng thời quầng sáng ấy đã mở cho ông cặp mắt đức tin, ông đã thực sự tin tưởng vào một Đức Giêsu chịu đóng đinh và sống lại, là chính Đấng mà Phaolô đang bắt bớ trở thành Đấng mà “không ai và không gì có thể tách ông ra khỏi lòng mến của Ngài”.

Rõ ràng Phêrô và Phaolô đã đón nhận đức tin trực tiếp từ Đức Giêsu Kitô, còn chúng ta đã đón nhận đức tin gián tiếp qua cha mẹ, Giáo hội …dù khởi đi từ nguồn nào điều đó không quan trọng cho bằng chính thái độ đón nhận của ta, đức tin đo có gắn liền với chích con người mình hay không? Một khi đón nhận cách chân thành, thì chắc chắn chúng ta cũng bị thử thách như Phêrô và Phaolô đã từng bị thử tháh.

Đức tin bị thử thách

Mặc dù Phêrô và phaolô tin Chúa rất mãnh liệt, nhưng đức tin các Ngài cũng không ngừng bị thử thách. Đức tin Phêrô còn phải là nên tảng nâng đỡ đức tin Giáo hội, nên đức tin đó bị thử thách rất nhiều. Phêrô đã từng tin vào Chúa, nhưng mới trước được Chúa khen tặng là đá tảng thì liền sau đó bị Chúa quở trách là Satan hãy lui ra, đã có lần thề hứa “dù phải chết với Thầy con không chối Thầy” mới hứa đó thì liền sau đó ba lần chối Chúa, mới phút trước ung dung bước đi trên ngọn sóng thì phút sau bị chìm vì nghi ngờ. Rỡ rằng là nhiều khi Phêrô nói mà chẳng hiểu mình nói gì, và chính cuộc tử nạn và cái chết của Đức Giêsu là một thử thách có tính quyết định đối với niềm tin của Phêrô. Cuộc đời theo Chúa của Phêrô đã sa ngã biết bao nhiêu lần trước khi trở thành đá tảng vững chắc, trên đó Đức Giêsu Kit xây dựng Hội thánh Người. Phêrô chỉ có thể nâng đỡ Đức tin cho anh em sau khi trở lại từ kinh nghiệm yếu đuối sa ngã của mình.

Và Phaolô cũng bị thử thách “năm lần bị người Do thái đánh 40 roi bớt một, ba lần bị đắm tàu, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, một đêm một ngày lênh đênh trên biển khơi”, ngoài ra ông còn gặp nhiều khó khăn nguy hiểm trong các cuộc hành trình phải chịu đói khát, rét lạnh… cho dù những nguy hiểm ấy ngày đêm cứ bám chặt vây bủa lấy ông thay vì chùng bước, nhưng niềm tin vào Đấng Kitô Phục sinh qua mạnh nên ông coi những việc xảy ra cho ông không quan trọng. Ong chỉ có một mối bận tâm ray rứt là lo cho tất cả Hội Thánh vì lòng yêu mến và nhiệt thành nhà Chúa “tình yêu Chúa Kitô thức bách tôi”. Ông coi sự sống của ông không phải là củ ông mà của đấng đã gọi chọn ông, đến độ ông thốt ra: “Tôi sống nhưng không phải là Tôi sống mà là Đức Kitô sống trong Tôi”.

Khi nhìn lại cuộc sống, chắc chắn ai cũng đã hoặc đang ít nhất một lần trải qua những đau khổ như: nghèo đói, bệnh tật, thất vọng… Trước những nghịch cảnh đó chúng ta có đứng vững hay bị chao đảo nghi ngờ đức tin? Nếu vẫn còn một niềm tin sắc con thì hãy làm chứng đức tin của mình cho người khác như mẫu gương của Phêrô và Phaolô.

Đức tin được rao giảng

Phêrô và phaolô là hai khuôn mặt lớn trong việc rao giảng Tin Mừng. Cuộc đời Phêrô sau khi gặp những thử thách thay vì nhút nhát là một dạ can trường, thay vì chao đảo là một lòng xác tín. Sau khi Thánh Thần hiện xuống ông là người đầu tiên công khai rao giảng Tin Mừng Chúa Cứu Thế cho mọi người, đặc biệt là người Do tháij. Khi Chúa Giêsu đặt ông làm đá tảng Hội Thánh ông đã sống đúng với chức vị của mình, ông làm chứng và rao giảng hết sức hùng hồn về Đức Giêsu Kitô bị giết và đã sống lại từ cõi chết “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, chúng tôi xin làm chứng”.. Phêrô cũng cho thấy chính Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất cho nhân loại, chỉ có nơi Ngài mới có được ơn cứu độ: “dưới gầm trời này có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ đó mà được cứu độ”. Quả thật ông là đá tảng vững vào trong mọi sóng gió, những điều ông rao giảng đã chứng minh bằng cái chết của ông tại Rôma.

Còn Phaolô, sau khi gắn bó với Chúa Kitô một cách mật thiết, ông đã lao mình về phía trước như một vận động viên, và dùng chính sự nhiệt thành của mình đi bất cứ nơi đâu vào bất cứ ngóc ngách nào, bất chấp mọi gian khổ tù đày do quyền bính trần thế gây ra, miễn là từ cánh đồng dân ngoại đem về cho Chúa các linh hồn. Phaolô cũng dùng chính khả năng tri thức của mình để trở nên lợi khí phổ biến Tin Mừng cho những vùng đất mới, coi việc rao giảng Tin Mừng là bổn phận và niềm hạnh phúc của mình: “Vô Phúc cho tôi nêu tôi không rao giảng về Đức Kitô”, ông không hổ thẹn về Tin Mừng bở vì Tin Mừng đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, đến với những người tin.

Ta thấy rõ Phêrô và Phaolô liên kết trong niềm tin, lòng mến Chúa Kitô và Giáo hội, Phaolô luôn hướng về Phêrô như nền tảng cho niềm tin và thế giá Tin Mừng mà ông rao giảng. Nền tảng Pherô cũng là định hước cuộc tiến bước trong đức tin và đảm bảo sự thống nhất dân Chúa trong lòng mến. Điều mà minh chứng hùng hồn nhất đức tin của Phêrô và Phaolô rao giảng đó là việc hai Ngài cùng hội tụ tại Rôma để làm chứng cho Chúa Kitô bằng chính máu đào của mình. Phêrô và Phaolô đã làm thành khuôn mẫu cho việc rao giảng niềm tin cho mọi người.

Còn chúng ta, khi đứng trước một thế giới dường như mất cảm thức về tội, quá nhiều người chưa biết và không tin Chúa, chúng ta có dám sống và giới thiệu một Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại như Phêrô và phaolô không? chúng ta hãy cố lên, can đảm minh chứng đức tin của mình vì chỉ có nơi Đức Giêsu Kitô con người mới được cứu độ.

Sự khác biệt giữa hai cuộc đời, hai quá khứ của Phêrô và phaolô, đã nối thành một, bởi một sởi chỉ vào “Đức tin vào Thiên Chúa”.

Chúng ta mỗi người tuy khác nhau, nhưng có cùng một niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Chúng ta hãy sống liên đới hiệp nhất với nhau, kiên vững trong đức tin, xẵng sàng minh chứng đức tin của mình qua đời sống cụ thể hằng ngày, điều đó chỉ thực hiện được khi mỗi người biết siêng năng cầu nguyện, múc lấy nguồn sức mạnh nơi bí tích Thánh Thể, luôn kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, để lời tuyên xưng của Phêrô trở thanh kinh nghiệm riêng cho mỗi người: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai?”.

 

 

6. Đức tin

Hôm nay, chúng ta mừng kính trọng thể lễ thánh tông đồ Phêrô và Phaolô tông đồ, là hai cột trụ chống đỡ cho tòa nhà Giáo hội. Chúng ta cùng nhau dừng lại suy gẫm về một mẫu gương của hai đấng, để noi theo và bắt chước, như lời thánh Phaolô đã xác quyết:

- Anh em hãy bắt chước chúng tôi, như chúng tôi đã bắt chước Đức Kitô.

Nhờ đó, đời sống chúng ta không tầm thường, không tăm tối, nhưng sẽ xứng đáng hơn với tước hiệu người Kitô hữu, người có Đức Kitô trong tâm hồn, người mang Đức Kitô trong cuộc sống.

Mẫu gương chúng ta chia sẻ giờ đây, đó là đức tincủa các ngài.

Ngay từ đầu thánh Phêrô đã có một đức tin kiên vững. Thực vậy, trước những dư luận trái ngược nhau, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ nghĩ gì về Ngài. Thánh Phêrô đã không ngần ngại trả lời:

- Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.

Lần khác Chúa Giêsu hứa ban thịt máu mình làm của ăn và của uống nuôi sống linh hồn. Người Do thái lấy làm chướng tai, nên đã nói:

- Những lời ấy thật là khó nghe làm sao mà chấp nhận được.

Và rồi họ đã bỏ Chúa mà đi. Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn đệ:

- Cả các con nữa, các con cũng muốn bỏ đi hay sao?

Thánh Phêrô vẫn với sự hăng say thường lệ đã thưa lên:

- Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì chỉ mình Thầy mới có những lời ban sự sống. Chúng con tin và chúng con biết rằng Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa.

Đức tin của Phêrô được đặt cơ sở trên đá tảng vững chắc. Sau này, trong một bức thư ngài đã viết cho các tín hữu như sau:

- Chúng ta không tin vào những chuyện bịa đặt, nhưng tin vào những bằng chứng cụ thể tai nghe mắt thấy, để nhận biết quyền năng của Đức Kitô.

Thực vậy Phêrô đã nhìn thấy Đức Kitô biến hình trên đỉnh Tabor, đã nghe những lời xuất phát từ môi miệng Chúa Cha:

- Này là con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng.

Tự bản chất, Phêrô không phải là một kẻ cứng lòng nhưng Phêrô đòi hỏi phải có những chứng cớ.

Khi những người đàn bà đạo đức trở về và nói Chúa đã sống lại phản ứng đầu tiên và tự nhiên của Phêrô là nghi ngờ. Phêrô muốn xem xét sự việc theo quan niệm riêng của mình và muốn tận mắt được nhìn thấy Chúa…

Thánh Phaolô cũng đã nói theo thánh Phêrô để có một đức tin kiên vững và nhiệt thành.

Sau khi bị quật ngã trên đường Đamas và được Chúa soi sáng. Phaolô đã rao khắp các hội đường Do thái để rao giảng và minh chứng Đức Kitô là con Thiên Chúa, khiến những người Do thái phải ngạc nhiên và nói với nhau:

- Ông ấy chẳng phải là kẻ đã bách hại những người kêu cầu tên Giêsu và đã tới đây để dẫn độ các tín hữu về cho Thầy cả thượng phẩm đó sao?

Ngày càng thêm hăng say, Phaolô đã gặp gỡ những người Do thái tại Đamas và minh chứng cho họ biết Chúa Giêsu chính là đấng thiên sai. Được tiếp nhận ánh sáng tự trời cao, Phaolô đã chiếu tỏa ánh sáng ấy ra chung quanh.

Đức tin chính là vấn đề Phaolô không ngừng nói tới, coi đó là điều kiện để được cứu độ và đòi buộc các tín hữu phải thực hiện liên tục. Phaolô bảo: Người công chính sống bởi đức tin. Phaolô đòi hỏi nơi chúng ta một đức tin sống động và trưởng thành, và chính thánh nhân cũng đã nêu gương trước cho chúng ta: Đức tin đã thấm nhiễm vào suốt cả cuộc đời Phaolô và là động cơ thúc đẩy Phaolô hành động.

Cuối cùng cả hai đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin kiên vững, niềm tin sắt đá của mình. Phêrô đã bị đóng đinh trên ngọn đồi Vatican, còn Phaolô thì bị chém đầu trên đường Ostie.

Giữa những đảo điên của cuộc sống, giữa những quyễn rũ của trần thế, nhờ lời bầu cử của hai thánh Phêrô và Phaolô, chúng ta hãy xin Chúa hãy cũng cố niềm tin nhỏ bé của chúng ta.

 

 

7. Anh Là Tảng Đá

(Trích trong ‘Manna’)

Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, rất khác nhau mà cũng rất giống nhau.

Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình. Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ. Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Ngài còn sống.

Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng. Cả hai đều được Đức Giêsu gọi. Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamát. Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng. Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong một phút giây quá tự tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng.

Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.

Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách nồng nhiệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu.

"Này anh Simon, anh có mến Thầy không?

Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." (Ga 21,16)

Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống, vì Ngài là "Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi." (Gl 2, 20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 35.39)

Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại.

Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40). Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28). "Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu" (Gl 6, 1-7)

Cả hai vị đã chết như Thầy. Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18). Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6).

Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá.

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn biết gì về thánh Phêrô và thánh Phaolô? Có nét nào nơi hai vị thánh làm bạn ưa thích?

Bạn nghĩ gì về Đức Thánh Cha? Bạn biết gì về những hoạt động của Ngài cho giới trẻ?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

 

 

8. Hai cuộc đổi đời – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ. Các ngài là cột trụ của Hội Thánh. Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng toà nhà Hội thánh vững chắc và toả rạng cho khắp năm châu.

 Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh. Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi “ma quỷ cũng không thắng nổi”. Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rầy đây mau đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giêsu.

Hai con người này tuy được sự giáo dục khác nhau, và hấp thụ những văn hoá khác nhau, nhưng họ lại đi chung một đường, và cùng chung một lý tưởng. Cuộc đời các ngài đều phải lội ngược dòng để làm lại cuộc đời, để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với niềm tin của mình.

Thực vậy, nhìn vào đời sống của hai trụ cột của Hội thánh, chúng ta thấy: một Phêrô đã từng sa ngã. Ông đã từng can ngăn không muốn cho Chúa nộp mình chịu chết. Ông đã đi đến tận tùng của sa ngã là hành vi chối Chúa đến ba lần trong cùng một đêm. Một Phaolô đã hăng say lùng bắt các môn đệ của Chúa. Chính ông đã đồng loã với bọn quá khích ném đá vị tử đạo đầu tiên là Stephano. Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu. Tình yêu của Chúa đã thắng vượt những yếu đuối của Phêrô và Phaolô. Chúa đã dùng muôn nghìn cách để đổi đời các ngài. Chúa đã tạo cho các ngài cơ hội để chuộc lại lỗi lầm. Chúa đã nói cùng Phêrô: “một khi con trở lại hãy củng cố đức tin của anh em con”.

Theo Thánh Kinh kể lại: Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô, Ngài biết hết! Phêrô chột dạ. Phêrô nhớ lại lời Thầy: “Nội trong đêm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần”. Tức thì, Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trũi nặng, một cái gì đó đã chết trong ông. Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức. Còn lời nào biện mình cho hành động hèn nhát của ông. Còn đâu lời khẳng khái: “mọi người có bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ”. Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, yếu hèn và rất dễ sa ngã. Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã "đổi mới" tâm hồn Phêrô. Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Còn Phaolô thì sao? sau khi ngã ngựa đớn đau bởi một luồng sáng chói loà. Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày. Nhưng thật ra, tâm hồn ông lại sáng. Ông đang thấy và thấy rất rõ. Đó là Đức Giêsu, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Đó là sự thật mà ông phải chấp nhận. Một sự thật mà từ nay ông phải làm chứng về những điều đã nghe, đã thấy và đã biết.

Vâng, có thể nói, nhờ sự đổi mới cuộc đời của Phêrô và Phaolô mà cả thế giới được đổi mới. Văn hoá ky-tô giáo đã làm mới lại bộ mặt địa cầu. Có thể nói ở đâu đó còn có những người chưa tin vào Chúa nhưng họ đã được thấm nhuần văn hoá Kitô giáo. Ở đâu đó vẫn còn đó những người được đổi mới cuộc đời nhờ vào lời Chúa và sức mạnh của tin mừng. Ở đâu đó vẫn còn đó những tâm hồn thất vọng, lầm than họ đã bừng lên niềm hy vọng nhờ những giá trị tin mừng mà Kitô giáo mang lại cho họ.

Mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mỗi người chúng ta được mời gọi tiếp nối truyền thống của các tông đồ mang tin mừng đến khắp cùng trái đất. Mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động, góp phần xây dựng toà nhà Hội thánh. Dù nhỏ bé, yếu hèn và bất lực, nhưng Chúa sẽ dùng tuỳ theo nhu cầu của Ngài. Chính Ngài sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta bằng ân sủng và tình thương của Ngài, để nhờ đó chúng ta cũng có khả năng đổi mới môi trường chúng ta đang sống. Đồng thời chúng ta hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Đức Thánh Cha, cho các giám mục là những Đấng kế vị thánh Phêrô và các tông đồ. Xin Chúa ban thêm sức mạnh, nghị lực và ơn khôn ngoan, để các ngài luôn là điểm tựa cho niềm tin của chúng ta. Amen.

 

 

9. Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

“Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" (Mt 16,15)

Đó là câu hỏi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ của mình để trắc nghiệm họ về sự hiểu biết của họ về danh tính của chính Chúa Giêsu, khi Ngài đang đồng hành với các ông từ thượng lưu Galilê đi xuống. Hẳn đã nhiều lần người ta đặt cho các môn đệ câu hỏi về Chúa Giêsu, lần này chính Thầy Giêsu hỏi họ về Ngài. Một câu hỏi rất cụ thể được Chúa đặt ra, và chờ họ trả lời. Và đây, Simon Phêrô đã thay mặt cả nhóm thưa: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16). Câu trả lời thật rõ ràng. Ở đây, Đức tin của Giáo Hội phản chiếu một cách trọn vẹn. Chúng ta cũng thế, chúng ta được soi sáng cách đặc biệt do lời tuyên xưng của Phêrô.

Phêrô tuyên xưng "Thầy là Đức Kitô!"

Với lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu trả lời: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16, 17). – Phêrô, con thật có phúc! Hạnh phúc thật, bởi vì sự thật này, là trung tâm đức tin của Giáo Hội, có thể nảy sinh trong tâm thức của con người như công việc của Thiên Chúa. "Không ai biết Con, trừ ra Cha, và không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mặc khải cho" (Mt 11, 27). Câu Tin Mừng giầu ý nghĩa và phong phú này khiến chúng ta suy nghĩ: Ngôi Lời Nhập Thể đã mạc khải Chúa Cha cho các môn đệ của mình, và giờ đây đến lượt Chúa Cha mạc khải cho họ chính Con Một của Ngài. Phêrô chấp nhận sự soi sáng nội tâm và ông can đảm tuyên xưng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống"! Những lời này ở trên môi của Phêrô, nhưng phát xuất từ mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Đó là những lời mạc khải chân lý nội tại, và đời sống của chính Thiên Chúa. Và Phêrô, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đã trở thành một nhân chứng, và là người tuyên xưng chân lý siêu phàm ấy. Lời tuyên xưng của ông là nền tảng đức tin của Giáo Hội "Trên đá này, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta" (x. Mt 16, 18). Dựa vào đức tin và lòng trung thành của Phêrô, Giáo Hội của Chúa Kitô được thiết lập. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ý thức rõ điều ấy, như sách Công Vụ Tông Đồ đã viết, khi Phêrô bị giam trong ngục. Và Hội Thánh khẩn thiết dâng lời khẩn nguyện lên cùng Thiên Chúa cho ông (x. Cv 12: 5). Giáo hội đã được nghe, vì sự hiện diện của Phêrô vẫn cần thiết cho cộng đoàn trong những giai đoạn đầu của Hội Thánh: Chúa đã sai thiên thần của Người đến mà giải thoát họ khỏi tay những người bách hại (x.12, 7-11.). Điều này đã được viết trong ý định của Thiên Chúa mà Phêrô, sau khi thừa nhận với anh em mình trong đức tin, đau khổ tử vì đạo ở Rôma, cùng với Thánh Phaolô, vị Tông Đồ dân ngoại, cũng thoát chết nhiều lần.

"Nhưng Chúa đã phù hộ tôi và ban sức mạnh cho tôi, để dùng tôi hoàn thành công việc rao giảng, và cho mọi dân tộc được nghe biết. Và tôi đã thoát khỏi miệng sư tử" (2 Tim 4, 17). Đó là những lời của Phaolô người môn đệ trung thành. Những lời này làm chứng cho việc được thành toàn nơi ông nhờ ơn Chúa, Đấng đã chọn ông cho sứ vụ loang báo Tin Mừng. Đấng đã, "chọn ông" trên đường đi Damas (x. Pl 3, 12). Được bao phủ trong ánh sáng chói lòa con mắt, Chúa đã hiện ra với ông và nói rằng: "Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta? "(Cv 9,4), một sức mạnh diệu kỳ quật ngã ông xuống đất (x. Cv 9,5). Saul hỏi: "Thưa Ngài, Ngài là ai? Chúa Giêsu trả lời "Ta là Giêsu, ngươi đang bắt bớ"! (Cv 9, 5). Có phải câu trả lời của Chúa Kitô hàm ý Saul đang bách hại những người theo Chúa Giêsu và Chúa Giêsu báo cho ông biết rằng, chính bản thân ông cũng đang bị họ bách hại lại. Chúa Giêsu thành Nazareth, Đấng chịu đóng đinh, Đấng mà các Kitô hữu loan truyền. Ngài đã phục sinh. Nếu bây giờ, Saul cảm thấy sự hiện diện mạnh mẽ, rõ ràng rằng Thiên Chúa đã thực sự sống lại từ cõi chết. Ngài chính là Đấng Mê-sia, Đấng dân Israel trông đợi, đó là Chúa Kitô hằng sống, đang hiện diện trong Giáo Hội và thế giới!

Với lý lẽ trên, liệu Saul có thể hiểu tất cả những gì hàm chứa trong một biến cố như vậy không? Chắc là không! Đúng thế, vì đó chỉ là một phần trong những ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Thiên Chúa Cha sẽ trao ban cho Phaolô ơn hiểu biết mầu nhiệm cứu chuộc, do Đức Kitô thực hiện. Chính Ngài sẽ làm cho Phaolô hiểu được thực tại tuyệt vời của Giáo Hội, để Phaolô sống cho Chúa Kitô, với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Còn Phaolô, khi tham dự vào thực tại này, ông sẽ không ngừng loan truyền cách không mệt mỏi cho đến tận cùng của trái đất. Từ Damas, Phaolô bắt đầu cuộc hành trình tông đồ của mình, hành trình ấy sẽ dẫn Phaolô mang Tin Mừng cho mọi quốc gia trên thế giới, đến những nơi mà ông được kêu gọi. Lòng nhiệt thành truyền giáo của Phaolô sẽ giúp ngài thực hiện được nhiệm vụ mà Chúa Kitô ủy thác cho các Tông Đồ: "Vậy anh em hãy đi, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy" (Mt 28, 19).

Sự hiệp nhất tròn đầy của Giáo Hội!

Giáo hội mang trong mình sứ mạng do Chúa Kitô ủy thác. Đây là sứ mạng cần thiết ở thời đại này. Chúng ta hãy cầu nguyện cho hiệp nhất và những tiến trình cho hiệp nhất, đừng bao giờ chán nản, hay thất vọng.

Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta sớm đạt được sự hiệp thông trọn vẹn nơi tất cả những người tin vào Chúa Kitô. Hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô đã cho chúng ta ơn đó, Giáo Hội nhắc lại cho chúng ta trong ngày này, nhờ sự kính nhớ cái chết tử đạo, ngày sinh ra vào đời sống mới trong Chúa của các ngài. Vì Tin Mừng, các ngài đã chấp nhận chịu đau khổ, chịu chết và các ngài đã được tham dự vào sự phục sinh của Chúa. Đức tin mà các ngài minh chứng bằng cái chết tử đạo của chính mình, là đức tin giống như Đức Maria, Mẹ của những người tin, Mẹ của các thánh Tông Đồ, và các thánh nam nữ trong mọi thời đại. Ngày nay, Giáo Hội tuyên xưng đức tin ấy. Đức tin của chúng ta, đức tin vững vàng của Giáo Hội tin vào Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Người là Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta và toàn thế giới.

 

 

10. Hai chứng nhân lịch sử tử đạo: Phêrô và Phaolô _ Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Ngày 29 tháng 6, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cùng lúc tôn kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các ngài là hai cột trụ của Giáo hội phổ quát Chúa Kitô, và theo Truyền Thống, Giáo hội không bao giờ mừng vị này mà bỏ vị kia, nhưng luôn mừng kính và biết ơn đối với hai chứng nhân vĩ đại của Chúa Kitô, vừa đồng thời là một lời tuyên xưng long trọng về một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền. Thánh Phêrô có tên gốc là Simon, làm ngư phủ người Galilê, sống ở Capharnaum bên hồ Tibêria. Thánh Phaolô có tên là Saolê, người Do thái lưu vong, sinh tại Tarsô miền Tiểu Á bởi cha mẹ là người thế giá, có quyền công dân Rôma. Cuộc đời của hai ông bị đảo lộn từ khi gặp Đức Kitô, họ đã bỏ mọi sự đi theo Chúa. Phêrô bị bắt và được cứu cách lạ lùng: “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Do thái mong muốn tôi phải chịu”. (Cv 12,11).

Thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, con người say mê Chúa Ki-tô, đã xứng đáng nghe lời này: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16,18). Trên tảng đá này, Chúa sẽ xây dựng đức tin mà Phêrô tuyên xưng. Phêrô lấy từ “tảng đá”, chứ không phải tảng đá lấy từ Phêrô. Thánh Phaolô là “dụng cụ ưu tuyển” để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc. Thánh Phêrô, người đánh cá miền Galilêa, ít học, đã lập gia đình, theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ, là người sau khi đã vượt qua những ngày đen tối của cuộc Thương Khó của Chúa, sẽ có trách nhiệm củng cố anh em trong đức tin và chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô (x. Mt 16, 13-19). Còn thánh Phaolô là người Pharisêu sốt sắng, có nhiều điều để tự hào, về gia thế, học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Người còn sống. Nhưng ông gặp Đức Kitô Phục Sinh với biến cố ngã ngựa trên đường Damas, Phaolô trở nên tông đồ của ơn cứu rỗi đến từ đức tin. (x. Cv 9, 1-22)

Cả hai đều được Đức Giêsu gọi, Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được chính Đức Giêsu Phục sinh gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamas, đang làm tông đồ không biết mỏi mệt của dân ngoại (x. Cv 9, 1-22). Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Người. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.

Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong phút giây quá tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng. Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.

Chúa Giêsu đã chọn một số môn đệ mà Người gọi là Tông Đồ. Trong số các ngài, hầu như bất cứ nơi đâu, chỉ một mình ông Phêrô là xứng đáng đại diện cho toàn thể Hội Thánh. Chính vì là đại diện duy nhất của toàn thể Hội Thánh, nên ông xứng đáng được nghe Chúa nói: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời” (Mt 16,19). Không phải một cá nhân, nhưng cả Hội Thánh duy nhất đã lãnh nhận chìa khoá này.

Chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng dẫn đưa Phêrô tới Roma, nơi đây ngài đổ máu như chứng tá sau cùng và cao cả nhất của đức tin và của lòng mến đối với Thầy chí Thánh “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Mt 16,17). Như vậy ngài đã chu toàn sứ mệnh trở nên dấu hiệu của lòng trung thành với Chúa Kitô và của sự hiệp nhất tất cả Dân Chúa.

Phần Phaolô, trong hành trình truyền giáo, ngài không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đanh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay rằng: “Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến”. (2Tm 4, 17-18)

Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách mãnh liệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Người yêu mến. “Này anh Simon, anh có mến Thầy không? Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,16). Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống, vì Người là “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: “Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô” (Rm 8, 35.39)

Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại. Cả hai vị Tông Đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40), còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28); “Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu” (Gl 6, 1-7).

Cả hai vị thánh đã chết như Thầy, đã lấy máu mình mà làm chứng: thánh Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18), chịu đóng đinh chết; thánh Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, bị chém đầu; đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6). Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticano; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.

Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá. Với lòng ngưỡng mộ biết ơn các ngài, chúng ta quyết một lòng trung thành với đức tin đã lãnh nhận.

Lạy Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, xin cầu cho chúng con. Amen.

 

 

11. Đứng dậy nhờ ơn Chúa – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Trong buổi trò chuyện, diễn thuyết tối 22/05 tại White Palace (Tp. HCM), Nick Vujicic đã cho mọi người thấy rằng, người bị khuyết tật nghĩa là họ khiếm khuyết điều gì đó, nhưng người mang nỗi tự ti mới là người bị khuyết tật thực sự.

Nick đã nói: “Dù ai đó không phải ngồi trên xe lăn nhưng bạn vẫn phải trải qua những thời điểm khó khăn trong cuộc sống. Nếu lúc đó bạn thiếu tự tin, bạn sợ thất bại, sợ nhìn về tương lai thì chính điều đó sẽ níu kéo bạn, khiến bạn không thể tiến lên”.

Nick còn nói thêm: “Khi tôi 10 tuổi, tôi gần như muốn buông xuôi, tôi muốn đầu hàng và nghĩ không bao giờ có công việc, có thể cưới vợ, lập gia đình. Nhưng bây giờ tôi không chỉ lấy vợ, lập gia đình mà còn có đứa con trai.

Chúng ta sẽ không biết được sự khó khăn diễn ra như thế nào nếu không tạo cho bản thân cơ hội để vượt qua nó. Đừng bao giờ từ bỏ khi bạn gặp thất bại hay khó khăn”.

Quả thực, con người luôn có những khuyết tật. Có người bị khuyết tật điều này, người điều kia. Không ai hoàn hảo về thể xác hay về tâm hồn. Tuy nhiên, có người biết bổ túc cho khuyết tật của mình bằng nghị lực, bằng phấn đấu, bằng niềm tin vươn lên. Nhưng cũng có người buông xuôi, than trách cho số phận và để mặc cho dòng đời đưa đẩy.

Nick không phải là một thiên tài. Nick là một nhân vật điển hình cho bao người biết phấn đấu vươn lên để bổ túc cho khuyết tật của mình. Anh không có chân tay nhưng anh vẫn lạc quan phấn đấu vươn lên, nhất là biết dùng môi miệng mình để diễn thuyết, để rao giảng về Thiên Chúa. Anh không buông xuôi theo số phận nhưng biết tận dụng khả năng giới hạn của mình để có thể phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Anh đã rao giảng về Chúa ở quê hương anh. Anh đã rao giảng vượt qua biên giới để đến nhiều vùng đất xa xôi. Anh đã đến Việt Nam và đã tuyên xưng mình tin vào Thiên Chúa, tin vào thiên đàng và đó là lẽ sống cuộc đời anh, là lý do anh sống và vươn lên.

Thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng từng có những khuyết tật trong cuộc đời của các ngài. Phêrô yếu đuối, nhút nhát. Phaolô kiêu căng, thẳng thắn. Vì tấm lòng khuyết tật nên Phêrô từng chối Chúa ba lần. Còn Phaolô thì lao vào việc truy sát người tin vào Chúa Giêsu phục sinh để bách hại và giết chết. Thế nhưng, cả hai đã nhận ra sự khuyết tật của mình để phấn đấu, để vươn lên. Nhất là biết cậy vào ơn Chúa mà kiện toàn con người mình và phụng sự Thiên Chúa. Phêrô đã từng cảm nghiệm “Ơn Ta đủ cho ngươi và quyền năng Ta hiển trị trên sự yếu hèn của ngươi”. Phaolô thì trông cậy vào sức mạnh của Chúa mà ông đã đi đến cùng sự bách hại, gian truân, đói rét, tù đầy nhưng vẫn giữ vững đức tin. Cả hai đã nhờ ơn Chúa mà bù đắp những khuyết tật của mình để hoàn thiện con người mình theo như lòng Chúa mong ước.

Hôm nay mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, trước hết chúng ta cảm tạ Chúa đã cho chúng ta hai tấm gương biết sám hối và canh tân. Các Ngài không chết trong tội như Giuđa nhưng đã đứng lên để làm lại cuộc đời. Các Ngài đã ý thức sự yếu đuối bất toàn của mình để cần đến ân sủng của Chúa. Các ngài đã biết nương tựa vào ơn Chúa để thắng vượt những giới hạn của bản thân. Và trên hết chính là tấm gương rao giảng tin mừng không mệt mỏi, không chùn bước trước nghi nan. Cho dẫu dòng đời có những sóng gió nguy nan. Cho dẫu đường trần có lắm gian truân, các ngài vẫn kiên trung cho đến cùng lòng trung thành với Chúa. Các ngài luôn ý thức rằng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta”, thế nên: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Nước trời”.

Xin cho chúng ta luôn ý thức thân phận yếu đuối của mình để nhận ra tình thương tha thứ của Chúa vẫn dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta biết nương tựa vào ân sủng của Chúa để kiện toàn mình mỗi ngày một tốt hơn. Và xin cho chúng ta biết chuyên tâm lắng nghe lời Chúa và nói về Chúa cho tha nhân. Amen.

 

 

12. "ST" nghĩa là sự thánh thiện _ Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Người ta kể rằng: tại một vùng miền quê nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói khổ, nghèo nàn đã trở thành kẻ "bần cùng sinh đạo tặc". Họ rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc lên trán tội nhân hai mẫu tự "ST", có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt từ chữ stealer).

Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống để mong chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng, anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ "ST" đáng nguyền rủa này.

Còn người em, anh tự nói với bản thân mình: "Tôi cần phải lấy lại lòng tin của những người xung quanh và của chính tôi". Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Anh lao động bằng đôi tay của mình. Anh dành một phần hoa lợi để giúp đỡ người nghèo. Anh sống chan hoà tình yêu thương với mọi cư dân trong vùng. Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự "ST" vẫn còn in dấu trên vầng trán anh. Nhưng chẳng mấy ai để ý đến ý nghĩa hai chữ ST trên vầng trán của anh.

Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ một hồi rồi trả lời: "Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là người thánh thiện (saint)".

Hôm nay lễ kính thánh Phêrô và Phaolô, các ngài trở thành thánh nhân cao cả là nhờ biết khép lại quá khứ để chỉ lo tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong hiện tại và suốt cuộc đời. Các ngài cũng có một quá khứ lầm lỗi, một quá khứ tưởng chừng như đã làm cho hai ngài suốt đời sống trong ân hận và tủi nhục. Phêrô đã có lần bị Chúa quở là satan. Lầm lỗi lớn nhất trong cuộc đời ông là ba lần chối mình không phải là môn đệ của Thầy Giêsu. Phaolô đã năm lần bảy lượt đi lùng bắt và giết chết những ai mang danh kytô hữu. Chính Phaolô đã can dự vào việc ném đá Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội. Nhưng mẫu số chung của hai ông chính là biết đứng lên sau những lần vấp ngã và chuộc lại lỗi lầm bằng cuộc sống đổi mới con người theo như lòng Chúa mong ước.

Thực vậy, sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: "Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vẫn hay sao?". Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya đã giúp lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: "trước khi gà gáy con đã chối Ta ba lần". Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, một cái gì đó đã chết trong ông. Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức. Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, yếu hèn và rất dễ sa ngã. Mới hôm qua ông còn tuyên bố rằng: "dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ". Thế mà, miệng gan hùm đã không còn khi đối diện trước nguy nan. Ông đã hèn nhát chối Thầy đến ba lần. Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã "đổi mới" tâm hồn Phêrô. Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Phaolô, sau lần ngã ngựa đớn đau bởi một luồng sáng chói loà hôm ấy. Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày. Con mắt thể xác ông bị đóng lại, nhưng con mắt tâm hồn ông lại được sáng tỏ. Ông đã thấy Giêsu, người mà ông tưởng đã chết, thế mà, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Người đang nói với ông: "Ta là Giêsu mà ngươi đang tìm giết". Bao lâu nay ông không tin có sự sống lại. Ông đang hăm hở tiêu diệt những ai loan báo về sự sống lại của một tử tội Giêsu. Giờ đây, ông đã tin. Sự sống của Chúa Phục sinh đã làm thay đổi cuộc đời của ông. Và kể từ nay, ông đã trở thành một tông đồ ra đi đổi mới cả thế giới.

Cuộc đời của mỗi người chúng ta đôi khi cũng có những yếu đuối, có những bước đi bị vấp té bởi cạm bẫy của tham sân si. Vì thế, có ai đó đã từng nói rằng: "lầm lỗi là của con người", nhưng đứng lên làm lại cuộc đời đó là của "thánh nhân". Thánh Phêrô và thánh Phaolô đã nhìn quá khứ như một hồng ân của Thiên Chúa dành cho các ngài. Chúa không trách phạt các ngài mà còn tin tưởng trao phó sứ mạng mở mang nước Chúa đến tận cùng trái đất. Với ơn trời cao cả đó, thánh Phaolô đã từng thốt lên: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng tin mừng". Còn thánh Phêrô thì không còn sợ cường quyền ức hiệp, ngài đã mạnh dạn nói rằng: "phải nghe lời Thiên Chúa hơn là lời của con người". Và hôm nay, Chúa vẫn không trách phạt chúng ta theo như chúng ta đáng tội, Ngài vẫn khoan dung tha thứ và hằng mời gọi chúng ta hãy làm lại cuộc đời, hãy dùng ơn Chúa để hoàn thiện mình và nhất là hãy nói về tình yêu Chúa cho anh em, cho bạn bè, cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ thân quen.

Ước gì cuộc đời các ngài soi sáng cho cuộc đời chúng ta để chúng ta không bao giờ thất vọng về lỗi lầm của mình, nhưng qua những yếu đuối bản thân, chúng ta càng nhận ra tình thương bao la của Chúa và cũng biết noi gương các ngài trở thành chứng nhân cho tình yêu Chúa giữa thế gian. Amen.

 

 

13. Phêrô Tông đồ

Ông là người được nhắc đến nhiều nhất ở trong Tin Mừng. Trong bảng danh sách các Tông Đồ ông là người đứng đầu.

Người ta thường nghĩ rằng Phêrô là một con người nhiều khuyết điểm nhất. Điều đó không hoàn toàn sai bởi vì ông đã có nhiều hàng động hăng hái nhất và cũng có nhiều hành động sai lầm nhất. Nhiều người nhìn ông như một con người bốc đồng. Nhưng nếu xét cho kỹ chúng ta thấy ông là một con người nổi bật nhất, sáng chói nhất và có nhiều khả năng nhất.

A-Ngay từ trước khi gặp Chúa ông đã là nhà lãnh đạo trong công cuộc chài lưới. Ông ra lệnh cho mọi người. Và khi thành tông đồ ông là người nổi bật nhất trong Tân Ước.

Một cách tổng quát người ta thấy ông là người luôn mở miệng đầu tiên và hành động trước nhất. Ông nóng bỏng, hăng say, cực đoan, hướng ngoại. Đó là những điều mà người ta có thể thấy rất rõ nơi ông. Nhưng có một điều mà người ta khó thấy đó là sự khiêm nhường của ông. Chính lòng khiêm nhường này đã làm cho ông trở thành một vị thánh lớn. Ông không xử dụng khả năng để tìm lợi lộc cho mình. Chính ông ông cũng biết rằng ông còn nhiều thiếu xót. Điều này đã hiện rõ ngay trong lần đầu tiên chúng ta gặp ông.

Chúng ta gặp ông lần đầu tiên trong Tin Mừng của Luca 5,4-6. Hôm đó ông cùng bạn bè vừa đi chài lưới về. Suốt một đêm họ không được gì cả. Họ mệt mỏi, rã rời, chán nản. Hôm đó Chúa đến giảng ở bên bờ hồ Giênêgiareth. Giảng xong Ngài bảo Simon: " Ra khơi mà thả lưới bắt cá" Dĩ nhiên là Simon Phêrô phản kháng: "Thưa Thầy, suốt một đêm chúng tôi vất vả mà không được gì (Rồi ông đổi ý) nhưng nếu Thầy bảo thì tôi thả" (Lc 5,4-6).

Sau một đêm thất bại, họ lại đi thả lưới và bắt được một mẻ cá thật lớn, lớn đến độ suýt nữa thì rách cả lưới.

Tất cả mọi người đều xúc động. Thế nhưng chỉ có một mình Phêrô chạy đến quí mọp ở dưới chân của Chúa và thưa với Ngài:"Lạy Ngài, xin hãy tránh xa con vì con là một người tội lỗi" (Lc 5,8).

Ông không chịu nổi sự hiện diện của Chúa. Ông cản thấy mình nhỏ bé, thấp hèn, bất xứng.

Chúa nhìn thấy thật rõ lòng khiêm nhường thật chân thành của ông và Ngài đã biến ông thành thuyền trưởng trên con thuyền chài lưới mới: "Đừng sợ. Từ nay con sẽ là kẻ chài lưới bắt người"

B-Rồi một đêm kia, Phêrô cùng với các môn đệ đang lênh đênh trên biển. Hôm đó lại sóng to gió lớn. Bỗng dưng họ thấy một bóng người đang từ từ tiến đến. Tất cả mọi người đều hoảng sợ. Họ có cảm tưởng là họ thấy "ma". Phêrô cũng hoảng sợ nhưng khi thấy "bóng ma" lên tiếng: "Thầy đây đừng sợ" (Mt 14,27-30) thì ông bốc đồng dám nghĩ rằng ông cũng có thể làm được điều Thầy làm cho nên ông thưa với người vừa lên tiếng: "Thưa thầy, nếu quả thực là Thầy thì xin truyền cho con được đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy"

Chúa nói: "Hãy đến đây"

Và Phêrô bước xuống khỏi thuyền, không cần suy nghĩ và ông bước đi, đi trên mặt nước mà cứ như đi trên dất liền. Nhưng rồi bất chợt ông nghĩ đến truyện ông đang làm. Thật là lạ đời, chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe. Thật là không hợp lý tí nào và bỗng ông đâm sợ. Ông bắt đầu bị lún xuống: "Thưa Thầy, xin thầy cứu con với"

Chúa Giêsu đến đỡ ông và đưa ông về thuyền. Rõ ràng là ông đã tin tưởng trước hết và rồi ông cũng lại sa ngã trước hết.

C-Lần khác Chúa muốn hỏi các môn đệ của Ngài xem sau gần 3 năm trời sống với Chúa, được thấy những việc Chúa làm các ông nghĩ gì về Ngài: "Còn các con, các con nghĩ Thầy là ai?" (Mt 16,15-23). Phêrô mở miệng trả lời ngay, không một chút do dự: "Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống"

Chúa Giêsu cho mọi người biết rằng câu nói đó không phải là từ con người của Phêrô nhưng là từ Thiên Chúa mà ra: " Không phải máu thịt đã mạc khải cho con nhưng là Cha Thầy, đấng ngự trên trời" Rồi Ngài thêm:" Con là Phêrô, là Đá trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và quyền lực của âm phủ sẽ không tắng nổi"(Mt 16,18).

Ngài vừa tuyên bố cho ông biết ông là Đá thì ngay sau đó tảng đá lại nát ra thành cát liền.

Chúa Giêsu nói cho các môn đệ biết về sự thương khó của Ngài. Ngài sẽ phải đau khổ và phải chết. Phêrô không muốn tin điều đó. Ông đã lên tiếng cả ngăn:"Thưa Thầy chuyện ấy đâu lại xẩy ra với Thầy được"

Và Chúa đã phải nặng lời với ông:" Xéo ra đàng sau ta! Đồ satan. Ngươi là cớ cho ta vấp phạm. Vì ý tưởng của ngươi không phải là của Thiên Chúa mà là của loài người" (Mt 16,21-23).

Con người Phêrô là như thế. Vài phút trước ông được Chúa đưa ông lên đến trời. Còn vài phút sau ông biến thành dụng cụ của Satan. Ông đã sa ngã biết bao nhiêu lần trước khi trở nên đá tảng rắn chắc.

D-Sau ba năm trời theo Chúa ông tự nghĩ rằng giờ đây mình đã có thể tự hào về sự vững chắc

Ông có thể mang tên Đá mà không mắc cở.

Ông cảm thấy mạnh mẽ vững vàng trong đức tin.

Bây giở không có gì có thể lay chuyển được ông. Ông xứng đáng là thủ lãnh trong nhóm tông đồ.

Chính vì thế mà ông cảm thấy tự ái khi Chúa dùng lời Kinh Thánh mà cảnh cáo các ông:"Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì ta như đã có lời viết: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên và đàn chiên sẽ tán loạn" (Mt 14, 27-31).

Phêrô đáp lại như một lời thách thức:"Dù cho mọi người có vấp ngã đi nữa nhưng con thì không bao giờ".

Ông quả quyết với Chúa như vậy, Ông sẽ không chối Chúa. Và dù cho có chuyện gì xẩy ra, Ông cũng sẽ không đào ngũ.

Ông vừa nói dứt lời thì Chúa quay về phía ông và nói:"Thầy bảo con, chính con hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần con đã chối Thầy 3 lần".

Câu nói dịu dàng nhưng chắc như bắp của Chúa làm cho Phêrô bực tức. Ông quả quyết lại một lần nữa:"Dù có phải cùng chết với Thầy con cũng sẽ không chối Thầy".

Viên đá này quyết sẽ không bao giờ sụp đổ.

Thế nhưng chuyện gì xẩy ra trong đêm hôm ấy mọi người chúng ta vẫn còn nhớ. Đêm hôm ấy không ai bắt ông phải chết với Chúa. Đêm hôm ấy không một quyền bính nào trao hỏi. Chỉ có mấy người đầy tớ của vị thượng tế, hai nữ một nam. hỏi chuyện một cách bâng quơ.

Họ nói:"Người này cũng ở trong nhóm"

Thế là ba lần ông chối. Ông thề bán mạng:"Tôi không biết người đó"

Ôi đá tảng! Ôi Phêrô! Ông đã thề sống thề chết. Ông đã quả quyết sẽ không bao giờ chối bỏ Ngài…

Thế mà bây giờ…???

Rồi gà gáy, rồi ông nhớ lại lời của Thầy."Trước khi gà gáy hai lần…"

Đúng lúc ấy (Luca nói thật rõ):"Ngay lúc ấy khi ông còn đang nói, thì gà liền gáy và Chúa quay lại nhìn Phêrô" (Lc 22,60).

Chúa Giêsu xuất hiện với tiếng gà gáy. Những lời nhắn nhủ của Chúa tràn về ký ức của ông.

Rồi ngay lúc ấy trên cầu thang Chúa bị xỉ vả, bị đánh đòn nhưng Ngài biết Phêrô đang ở phía dưới. Ngài nhìn xuống. Ánh mắt của Chúa dừng lại trên Phêrô. Phêrô nhìn lên. Thế là hai cặp mắt gặp nhau. Phêrô hiểu ngay, không cần phải suy nghĩ. Ngài đã biết tất cả. Phêrô không chịu đựng nổi nữa. Ông cắn chặt đôi môi. Nước mắt ông rào ra. Ông chạy ra khỏi pháp đình, ra khỏi cổng, đi cho khuất mắt hết mọi người.

Tâm hồn ông nặng chĩu. Cảm xúc ông dâng trào. Ông cảm thấy mình bị bể vụn ra như thanh gỗ mục. Đá bây giờ đã thành cát.

Đêm hôm ấy một biến cố thật lớn đã xảy ra với Phêrô. Một biến cố thật trọng đại. Một biến cố khiến ông thay đổi. Một biến cố khiến ông trở lại nếu chúng ta có thể nói như thế.

Đúng là một cái gì đó đã chết đi trong ông.

Vâng đã chết rồi niềm tự cao, tự mãn.

niềm tự tin quá mức

sự lên mặt vênh váo

một sức mạnh tưởng chừng như to lớn mà ông tự gán cho mình.

Ông ngỡ mình là đá không gì lay chuyển được. Ai ngờ ông chỉ là cát bụi.Thật là mỉa mai, thật là khôi hài. Bây giờ ông mới nhận ra điều đó. Ông tự cảm thấy xấu hổ với chính mình. Ông ăn không ngon, ngủ không yên. Lương tâm ông gậm nhấm lỗi lầm của ông. Ông tự hỏi không biết Chúa có tha thứ cho ông không? Ông nhớ lại đã có lần Chúa dạy phải tha thứ không đến bảy lần mà phải đến bảy mươi lần bảy.

Thế rồi đùng một cái ông nghe tin xác của Chúa không còn trong mộ. Ông vội chạy ra ngôi mộ trống cùng với Gioan.

Rồi người ta nói với ông.

Rồi Chúa hiện ra với các tông đồ. Ông chỉ biết đứng đó. Trước kia ông nông nổi, ông ăn to nói lớn - Bây giờ ông cúi đầu lặng thinh. Ông không dám mở miệng vui mừng.

Rồi ông trở về Galilê, trở về với chài lưới, trở về với quê quán xưa, trở về với con đường xưa, lối sống xưa để cố quên đi những dày vò, cố quên đi những lần vấp ngã.

Đêm hôm ấy họ không bắt được con cá nào…rất phải giống như lần đầu tiên lúc họ mới gặp Chúa. Rồi có một người đứng đó. Người ấy bảo đem lưới mà thả bên phải mạn thuyền. Họ làm như thế và bắt được rất nhiều cá. Gioan thốt lên:"Thầy đó" (Ga 21,1-7)

Phêrô choáng váng. Ông vội khoác áo vào, nhảy xuống khỏi thuyền bơi thật nhanh lên bờ.

Thầy đã gầy lửa và bảo họ lấy cá.

Phêrô vội vàng thi hành. Ông không dám hỏi một lời.

Sau bữa ăn Chúa phá vỡ im lặng. Ngài quay về phía Phêrô. Ông vẫn im lặng. Chúa hỏi:"Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?.(Chúa gọi ông bằng tên riêng của ông chứ không gọi bằng tên Chúa đặt: Phêrô: Đá)

Ông cảm thấy như đau nhói ở trong lòng. Trả lời với Thầy làm sao bây giờ. Ông còn có quyền nói là ông yêu Chúa nữa hay không. Dù sao thì ông cũng không thể nói trái với sự thật. Ông để cho Chúa phán xét:"Thưa Thầy, thầy biết con yêu mến thầy"

Vâng có những điều người đời không thể biết nhưng Chúa biết. Ông không nói láo. Một con người đã có lần phản bội, đã có lần chối Chúa, đã có lần rất tầm thường như ông làm sao mà có thể dám quả quyết. Nhưng tự trong thâm tâm, tự trong đáy lòng ông vẫn thấy còn tồn tại lòng ông yêu mến. Ông nói rất thật.

Chúa lại nhìn ông một lần nữa rồi Ngài lại lập lại cũng một câu hỏi trên: "Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?.

Ông cũng lại lập lại câu trả lời như ông đã trả lời ở trên."Thưa thầy có. Thầy biết rằng con yêu mến Thầy"

Rồi lần thứ ba Chúa hỏi lại để được nghe lại một lần nữa lời tuyên xưng tình yêu của một kẻ được Chúa yêu thương nhất nhưng cũng đã vấp phạm nhiều nhất.

"Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy không?.

"Thưa Thầy, thầy biết mọi sự. Thày biết rằng con yêu mến thầy"

Ba lần ông chối Ngài,

Ba lần Ngài cho ông cơ hội để nhắc lại tiếng nói tình yêu. để tuyên xưng lòng tin tưởng của mình.

Không một lời rầy la

Không một lời trách móc

Không một lời buộc tội

Chỉ là cơ hội để xác định lại mối dây liên hệ yêu thương.

Đó là cách Chúa cư xử với những kẻ khiêm nhường và rồi sau đó ông bắt đầu một đoạn đời mới.

"Hãy chăn giữ các chiên của ta"

Phêrô được sai đi đến Giêrusalem, trở về chính nơi ông đã vấp ngã và lúc này ông đủ can đảm để không phản đối.

Ông vâng lời trở về Giêrusalem và ở đó lần đầu tiên ông rao giảng là rao giảng cho những người đã hò la muốn giết chết Thầy của mình.

Ông dùng khả năng của ông để đem về cho Chúa 3000 tín hữu sau bài giảng đầu tiên.

Ông phải đối diện với gian nguy, bắt bớ.

Trước kia ông run sợ trước câu hỏi của một nữ tì.

Giờ đây ông đối diện với cả một đám đông mà không run rẩy.

Tảng đá đã bắt đều kết tinh.

Và sau này mỗi lần ông ở bên bờ sa ngã thì sự hiện diện của Thầy lại kéo ông về thực tế.

Câu truyện truyền kỳ về những ngày chót của cuộc dời ông chắc chắn cũng chứa đựng ít nhiều sự thật. Ông đến Roma trong thời kỳ bắt đạo. Lúc cơn bách đạo dâng cao, ông đã sợ hãi và muốn lẩn trốn nhưng vừa ra khỏi thành thì ông gặp một người vai mang thập giá đang đi hướng về phía thành.

Ông hỏi:"Quo vadis: Người đi đâu đó?"

Người ấy trả lời:" Ta đi vào Roma để cho người ta đóng đinh một lần nữa"

Phêrô quay đầu trở lại. Ông vào Roma và chịu tử đạo tại đó. Truyền thống kể rằng ông cảm thấy không xứng đáng được đóng đinh như thầy nên ông xin được chết trên thập giá trong tư thế đầu lộn ngược xuống đất.

Ông thực hiện đúng lời của Chúa:"Khi về già ngươi sẽ dang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho và lôi ngươi đi đến nơi ngươi không muốn" (Ga 21,18-19)

Và cuối cùng tảng đá của Giáo Hội đã được kết tinh.

Vì cuối cùng ông đã hiểu được rằng:

Hiến thân vì Chúa là lãnh nhận

Nô lệ cho Chúa là tự do

Và chết với Chúa là sống mãi.

 

 

14. Tranh cãi thế nào?

Có một cặp vợ chồng sống trong một căn hộ, họ thường tranh cãi nhau to tiếng và lâu dài hầu như mỗi đêm. Qua những bức tường không cách âm, một cặp vợ chồng khác ở căn hộ kế cận có thể nghe tiếng họ la hét. Vậy phải làm gì để ngừng sự quấy rầy này, để giúp cho cặp vợ chồng kia nói nhỏ nhẹ hơn?

Cặp vợ chồng bên cạnh quyết định một cuộc tranh cãi để cặp vợ chồng kia có một vài ý tưởng về sự ồn ào đáng sợ thế nào. Họ đứng sát tường rồi bắt đầu la hét nhau. Và hầu như tức thời cặp vợ chồng kia ngừng cãi nhau. Và không bao giờ họ la rầy nhau nữa.

Tất cả chúng ta có tranh cãi nhau, vì không có hai người trong chúng ta hoàn toàn giống nhau, không có hai người trong chúng ta nhìn cùng sự vật theo cùng một cách thức. Chúng ta có những khác biệt, và chúng ta bày tỏ những khác biệt này.

Có nhiều cách tranh cãi lành mạnh, nếu chúng ta thực sự trao dổi tư tưởng, quan điểm và lý luận, chúng ta có thể học được nhiều nhờ trao đổi tư tưởng với người khác.

Hôm nay chúng ta tôn vinh hai vị thủ lãnh của Giáo hội, thánh Phêrô và thánh Phaolô. Các Ngài là những vị thánh, tuy nhiên các Ngài cũng đã có một cuộc tranh cãi. Thánh Phêrô nghĩ rằng: người nào muốn nhập cộng đoàn những người tin theo Chúa Kitô, thì trứơc hết phải trở nên người Do thái, họ phải chịu cắt bì và tuân theo nhiều qui tắc của lề luật Do thái. Thánh Phaolô thì nghĩ khác. Các Ngài đã tranh cãi công khai. Tại cộng đồng Giêrualem, các Ngài quyết định sự tranh cãi bằng cách nhắc đi nhắc lại những điều Chúa Kitô đã dạy các Ngài, nghĩa là Chúa Kitô đã thiết lập Giáo hội của Ngài không chỉ cho người Do thái mà cho cả người ngoài Do thái, dân ngoại.

Nếu bạn phải tranh cãi, th2 hãy theo khuôn vàng thứơc ngọc là: hãy làm cho người khác điều mà bạn muốn họ làm cho bạn. Hãy tranh cãi với người khác như bạn muốn họ tranh cãi với bạn. Hãy lắng nghe, thực sự lắng nghe. Hãy mở rộng cho những ý tưởng khác với ý tưởng của bạn. Hãy chấp nhận là người khác có thông tin và kinh nghiệm vượt hơn bạn.

Bạn đừng chửi bới, hay nguyền rủa, thiên vị, bất công hay lăng mạ. Bạn hãy giữ lời nói ôn hòa, đừng hăm dọa chút nào. Bạn hãy lắng nghe chính mình và người khác. Hãy nghe cuộc tranh cãi dữ dội như cặp vợ chồng thứ nhất trong câu chuyện đã làm.

Trước hết, bạn hãy cầu xin cho được hiểu biết và bình an. Hãy xin Chúa thực sự. Hãy cầu nguyện với ý nghĩa đăc biệt của lời kinh nguyện Thánh Thể II: “Xin cho chúng con khi thông Mình và Máu Chúa Kitô được hợp nhất cùng nhau nhờ Chúa Thánh Thần”.

Trong công đồng Vat. II, đã có những sự tranh cãi giữa 2500 giám mục. Một số trong những trao đổi này rất là nặng nề. Nhưng các Ngài đã giải quyết những khác biệt của mình theo đường lối giống Chúa Kitô.

Ngày nay, cũng có những tranh cãi trong gia đình của Thiên Chúa, nếu thánh Phêrô và Phaolô có những khác biệt, thì chúng ta cũng có thể thâý được những tranh cãi trong tổ chức phức tạp và mở rộng toàn cầu, đó là Giáo hội, chúng ta cũng có thể thấy những khác biệt trong chính giáo xứ chúng ta. Bạn hãy giải quyết chung trong tinh thần của Chúa Kitô, trong tinh thần khuôn vàng thước ngọc của Ngài.

Lạy Chúa, xin gìn giữ con khỏi tranh cãi, nhưng nếu con phải tranh cãi, thỉ xin giúp con hành động theo tinh thần của Chúa.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

 

 

15. Hội của những người nghèo hèn tội lỗi

LẠY THẦY, THẦY BIẾT RÕ, CON YÊU MẾN THẦY

Cũng như hai môn đệ Phêrô và Phaolô, toàn thể Hội Thánh và từng người môn đệ của Thầy Giêsu đều chỉ có chung một trái tim. Trái tim này không phải bằng đá, cũng không phải bằng thịt, nhưng là trái tim bằng Lửa, Lửa Thánh Linh, Lửa Mạc Khải từ Cha. Đó là Ngọn Lửa khiến Hội Thánh và người môn đệ luôn dám yêu, dám tin, dám tuyên xưng, dám loan báo rằng Thầy mình là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống. Sở dĩ người môn đệ thực sự trở nên môn đệ của Thầy Giêsu, Hội Thánh thực sự là Hội Thánh của Thầy Giêsu, ấy là do niềm xác tín thần linh, do tình yêu thiết tha và huyền nhiệm, do lời loan báo bền bỉ chân thành trong Thánh Linh, rằng Đức Giêsu là Cứu Chúa của Hội Thánh, là lẽ sống của Hội Thánh, là tình yêu của Hội Thánh, là tất cả Niềm Vui Ơn Cứu Độ của Hội Thánh. Niềm tin đó, Tình yêu đó, lời Tuyên xưng và Loan báo đó, làm nên bản chất của Hội Thánh, là “lý do hiện hữu” cho Hội Thánh, là Đá Tảng để đặt nền toàn bộ “cuộc đời” của Hội Thánh.

Hội Thánh và người môn đệ không chỉ tin vào Thiên Chúa cao cả cách “chung chung”. Anh em Phật Giáo, Nho Giáo, Lão Giáo, Hồi Giáo… và biết bao nhiêu con người cao qúi khác vẫn tin vào một Thiên Chúa, và tin một cách rất sâu xa, rất tha thiết, rất quyết liệt. Hội Thánh của Thầy Giêsu thì khác. Hội Thánh đến với Thiên Chúa qua một “anh” con người. Hội Thánh giao tiếp với Thiên Chúa qua sự giao tiếp đầy thân tình bằng hữu với một “anh” con người. Hội Thánh tin và yêu một “anh” con người, bằng một tình yêu và một niềm tin, trước hết, cũng rất theo thể cách con người, qua tất cả dáng vẻ tầm thường “phàm phu” của anh ta và của Hội Thánh. Hội Thánh mở lòng ra, chìm lặn vào trong nội tâm “anh” con người ấy, nên một với “anh” con người ấy, và qua đó, Hội Thánh dám gọi “anh” con người ấy, bác thợ mộc làng Na-da-rét ấy, tên tử tội khốn khổ ấy, là Đường Đi, là Sự Thật, là Sự Sống của mình. Và cũng từ “anh” con người ấy, Hội Thánh gặp được Thiên Chúa và dám gọi Thiên Chúa bằng “Cha”.

HỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ TỘI

Phải, “anh” con người ấy đã mang tất cả sự tầm thường gần gụi như mọi con người nghèo hèn trần trụi. Anh ta không mang dáng vẻ tiên phong đạo cốt của nhà đạo sĩ. Anh cũng chẳng có vẻ bát ngát thênh thang và uy dũng ngất trời của bậc thiền sư. Anh càng không ung dung thư thái và nết na nề nếp của nhà hiền triết chính nhân quân tử. Anh cô đơn, anh đau đớn, anh lúi húi lom thom đi trong cuộc đời. Hội Thánh cảm thấy anh ấy gần mình lắm, vì Hội Thánh cũng tầm thường và nhỏ bé nghèo hèn như vậy. Môn đệ Phêrô chỉ là bác “hai lúa”, “bác hai vạn chài”, chân chất và nông nổi. Môn đệ Phaolô tuy là ông trí thức, là nhà đạo đức, nhưng lại có tất cả tính hiếu thắng đến gần như điên cuồng. Vâng, Hội Thánh là hội của những người có tội, nghèo hèn, khốn khổ, lơ láo, xơ xác. Đó là Hội của đám dân đen, Hội của những tên buôn thúng bán mẹt, Hội của những phường trộm cướp đĩ điếm, Hội của những con người trôi sông dạt chợ. Nhưng, Hội của những người có tội ấy, vẫn mãi mãi là Hội Thánh, phổ quát, thánh thiện, duy nhất, tông truyền, vì Hội Thánh luôn dám tuyên xưng, không phải chỉ ba lần, nhưng xin được thưa mãi mãi cùng Thầy rằng: “Bỏ Thầy, con biết theo ai, vì Thầy có Lời Ban Sự Sống”, và “Lạy Thầy, Thầy biết rõ, con yêu mến Thầy”.

Ngay lời tuyên xưng ấy cũng chẳng phải là lời “tự nhiên” phát ra từ trái tim “tự nhiên” của người môn đệ. Người môn đệ, đã từng bắt bớ Thầy, đã từng ngơ ngác nghi ngờ Thầy, đã từng sợ hãi chối bỏ Thầy, đã từng nuôi những tham vọng và ảo tưởng khi đi theo Thầy. Họ cũng tranh cãi và bất hòa với nhau nữa. Nhưng có sao đâu! Người môn đệ vẫn lê lết thân phận nghèo hèn khốn khổ của mình như vậy, cho đến khi, Thầy chịu Khổ Nạn và Phục Sinh. Và trong lòng huyệt mộ hoá ra không của đời Thầy, trong Anh Tịnh Quang bất diệt của Quyền Năng Tình Yêu Phục Sinh của Thầy, họ mới biết thực sự Thầy là ai. Và cũng chỉ khi ấy, hơi thở Thần Linh Bình An của Thầy mới khiến họ thấm thía thấu hiểu và xác tín hơn gấp triệu lần nữa về lời tuyên xưng rằng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Chúa Trời hằng sống”. Đó là lời tuyên xưng không do máu huyết xác thịt phàm nhân, nhưng do Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.

ĐỨC KI-TÔ NGHÈO, HỘI THÁNH NGHÈO, CHO ĐÁM DÂN NGHÈO.

Như Thầy Giêsu, Hội Thánh vẫn bước đi trong cuộc đời, lom thom, nghèo hèn, yếu đuối. Hội Thánh, mang trong trái tim mình Sự Sống Thần Linh của Đấng mình yêu thương, vẫn tiếp tục đi vào lịch sử, vì Thiên Chúa và Người yêu của Hội Thánh luôn là Thiên Chúa đồng hành trong lịch sử. Và trong giòng lịch sử ấy, có hằng triệu, hàng tỉ những con người nghèo hèn, kém cỏi, tầm thường, yếu đưối, lom thom. Vì thế mà Hội Thánh càng xác tín vào Tình Yêu, vào Niềm Tin, vào Niềm Hy Vọng của mình. Hội Thánh biết, mình đã được trao cho “chìa khóa Nước Trời”. Hội Thánh cầm chìa khóa Nước Trời bởi vì Hội Thánh sẽ không bao giờ có quyền hành, không bao giờ có vinh vang, không bao giờ trở nên bề thế giàu sang chức tước, kể cả những quyền hành vinh vang về sự đạo đức và thánh thiện theo nghĩa tự sức gò lưng nỗ lực vươn lên. Hội Thánh, cũng như xiết bao kẻ trôi sông dạt chợ kia, biết rõ “thân phận” của mình, dù xiết bao nỗ lực, nhưng tự sức của mình, thì vẫn thất bại, vẫn chẳng bao giờ trở nên công chính, chẳng bao giờ trở nên vẹn toàn, chẳng bao giờ “tu thân tích đức” cho đàng hoàng được. Hội Thánh chỉ biết trông cậy hết mình vào Đấng do Thiên Chúa sai đến, Đức Giêsu, Người Thầy, Người Yêu, Người Bạn và Đấng Cứu Độ của Hội Thánh.

Và như vậy, niềm tin ấy, tình yêu ấy, lời loan báo ấy, chính là chìa khóa Nước Trời cho những kẻ nghèo hèn bé mọn. Cầm chìa khóa Nước Trời, không phải là Hội Thánh muốn làm gì thì làm, muốn cho ai điều gì thì cho, muốn cầm buộc ai theo “ý riêng” mình thì cầm buộc. Đó là chìa khóa Yêu Thương, chìa khóa Tôn Trọng và Nâng Niu con người cho đến tối đa, đồng hành và đồng phận với con người cho đến tối đa, hiến mạng sống mình cho nhân loại đến tối đa. Như Thầy Giêsu và từ Thầy Giêsu, Hội Thánh “cầm chìa khóa Nước Trời” bằng cách Hội Thánh đặt vào trong Trái Tim Thập Giá của mình tất cả những đau thương của kiếp người, tất cả những buồn khổ, tội lỗi, nỗi cô đơn, sự chia phôi, nỗi sinh ly tử biệt của kiếp người. Trung tín với Thầy Giêsu, Hội Thánh mãi loan báo Tình Yêu Tràn Đầy Trời Đất đó, thể hiện Tình Yêu vô điều kiện đó, vì Hội Thánh quá biết, và quá kinh nghiệm rằng: Thân phận con người, tự nó, là nghèo hèn, là thất bại. Con người nghèo hèn và thất bại ngay cả trong sự nỗ lực vươn lên tới Thiên Chúa Đích Bình an và Hạnh phúc của cuộc đời.

“Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà Đức Ki-tô đang sống trong tôi”. Lời tuyên xưhg ấy của môn đệ Phaolô cũng luôn là ý thức và lời tuyên xưng của toàn thể Hội Thánh, để Hội Thánh cũng chỉ có một hành trang duy nhất ấy, một Trái Tim duy nhất ấy, như người nữ tỳ Ma-ri-a, để đem lại niềm Vui Mừng và Hy Vọng cho cuộc đời tang thương này.

 

 

16. Phêrô và Phaolô

Hôm nay tôi xin có ít lời về Thánh Phêrô một vị thánh mà tôi hết lòng kính trọng.

Chẳng cần phải nói dài anh chị em cũng có thể thấy được rằng Phêrô là một trong ba môn đệ, nói đúng hơn trong ba tông đồ được Chúa ưu ái một cách đặc biệt hơn những tông đồ khác. Ông được Chúa cho tham dự vào hầu hết những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa.

Tính tình ông nóng bỏng, bộc trực và đôi lúc hơi liều lĩnh

Nói về ông người ta không thể không nhắc đến cái vết thật đen trong cuộc đời của Ông. Đó là việc ông đã chối Chúa. Alain một nhà tư tưởng lớn của Pháp đã viết những lời như thế thật chua cay về cái biến cố này: "Tôi hình dung ra ông ta đang ở trên Thiên đàng, đầu đội triều thiên hào quang sáng chói nhưng mỗi khi nhớ đến 'dzụ' ấy, chắc ông còn phải đỏ mặt" Lý do, ông viết tiếp: "Tông đồ Phêrô trong hoàn cảnh lúc đó đã lẩn trốn như thỏ hay như chuột" Lời nhận định hơi chua chát một chút nhưng nó cho chúng ta thấy tính cách nghiêm trọng của vấn đề. Vì Phêrô là Thủ lãnh các tông đồ, thủ lãnh nhóm 12 và nhất là trước đó Chúa đã cảnh cáo ông.

Tuy nhiên bên cạnh những cái không tố đó chúng ta lại thấy nơi Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tấm thường nơi con người của ông để rồi qua đó ông đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa khi Chúa đã đặt ông làm nền tảng Giáo Hội.

Đầu tiên chúng ta phải nói về lòng quảng đại. PA ghi thật rõ, vừa khi được Chúa gọi ông nhanh nhẹn bỏ điều mà sau này ông 'kể công' với Chúa là tất cả mọi sự.

Bên cạnh lòng quảng đại chúng ta còn thấy ở nơi Ông một đức tin chân thành

Đàng khác trên con đường theo Chúa ông còn có một đức tính hiếm hoi này mà những người khác ít ai có được đó là lòng gắn bó keo sơn với Chúa. Sau Phép lạ bánh hóa nhiều, Chúa có giảng một bài giảng về bánh hằng sống. Bài giảng đó đã đánh dấu một khúc quặt mới trong cuộc đời công khai của Chúa.

"Lạy thầy, bỏ thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có lời ban sự sống đời đời.

Nhưng đức tính mà tôi cảm phục nhất trong cuộc đời của Ông đó là lòng khiêm nhường. Sách Tu đức gọi đức Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Đôi khi người ta cũng còn gọi đức khiêm nhường là mẹ các nhân đức. Đọc trong Kinh Thánh tôi thấy ít nhất có ba lần ông đã biểu lộ sự khiêm nhường rất cụ thể như thế này.

Lần thứ nhất đá là khi Chúa cho các ông bắt được một mẻ cá lạ. Trong khi các môn đệ khác chỉ có thái độ cầm chừng thì Phêrô đã đến quì trước mặt Chúa và thưa vó Người: "Lạy Thầy, xin tránh xa con ra vì con là một người tội lỗi" Ông ý thức được cái thân phận yếu đuối của mình trước sự hiện diên của Chúa.

Lần thứ hai là khi Chúa quở mắng ông một cách thật nặng lời…….

Lần thứ ba được ghi ở trong sách Tông đồ công vụ. (xem Ngài đã gọi họ)

Còn Phaolô

Tin Mừng không nói một câu nào về Ông.

Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi Chúa Giêsu đã về trời.

Xét về con người của ông thì chúng ta thấy ông có nhiều điểm hơn hẳn Phêrô.

Ông là một con người có học thức - Là học trò của Giáo sư Kinh Thánh nổi tiếng Gamaliel.

Gia đình ông thuọc loại khác giả

Đặc biệt ông là người có tước Công dân La mã

Ông không thuộc nhóm 12. Ông là một tông đồ sinh sau đẻ muộn nhưng là một tông đồ đặc biệt.

Ông xuất hiện không như một người về phe với Chúa, nhưng như một kẻ đối đầu. Tệ hơn, như một kẻ thù: Chúng ta còn nhớ thật rõ câu truyện ông tình nguyện đi Đamas để lùng bắt và tiêu diệt những người mang danh Kitô hữu

Thế nhưng cũng chính từ cuộc lùng bắt những người Kitô hữu này Chúa đã chinh phục ông. Cuộc chinh phục rất đột xuất làm cho nhiều người cảm thấy như không thể tin được. Thế nhưng đó lại là công việc của Chúa.

Chúa chọn ông để sai ông đi rao giảng TM cho dân ngoại.

Muốn hiểu cuộc đời theo Chúa của Ông như thế nào chúng ta hãy đọc lại Sách Tông đồ công vụ và nhất là những bức thư nổi tiếng ông còn để lại.

II. Bài học

1.Uy quyền của Chúa.

- Chúa muốn làm gì làm.

+ Xét về nhiều phương diện thì Phêrô thiếu hẳn những đức tính của một người lãnh đạo thế nhưng Chúa đã chọn ông, đặt ông làm thủ lãnh của Giáo Hội. Đó là công việc của Chúa.

+ Phaolô cũng thế: Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một người bạn, một người tình. Từ một người đi lùng bắt những người theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về người và s8ãn sàng chết vì người. Về phương diện trần thế chẳng khi nào chúng ta thấy được như thế.

2. Bài học về lòng yêu mến Chúa

+ Câu truyện tại bờ biển Galilêa sau khi Chúa sống lại. Phêrô đạ tuyên xưng không phải đức tin, nhưng là lòng yêu mến của Ông.

+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động sau đây: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8 Rm 8,18-19.32.33.38.39)

3. Bài học vềsự gắm bó và lòng trung thành đối với Chúa.

+ Phêrô trên con đường ra khỏi thành Roma. Quo vadis?

+ Phaolô: "Còn tôi, tôi sắp phải đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà còn cho ta61t cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện."

 

 

17. "Anh là Phêrô…

TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY THẦY SẼ XÂY HỘI THÁNH CỦA THẦY".

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Từ việc phêrô tuyên xưng đức tin...

Đức Giêsu thường tìm dịp xa trách những đối phương hay sách nhiễu Người. Lợi dụng dịp xa cách này, Đức Giêsu muốn đưa các môn đệ mình vào một nhịp sống lần lượt có những giai đoạn rút vào thanh vắng cả về mặt thiêng liêng lẫn mặt địa lý; những giai đoạn ấy là những cột mốc đánh dấu chặng đường các môn đệ khám phá ra chân tính đích thực của Đức Giêsu.

Sau buổi tranh luận mới với các người Pharisêu muốn đòi hỏi Chúa "cho họ xem một dấu lạ", lúc này Thầy trò Đức Giêsu đang ở giữa miền đất dân ngoại, vùng đầu nguồn sông Giocđan. Các Ngài đang lưu trú tại Xêdarê-Philipphê là một Thành phố mới, do quận vương Philipphê, con của Hêrôđê cả, xây để kính nhớ hoàng đế Rôma, bởi đó Thành phố mới có tên là Xêdarê-Philipphê. C.Tassin ghi nhận: "Cư dân của Thành phố là người Xiri gốc Hylạp, và việc lo tôn thờ thần Pan cùng nữ thần sông biển tạo nên bức tranh khác giống với môi trường Giáo hội của thánh Mátthêu" ("L'Evangile de Matthieu", Centurion, trang 173).

Chính ở đó, trước khi lên đường đi Giêrusalem lần cuối, Đức Giêsu đã đặt ra cho những ai đến nay vẫn đi theo Người, một câu hỏi quyết định mà Tin Mừng Chúa Nhật nàyđề cập tới.

Trước tiên Chúa hỏi các môn đệ: "Người ta nói: Con người là ai?".

+"Con người là một hình ảnh bí nhiệm (cf. Danien 7,13) được Tin Mừng sử dụng tới 30 lần. Chính Đức Giêsu dùng thành ngữ đó để mặc khải về chính mình và sứ mệnh của mình. Người là một con người thật. Tương quan của Người với Thiên Chúa Cứu độ, Đấng Người gọi là Cha là tình phụ tử có một không hai.

+ Trả lời câu hỏi của Đức Giêsu, các môn đệ đưa ra ý kiến nói rộng rãi về Người.

Nói chung ai ấy đều dành cho Người một địa vị và vai trò quan trọng: kẻ thì nói Người là Gioan Tẩy Giả sống lại từ cõi chết (x. 14,1-2; Hêrôđê cũng có y kiến như vậy); người khác thì cho là Êlia mà người ta đang trông đợi quay trở lại loan báo Đấng thiên sai đến; còn những người khác lại bảo là Giêrêmia, vị ngôn sứ nổi tiếng là hay chống đối và bị người ta chống đối; sau cùng có người cho Người là một tiên tri nào đó.

Lần này Chúa Giêsu hỏi thẳng như tra vấn các môn đệ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?"- "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Ông Phêrô đáp lời theo kiểu tuyên xưng lòng tin, và tỏ ra không những là người phát ngôn cho các môn đệ, mà còn làm gương cho các ông về một lòng tin Kitô giáo chính truyền.

C.Tassin gợi ý thêm: "Câu trả lời của Phêrô chắc hẳn là được lấy lại từ một bản "kinh Tin" dùng trong phục vụ của cộng đoàn Matthêu". Lời đó nói lên đầy đủ niềm tin Kitô giáo.

+"Thầy là Đấng Messia" (tiếng Hylạp là Christos) nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu và được các ngôn sứ loan báo; Người đến hoàn tất mọi lời Thiên Chúa hứa với dân Người, làm thỏa lòng mong đợi trường kỳ của Israel.

+ "...Con" nghĩa là quan hệ của Người với Thiên Chúa là tình phụ tử, mối tương quan có một không hai.

+ "...Thiên Chúa hằng sống" nghĩa là về mặt mặc khải: Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, còn đối với các Kitô hữu thì Thiên Chúa là Đấng đã cho Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết.

"Anh thật là có phước". Đức Giêsu tiếp ngay lời tuyên xưng của Phêrô, và chọn kiểu nói của Kinh Thánh về "mối phúc" để chào "con ông Giona", kẻ vừa mới xưng tụng mình là Đấng Kitô, COn Thiên Chúa hằng sống". Bởi lẽ, lời tuyên xưng này Phêrô đã không tự mình nói ra được, theo tư cách người phàm, nghĩa là theo nguồn gốc của loài người hoàn toàn yếu đuối mỏng giòn, nhưng chỉ do Thiên Chúa mặc khải cho ông. C.Tassin chú giải thêm: "bản văn không cho là Phêrô có công trạng gì; ông không được tôn danh hiệu là anh hùng đức tin, điều mà thánh sử đã mianh chứng ở đây và sau này còn chứng tỏ nữa. Trình thuật còn muốn chứng tỏ một điều là: niềm tin của Phêrô là chính xác, vì niềm tin ấy do Thiên Chúa mặc khải". (O.C trang 175).

2. Đến vai trò làm đá nền...

Những lời long trọng của Đức Giêsu nói với Simon-Phêrô là phần riêng của Tin Mừng Mátthêu.

"Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này..."

Trong Kinh Thánh, việc đổi tên tỏ ra rằng sứ mệnh Chúa trao cho ai, thì biến đổi người ấy thành một người khác. Vì thế khi Ápram được đổi tên thành Ápraham có nghĩa là ông coi như được trao sứ mệnh làm "tảng đá duy nhất" làm cội nguồn cho cả dân tộc (Is 51,1-2).

Trong tiếng Do thái bình dân, từ "Kêpha" -"Tảng đá" không phải là một biệt danh, mà chỉ là một danh từ chỉ đồ vật. Khi đặt cho Phêrô tên mới này mà từ đây sẽ thay cho tên Simon trước đây, Đức Giêsu muốn cho thấy sứ mệnh Ngài sắp trao cho Phêrô: ông sẽ là tảng đá làm nền, tảng đá đảm bảo cho sự vững chắc cho tòa nhà người sắp xây dựng.

"...Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy..."

+ Trong Kinh Thánh, Từ "Hội thánh" có ý chỉ buổi họp tôn giáo, hội họp của những kẻ Thiên Chúa đã kêu gọi, để giữa lòng nhân loại, họ trở thành dân tộc của giao ước, dân có dấu chỉ tình yêu và lòng thương xót của Người.

+ Lần đấu tiên trong Tin Mừng Mátthêu từ "Hội thánh" được sử dụng ngay trên phần đất dân ngoại, nên ám chỉ sự tụ họp của tất cả những ai Đức Giêsu sẽ quy tụ lại từ bên kia mọi biên giới, để giữa nhân loại họ làm thành dân của giao ước mới, dân của dấu chỉ ơn cứu độ được ban cho con người.

Nếu Hội thánh được xây dựng trên nền tảng là Phêrô thì các quyền lực tử thần sẽ không có thể làm gì chống lại được Hội thánh ấy.

"...Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời".

+ Ta không nên nghĩ là những chìa khóa như thời nay, mà là chìa khóc của các thành cổ và đền đài vua Chúa thời xưa. Những chìa khóa này như những then cửa lớn phải váv trên vai. Trao chìa khóa cho một người nào mang ý nghĩa là trao chức vụ cai quản điều hành cho người ấy.

+ Khi trao cho Phêrô những chìa khóc Nước Trời, Đức Giêsu có ý đặt vị tông đồ này là người đứng đầu, trao phó cho ông quyền hành trong tay Người, như sách Khải huyền 3,7 đã viết: "Đây là lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, nắm giữ chìa khóa nhà Đavít. Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được". (Bài đọc 1, tham chiếu Isaia 22).

Địa vị dành cho Phêrô ở đây hẳn là thuộc trần thế; Phêrô không phải là "Người giữ cửa thiêng đàng" (C.Tassin): Ông sẽ là người diễn giải và giữ cho sứ điệp của Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, được quyền trọn vẹn.

"Dưới đất anh cầm buộc điều gì trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy".

+ "Cầm buộc/tháo cởi" đều là những kiểu nói chuyên biện mượn của Do thái giáo, để nói lên quyền hành trọn vẹn của Phêrô, đó là quyền ấn định những quy luật, quyền nhận vào hay loại khỏi cộng đoàn.

+ Nơi Mátthêu 18,18 cũng quyền cầm buộc và tháo cởi này không chỉ hứa riêng cho Phêrô, mà cho cả các môn đệ. Vì thế Phêrô phải chia sẽ quyền hành đó với những người khác có trách nhiệm.

 

 

18. Thánh Phaolô Tông Đồ

Phaolô thành Tarsê không phải là vị thánh của hết mọi người. Nhiều Kitô hữu tốt cảm thấy đối nghịch với Ngài vì thấy Ngài cứng cỏi, khô khan, thiếu hòa giải. Những người đương thời với Ngài cũng cảm nghĩ về Ngài như vậy. Không kể chi đến các bạn đồng liêu của Ngài. Ngay đến các thánh trong Giáo hội như Phêrô, Marcô và Barnaba đếu có lần xích mích với Ngài. Dịu dàng như Giacôbê mà cũng phải khuyên thánh nhân phải biết khéo léo hơn. Nhưng rồi cuối cùng, tất cả đều phải nhìn nhận Ngài với niềm kính phục và tình thương mến. Đó là kinh nghiệm chung đối với những ai lúc đầu cảm thấy đối nghịch với Phaolô, rồi sau đó ngỡ ngàng khi biết rõ Ngài trong các thư tín và sách công vụ sứ đồ. Ngài thật là một con người bất khuất, trung tín và rất thân tình với anh em. Sớm hay muộn, sau khi cởi bỏ lớp vỏ sần sùi bên ngoài đi người ta thấy rõ tính chất nhân bản và sự thánh thiện hàm ẩn của Ngài.

Thánh Phaolô sinh tại thành Tarse một thành phố trù phú miền nam Tiểu Á. Cha mẹ Ngài là những người thế giá, có quyền công dân Rôma. Ngài được giáo dục để trở thành một người biệt phái đúng nghĩa. Ngài được thày Gamaliel dạy dỗ thần học. Người người đều kỳ vọng ở người than niên thông minh này khi anh về Giêrusalem khoảng một năm sau khi Chúa Giêsu bị đonh đinh. Kỳ vọng ấy đã thành sự, nhưng theo một đường lối không lường trước được. Mọi người đều biết là anh Phaolô đã có mặt trong cuôc tử đạo thánh Stephanô và đã nghe Ngài cầu nguyện cho những kẻ sát hại mình. Chẳng bao lâu sau trên đường về Damas, Saolê (tên cũ của Phoalô) đã được thấy Chúa Giêsu phục sinh. Người biến đổi Phaolô từ một kẻ bách hại thành một lãnh tụ Kitô giáo.

Ngay sau khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy, Phaolô, lui vào sa mạc để suy nghĩ cầu nguyện trong hai năm. Sau đó Ngài trở lại Damas. Như vậy phải đợi ba năm sau, Phaolô mớilên Giêrusalem bàn luận với các tông dồ. Và thánh nhân lại trở về Tarsê. Trong khoảng 10 năm (34 - 44). Chúng ta không thấy Phaolô xuất hiện. Đây phải là khoảng thời gian mà với sự trợ lực của Thiên Chúa, trí khôn của thánh nhân xây dựng cây cầu nối giữa Do thái giáo với Kitô giáo, giữa dân Do thái với dân ngoại. Việc nối kết này là món quà lớn lao nhất thánh nhân đã trao tặng cho thế giới.

Dĩ nhiên thánh Phaolô không phải là người đầu tiên rửa tội cho một lương dân. Thánh Phêrô đã rửa tội cho Cornêliô. Thánh Philipphê đã rao giảng Tin Mừng ở Samaria và rửa tội cho hoạn quan người Ethiôpia. Nhưng việc rao giảng có hệ thống cho những người không phải là Do thái chỉ bắt đầu ở Antyiôkia vào đầu thập niên 40. Thánh Barnaba được các tông đồ sai đi xem xét tình hình. Nhưng thánh nhân đã đi xa hơn. Ngài nghĩ tới Phaolô còn đang sống âm thầm ở Rarse và đến tìm ông. Thánh Phaolô trở về Antiôkia với thánh Barbnaba. Từ đó thánh nhân hiến trọn đời cho công cuộc truyền giáo. Ngài bỏ vai trò của Maria và lãnh lấy vai trò của Mattha. Nhà học giả và chiêm niệm trở thành thầy dạy và nhà giảng thuyết.

Hết cuộc hành trình này tiếp đến cuộc hành trình khác, thánh Phaolô không ngừng bước chân đi rao giảng Tin Mừng. Ngài đã đi truyền giáo ở Chypre, Tiểu Á và Maceđonia, Hy Lạp. Mỗi khi Ngài đi đến đâu là ở đó nổi lên cơn giông tố nhiệt tình một bên và ghen ghét bên kia, nhốt tù, bị ném đá, đánh đập, bị đắm tàu và yếu đau và cả đến thất vọng nữa, nhưng Ngài vẫn tiếp tục công việc. Mỗi khi đến nói chuyện ở hội đường, Ngài trích thánh kinh, ở công trường, Ngài trích thơ văn cổ và từ nơi đó phát sinh một trung tâm Kitô giáo. Trong 12 năm trời, Ngài đã biến đổi cộng đoàn Do thái nhỏ bằng thành bào thai của một tôn giáo hoàn cầu.

Năm 57, thánh Phaolô trở về Giêrusalem. Bạn bè xin Ngài đừng đi. Họ biết rằng: hội đồng công tọa ghét Ngài, ghét cây ghét đắng mà Giáo hội nhỏ bé không đủ sức bảo vệ cho Ngài, Ngài vẫn bất khuất ra đi và trong vòng một tuần lễ, mọi sự xem ra đều ổn thỏa, nhưng rồi lộn xộn xảy ra, Phaolô lại được cứu thoát khỏi bọn đấu tố, nhờ sự can thiệp của đội lính canh người Rôma. Tiếp sau đó là hai năm tù tội (bất công vì nhà cầm quyền Rôma muốn được qùa hối lộ). Trong thời gian này, Phaolô vẫn dùng cơ hội thuận tiện để rao giảng Tin Mừng.

Bị áp bức bởi Festô, Phaolô nại đến sự che chở của hoàng đế (đối với công dân Rôma) và được gởi về Rôma. Con tàu bị bão đánh và bể nát ở bờ biển Malta. Dip này cho thấy tài điều khiển bẩm sinh của Phaolô trong trường hợp khẩn trương. Tới mùa Xuân năm 60 (hay 61) đoàn người tới thủ đô. Thánh Phêrô đã có mặt ở đây và Phaolô lui vào bóng tối. Về những chuyến du hành của Phaolô đi Tây Ban Nha và về cận Đông, chúng ta không có đủ tài liệu. Truyền thống nói tới việc Ngài bị tù tội lần thứ hai dưới thời Nêrô và cho biết Ngài bị chém đầu khoảng năm 66 ở Tre Fontane.

Khi Phaolô tới Roma, Phêrô đã có mặt, Tin Mừng đã được rao giảng, bí tích đã được cử hành, cólẽ Phúc âm đã được Marcô khởi soạn. Vậy đâu là phần đóng góp của Phaolô như là cột trụ Chúa Giáo hội?

Trước hết phải kể đến nhiệt tâm và gương mẫu cuộc sống của thánh nhân. Nhưng phần chính yếu thánh nhân mang lạị là nền tảng vững chắc về tri thức của Giáo hội giúp con thuyền của ngư phủ đương đầu với bão tố. Ngài không thích mơ hồ, nhưng quan tâm tới từng hệ luận tàng ẩn bên trong giáo thuyết. Thực ra nói “giáo thuyết của Phaolô” thì không chính xác lắm, Ngài không sáng nghĩ ra giáo thuyết. Nhưng Ngài khai sáng ra những gì đã lãnh nhận được. Chẳng hạn khi nói “ Chúa Giêsu là đức Kitô” Ngài dựa ra một giải thích hoàn toàn mới mẻ về Cựu ước, với những ý niệm: Giáo hội là Israel mới, ơn thánh thay thế luật Môisê. Đức Kitô là Adam mới, là “hình ảnh” hoàn hảo của Thiên Chúa. Từ lời gọi “Saolê, Saolê, sao ngươi tìm bắt TA?” Ngài đã khai triển giáo thuyết về nhiệm thể: “đức Kitô là tất cả mọi sự trong mọi người” (Cl 3,11). Từ dụ ngôn những người làm vườn nho, Ngài diễn nghĩa cho thấy Israel cũ và Giêrusalem cũ bị thay thế bởi Giêrusalem mới “nơi không còn lương dân hay Do thái, man rợ hay Scythia, nô lệ hay tự do”

Có lẽ giáo thuyết về công giáo tính của Giáo hội là phần đóng góp tiêu biểu nhất của Phaolô, khiến Ngài được mệnh danh là tông đồ dân ngoại. Thánh Phêrô còn ngập ngừng chứ như thánh Phaolô thì không chịu thỏa hiệp. Chính Ngài cho thấy rõ thế nào và tại sao Giáo hội phải là công giáo phổ quát và công giáo tính bao hàm những gì.

 

 

19. Thánh Phaolô

Hôm nay tôi chỉ xin được nói ít lời về Phaolô một con người đối với tôi thật là vĩ đại và kỳ diêu.

Thú thực tôi rất sợ phải nói về những con người như thế này vì tôi cảm thấy mình quá thấp kém. Nhưng thái độ tránh né hoàn toàn thì tôi tưởng sẽ không phải là tốt nhất…nhất là đối với một người ở trong một cương vị như tôi. Tôi sẽ cố gắng để nói một chút về con ngưởi đặc biệt này.

Phaolô! Ông là ai vậy?

+ Thật khó mà có được một bài trình bày đầy đủ và vắn tắt về con người đặc biệt này. Vì ở nơi con ngưởi này có quá nhiều vấn đề và quá nhiều điều phải nói. Ở đây tôi chỉ xin được nói về một ít đểm nổi bật trong cuộc đời của Ông: trước - sau khi được Chúa gọi và cuộc đời truyền giáo của Ông.

1. Trước khi được Chúa kêu gọi.

Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi Chúa Giêsu đã về trời.

+ Ông là người say mê với niềm tin vào Giavê Thiên Chúa và Đạo của Người

+ Ông là một con người có học thức. Ông đã từng học Kinh Thánh với Gíáo sư Gamaliel, một vị giáo sư về Kinh Thánh nổi tiếng thời đó.

+ Ông hiểu biết nhiều về thần thoại và hệ thống triết học rất thịnh hành thời đó.

+ Chắc chắn ông đã từng nghe nói về Chúa Giêsu, một con người theo Ông là một người có kiến thức và hiểu sâu biết rộng nhưng ông không thể nào có thế khoan nhượng đối với một số sự việc Chúa Giêsu đã làm như là dám vi phạm đến những luật lệ của Thiên Chúa và những tập tục của tiền nhân như: phạm đấn ngày hưu lễ, tự cho mình có quyền tha tội, làm loạn trong đền thờ và nhất là dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa.

Xét về con người của ông thì chúng ta thấy ông có nhiều ưu điểm hơn hẳn Phêrô

Gia đình ông thuọc loại khá giả

Đặc biệt ông là người có tước hiệu Công dân La mã

Ông không thuộc nhóm 12. Ông là một tông đồ sinh sau đẻ muộn nhưng là một tông đồ đặc biệt.

Ông xuất hiện không như một người về phe với Chúa, nhưng như một kẻ đối đầu. Tệ hơn, như một kẻ thù: Chúng ta còn nhớ thật rõ câu truyện ông tình nguyện đi Đamas để lùng bắt và tiêu diệt những người mang danh Kitô hữu

Thế nhưng cũng chính từ cuộc lùng bắt những người Kitô hữu này Chúa đã chinh phục ông. Cuộc chinh phục rất bất ngờ và đột ngột làm cho nhiều người cảm thấy như không thể tin được. Thế nhưng đó lại là công việc của Chúa.

Chúa chọn ông để sai ông đi rao giảng TM cho dân ngoại.

Muốn hiểu cuộc đời theo Chúa của Ông như thế nào chúng ta hãy đọc lại Sách Tông đồ công vụ và nhất là những bức thư nổi tiếng ông còn để lại.

II. Bài học

1.Uy quyền của Chúa.

- Chúa muốn làm gì làm.

+ Xét về nhiều phương diện thì Phêrô thiếu hẳn những đức tính của một người lãnh đạo thế nhưng Chúa đã chọn ông, đặt ông làm thủ lãnh của Giáo Hội. Đó là công việc của Chúa.

+ Phaolô cũng thế:

Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một người bạn, một người tình.

Từ một người đi lùng bắt những người theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về Người và sãn sàng chết vì Người. Về phương diện trần thế chẳng khi nào chúng ta thấy được như thế.

2. Bài học về lòng yêu mến Chúa

+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động sau đây: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8 Rm 8,18-19.32.33.38.39)

3. Bài học về sự gắn bó và lòng trung thành đối với Chúa.

+ Phaolô: "Còn tôi, tôi sắp phải đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.”

 

 

20. Thánh Phêrô Tông Đồ

Phêrô là tên mà Chúa đặt cho Simon, có nghĩa là “Đá” Simon và Anrê em ông là những dân chài chất phác ở biển Galilêa. Anrê theo làm môn đệ của thánh Gioan tẩy giả. Lần kia, khi Chúa Giêsu đi qua, thánh Gioan đã giới thiệu với hai môn đệ của mình là Anrê và Gioan: “Đây là Con Thiên Chúa”.

Anrê và Gioan liền theo Chúa Giêsu. Về nhà, Anrê nói lại với Phêrô rằng: mình đã gặp Đấng thiên sai. Hai anh em dẫn nhau đến gặp Chúa Giêsu. Nhìn họ với cặp mắt thần linh, Chúa Giêsu bảo:

- Anh là Simon, nhưng từ nay tên là Phêrô (Ga 1,35-42)

Simon Phêrô gắn bó với Chúa Giêsu mặc dầu vẫn tiếp tục nghề chài lưới. Ông đến được tiệc cưới tại Cana và được chứng kiến phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu cho thấy thiên tính của Người.

Vài tháng sau, Phêrô và Anrê giặt lưới bên bờ hồ, Chúa Giêsu lên một chiếc thuyền để giảng dạy dân chúng. Sau đó Người nói với Phêrô:

- Ra khơi mà thả lưới đánh cá.

Sau một đêm làm việc mà không bắt được gì. Nhưng bây giờ Phêrô vẫn mau mắn vâng lời. Kết quả thật lạ lùng, mẻ cá nhiều quá đến như muốn làm rách lưới. Bối rối trước sự lạ và cảm thấy mình bất xứng không đáng ở gần Chúa Giêsu, Phêrô quỳ sụp dưới chân Người mà nói:

- “Xin hãy xa tôi vì tôi là kẻ tội lỗi”.

Chúa Giêsu trả lời:

- “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới bắt người”.

Rồi đây ông sẽ lôi kéo nhiều tâm hồn về với Chúa như số cá nhiều vô kể ông đã lưới được. Ông đã từ bỏ tất cả: gia đình, thuyền lưới mà theo Chúa Giêsu. Khi chọn 12 tông đồ, Chúa Giêsu đặt ông đứng đầu cả nhóm, vào đầu tháng 4, sau khi hoá bánh ra nhiều, Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ qua bên kia bờ hồ. Gió nổi lên dữ dội: Chúa Giêsu đến với các ông. Mệt nhọc chèo chống ngược gió trong đêm tối, các ông tưởng là bóng ma và lên tiếng kêu la. Chúa Giêsu trấn an:

- “Hãy vững lòng, chính là Ta, đừng sợ”.

Phêrô liền kêu ngay:

- “Lạy Thày, xin truyền cho tôi được đi trên mặt nước mà đến với thày”.

Người bảo:

- “Hãy đến đây”.

Và Phêrô gieo mình đến với Chúa Giêsu. Nhưng sau phút giây tin tưởng ban đầu, thấy gió thổi mạnh, ông sợ và bắt đầu chìm xuống hốt hoảng ông kêu cứu:

- “Lạy Chúa xin cứu tôi “.

Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông và trách ông đã yếu tin (Mt 6,22-33)

Hôm sau, Chúa Giêsu đề cập đến mầu nhiệm Thánh Thể lần đầu tiên. Một số môn đệ bỏ đi, lúc đó Người quay lại hỏi các tông đồ xem có muốn bỏ đi không? Phêrô trung tín đáp lời:

- “Lạy Ngài, chúng tôi sẽ bỏ đi theo ai, Ngài có những lời mang đến sự sống đời đời” (Ga 6,67-68)

Một năm sau Chúa Giêsu đặt vấn đề với các tông đồ:

- “Còn các anh, các anh nói tôi là ai?”

Mau mắn, Phêrô đã chứng tỏ đức tin của mình:

- “Ngài là đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Đáp lại, Chúa Giêsu đã khen thưởng Phêrô và hứa hẹn:

- “ Và Ta, Ta bảo ngươi. Ngươi là đá và trên đá này. Ta sẽ xây Hội Thánh của ta, và quyền môn Âm phủ sẽ không thắng nổi. Ta sẽ trao cho ngươi chìa khoá nước trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên Trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời” (Mt 16,13-19)

Phêrô đã nhận được lời khen thưởng và lời hứa hẹn rất cao trọng. Nhưng khi nghe Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn sắp tới, ông đã vội vàng can ngăn, khiến Chúa Giêsu phải quở trách ông. Đức tin của ông chưa thực sự kiên vững như đá. Phải còn qua nhiều thăng trầm nữa, Phêrô mới thực sự trở thành mẫu người thủ lãnh của Giáo hội. Nhằm đào tạo ông, Chúa Giêsu đã cho ông trực tiếp tham gia vào cuộc phục sinh cho con gái ông Giairô (Mc 5,37). Bấy giờ, Người dẫn các ông lên núi để cho chứng kiến cuộc biến hình đầy uy nghi sáng láng như mặt trời, áo Người với Môsê và Elia; đã nghe tiếng nói từ trời cao nhắn nhủ:

- “Ngài là con chí ái của ta, kẻ Ta đã sủng mộ, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17,1-8).

Những săn sóc đặc biệt kia phải gây ảnh hưởng mạnh nơi tâm hồn Phêrô. Một lần kia khi có người thanh niên giàu có đến gặp Chúa Giêsu mà không theo Chúa được chỉ vì của cải. Phêrô đã mạnh dạn thưa:

- “Này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thày” (Mt 19,27)

Đối với ông chỉ có điều này là quan trọng. Còn nhiều điều ông chưa hiểu được, chẳng hạn như việc Thày khiêm tốn quỳ xuống rửa chân cho các tông đồ ngày thứ năm tuần thánh (Ga 13,7)

Tuy nhiên Phêrô vẫn xác tín vào điều kiện cấp thiết phải trung kiên theo Chúa. Ông đã thưa với Chúa trọn cả tâm tình quả cảm của mình:

- “Tôi sẽ thí mạng sống tôi vì thày”.

Dĩ nhiện nhiệt tình còn phải được chứng nghiệm bởi việc làm. Phêrô chưa biết, chưa lượng định nổi khả năng của mình. Đầy cảm thông Chúa Giêsu báo trước cho ông biết rằng:

- “Quả thật, ta bảo ngươi: gà sẽ không gáy cho tới lúc ngươi sẽ chối Ta ba lần” (Ga 13,36-38)

Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu bắt đầu, Phêrô rút gươm chém đứt tai một binh lính để mong bảo vệ Thày. Sau hành vi bộc phát ấy, Phêrô như nhụt hết nhuệ khí cùng với lưỡi gươm, ông trút trở lại bao theo lời thày, đúng như lời tiên tri báo trước, ba ần ông đã chối thày. Gà lên tiếng gáy, Chúa Giêsu nhìn lại và Phêrô bừng tỉnh và hối hận nước mắt chảy dài (Ga 18,1-27)

Sau cuộc khổ nạn và tử nạn, Chúa Giêsu sống lại, hiện ra nhiều lần. Tại bờ hồ Tibêria, Người đã hiện ra với Phêrô và các bạn khi họ đang thả lưới đánh cá. Gioan nhận ra Người và nhắn nhủ cho Phêrô biết:

- “Chúa đó”.

Với một nhiệt tình xưa, Phêrô vội cuốn áo gieo mình xuống biển đến gặp thầy. Ba lần Chúa Giêsu đã hỏi ông:

- Con có mến Thày không?

Phêrô trả lời:

- Lạy Chúa, Chúa thông biết mọi sự, Chúa biết tôi yêu mến Chúa.

Ba lần xác quyết tình yêu xóa bỏ ba lần chối Chúa. Lúc ấy Chúa Giêsu trao phó sứ mệnh cho ông:

- “Hãy chăn dắt đoàn chiên Ta”.

Và Người thêm:

- “Khi ngươi còn trẻ, ngươi tự thắt lưng mình và đi đâu tuỳ ý, nhưng khi đã về già, ngươi sẽ giang tay ra và người khác sẽ thắt lưng cho và lôi đi nơi ngươi không muốn” (Ga 21,15-18)

Từ đây Phêrô lãnh nhiệm vụ điều khiển cộng đoàn. Ngài đã đề nghị chọn một tông đồ thế chân cho Giuda. Ngày lễ Hiện xuống, Ngài là tông đồ đầu tiên công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa Kitô phục sinh 3000 người trở lại sau bài giảng ấy. Thật là một mẻ lưới lạ lùng.

Tại cửa đền thờ, Phêrô thấy một người què từ lúc mới sinh, Ngài nói với hắn:

- “Vàng bạc tôi không có, song có gì tôi cho anh: nhân danh đức Giêsu Kitô người Nazareth, anh hãy bước đi.

Người què liền khỏi bệnh và nhảy lên vì vui sướng. Sau phép lạ này, thánh Phêrô giảng lần thứ hai cho dân. Lần này số người trở lại lên tới 5000 người. Thành công lớn lao này một cho các đầu mục trong dân bực tức. Họ cấm các tông đồ không được rao giảng về Chúa Kitô nữa. Nhưng đầy can đảm thánh Phêrô trả lời:

- Vâng lời các ông hơn là vâng lời Thiên Chúa có phải lẽ không?

Các tín hữu quây quần bên các thánh tông đồ, họ mang của cải đặt dưới chân các Ngài để mưu ích chung cho mọi người. Annaya và Saphira tiếc của còn muốn nên danh giá. Vợ chồng hắn nói dối là đã dâng hết, khiến lần lượt họ ngã chết ngay dưới chân Phêrô (Cv 5,1-11). Các phép lạ Ngài thực hiện ngày càng nhiều: tại Lyda, Ênêa liệt giường được lành mạnh, tại Giophê, chị Tabihta đã chết hai ngày được sống lại. Bóng của Ngài cũng chữa lành các bệnh nhân.

Thánh Phêrô rảo khắp xứ Giudea rao giảng nước Chúa. Ngài bị Hêrôđê ra lệnh tống giam, nhưng đã được cứu thoát cách lạ lùng. Ngài chủ tọa công đồng Gierusalem, quyết định rằng: các lương dân gia nhập Kitô giáo không phải giữ luật cắt bì.

Thánh Phêrô còn đi rao giảng bên ngoài đất Palestina, Ngài tới Antiôkia, xây dựng Giáo hội tại đây. Sau đó Ngài đi Rôma và biến nơi này thành trung tâm của Kitô giáo. Thời Nêrô cầm quyền, Giáo hội bắt đầu bị bách hại. Thánh Phêrô bị tù và được giải cứu bởi các lính gác trở lại đạo. Ngài trốn đi khỏi thành.

Nhưng vừa tới cửa, Ngài gặp thấy Chúa Giêsu vác thập giá tiến vào, thánh tông đồ hỏi Chúa:

- Thày đi đâu dây?

- Ta vào Roma để chịu đóng đinh một lần nưã.

Thánh tông đồ đã hiểu, Ngài trở vào thành để lãnh nhận án đóng đinh thập giá. Theo chứng của Ôrigênê, thánh Phêrô đã xin được đóng đinh lộn đầu xuống đất vì thấy mình không đáng được chết cùng một cách như Thày.

+ Mộ Ngài được tìm thấy tại chính đền thờ thánh Phêrô ở Rôma ngày nay.

Trở về Mục lục

 

21. Mến Chúa

Mẫu gương chúng ta tìm hiểu hôm nay về hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, đó là lòng mến Chúa.

Hẳn chúng ta còn nhớ lời thánh Giacôbê tông đồ:

- Đức tin không có việc làm, thì chỉ là một đức tin đã chết.

Và theo theo mẹ Têrêsa thành Calcutta:

- Hoa trái của đức tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an.

Như vậy, đức ái vừa là dấu chỉ, vừa là kết quả của đức tin. Giữa đức tin và đức ái luôn có một sợi dây liên kết chặt chẽ. Càng có một đức tin bền vững, thì càng phải có những hành động yêu mến để chứng tỏ đức tin của mình.

Hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, chắc chắn đã có một niềm tin kiên vững, thì cũng phải có một tình mến sâu xa.

Trước hết là đối với thánh Phêrô. Sau lời kêu gọi đầu tiên của Chúa Giêsu bên bờ hồ Tibêriat, Phêrô đã từ bỏ tất cả mà đi theo Chúa. Khi Chúa loan báo mình phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ và chịu chết treo trên thập giá, Phêrô đã không chấp nhận được sự thật phũ phàng ấy, nên đã kéo Chúa ra một góc mà can ngăn:

- Ước gì điều đó đừng xảy ra cho Thày.

Và rồi Phêrô đã bị Chúa quở trách nặng lời về một tình yêu chưa được soi sáng ấy.

Với một trái tim nóng bỏng, đôi lúc Phêrô đã đi tới chỗ quá khích. Tại phòng tiệc ly, Phêrô đã thề thốt cùng Chúa:

- Dù phải chết cùng thày, con cũng sẵn sàng…Dù mọi người có bỏ Thày, thì phần con sẽ không bao giờ.

Và rồi, Phêrô, vị giáo hoàng tiên khởi, đã chối Chúa ba lần. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải ghi nhận: sau đó là tâm tình sám hối của Phêrô. Phúc âm đã ghi lại:

- Phêrô đã ăn n ăn khóc lóc về tội lỗi của mình.

Sau ngày phục sinh, Chúa Giêsu đã đòi hỏi ở Phêrô, vị tông đồ đã phản bội, điều gì nếu không phải là một tình mến chân thành:

- Phêrô, con có yêu mến Thày hơn những người này không?

Và Phêrô đã ba lần xác quyết về tình yêu của mình bằng một câu trả lời đầy khiêm tốn:

- Lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày.

Thánh Augustinô đã diễn tả như sau:

- Gioan có thể đã yêu mến Chúa một cách tha thiết hơn, nhưng tình yêu của Phêrô lại là một tình yêu mãnh liệt. Lòng mến của Gioan nghiêng về tình cảm, còn lòng mến của Phêrô thì quảng đại và chân thành. Và như vậy, Gioan không có một tình mến đối với Chúa vừa dứt khoát, lại vừa sâu xa cho bằng tình mến của Phêrô.

Tiếp đến là đối với thánh Phaolô. Ngoài mười hai thánh tông đồ, chúng ta không thể tìm thấy một trái tim nào nhiệt thành cùng Chúa cho bằng trái tim của Phaolô, vị tông đồ dân ngoại.

Thực vậy, chính Phaolô đã kêu lên:

- Ai có thể chia lìa chúng ta ra khỏi tình mến của Đức Kitô. Bách hại ư? Đói khát ư? Đau khổ ư? Gươm giáo ư?

Rồi Phaolô còn viết thêm:

- Vì đức tin, chúng ta bị bắt bớ và bị dẫn tới lò sát sinh như một con chiên. Tuy nhiên, chúng ta chiến thắng tất cả nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta.

Nơi khác thánh nhân cũng bảo:

- Dù tôi nói được mọi ngôn ngữ của loài người và các thiên thần, nhưng nếu không có đức ái, thì tôi cũng chỉ là như não bạt ầm vang. Dù tôi có ơn nói tiên tri và thấu hiểu mọi mầu nhiệm của khoa học, nhưng nếu không có đức ái, thì tôi cũng chẳng là gì cả. Dù tôi có được một đức tin chuyển núi dời sông, dù tôi phân phát hết mọi của cải, nhưng nếu không có tình mến, thì tôi cũng chẳng là gì cả.

Cũng chính vì tình mến dành cho Chúa mà thánh nhân hăng say rao giảng Tin mừng và phục vụ các linh hồn, dù có phải chịu đựng đòn vọt, tù ngục và muôn vàn khó khăn và thử thách khác nữa.

Sau cùng, đối với thánh Phaolô, cái chết sẽ là một triều thiên vinh quang xứng đáng dành cho một cuộc đời bừng cháy lửa yêu mến.

Thánh Phêrô đã trung thành với Chúa cho đến khi bị đóng đanh vào thập giá trên đỉnh đồi Vatican dưới thời bạo vương Nêron. Còn thánh Phaolô cũng không thua kém thánh Phêtô về phương diện đức tin cũng như tình mến. Thực vậy, sau nhiều năm bị bị tù đày, thánh nhân vẫn không ngừng rao giảng Đức Kitô và sau cùng đã bị chém đầu trên đường Ostie, gần Rôma.

Thánh Phêrô và thánh Phaolô đều là cha đẻ của chúng ta trong đức tin đồng thời đều là thày dạy của chúng ta trong tình mến.

Bởi đó, hãy bước theo hai đấng và xin hai đấng giúp đỡ chúng ta trên bước đường tiến về quê trời.

 

 

22. Lễ Thánh Phêrô và Phaolô – Radio Veritas Asia

(Trích trong ‘Sống Tin Mừng’)

Biến cố xảy ra gần thành Xêsarê thật quan trọng, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm thêm một lần nữa nhân dịp Lễ Kính hai Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ hôm nay. Đây không phải chỉ có một lời tuyên xưng của Phêrô mà thôi, nhưng là hai lời tuyên xưng, đó là của Phêrô và của Chúa Giêsu.

Lời tuyên xưng thứ nhất của Phêrô: "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống". Thiên Chúa yêu thương con người đến độ sai Con Một Người xuống thế để cứu rỗi nhân loại. Lời tuyên xưng của Phêrô nhìn nhận chương trình của Thiên Chúa đang diễn ra trong lịch sử con người: "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống".

Đáp lại lời tuyên xưng này, có thể nói dựa vào lời tuyên xưng Chúa Giêsu tuyên bố vinh hạnh của Phêrô, đồng thời cũng là vinh hạnh của con người, của tất cả mọi người được qui tụ trong đại gia đình của Thiên Chúa, trong một cộng đoàn con cái Thiên Chúa: "Này Simon Phêrô, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy".

Phêrô tuyên xưng vinh quang của Thiên Chúa, Chúa Giêsu tuyên xưng vinh quang của Phêrô. Phêrô được chọn làm đá tảng và sự lựa chọn đó bền vững muôn đời, cho dù Phêrô có thế nào đi nữa thì Thiên Chúa vẫn không thay đổi chương trình, không hủy bỏ sự lựa chọn: "Phêrô con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy". Vinh quang của Phêrô được Chúa Giêsu tuyên bố ra đây không phải là để Phêrô khoe khoang vinh quang hay hưởng thụ quyền lực và danh vọng, mà là vinh quang của thập giá, của hy sinh chiến đấu, của sự từ bỏ mọi sự cho đến cả mạng sống mình, và chúng ta biết rõ con đường vinh quang thập giá mà Phêrô đã trải qua.

Phêrô vừa mới tuyên xưng một sự thật: "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống", tiếp đó Chúa Giêsu tuyên bố một sự thật khác:"Trên đá tảng là chính con đây, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy". Phêrô mới nhìn nhận mầu nhiệm Con Thiên Chúa nơi chính con người Giêsu thành Nazareth đang đứng trước mặt mình, thì Chúa Giêsu liền mạc khải thêm mầu nhiệm Nhập Thể thường hằng mãi mãi trong lịch sử, không phải cho một người mà cho nhiều người được qui tụ lại làm con Thiên Chúa trong một cộng đoàn, một Giáo Hội của Người. Giáo Hội là một mầu nhiệm nhập thể kéo dài mãi mãi của Con Thiên Chúa, đó là Giáo Hội mà chúng ta đang là phần tử và đó cũng chính là Giáo Hội mà Chúa Giêsu muốn thiết lập.

Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến với Ngài trong Giáo Hội, để chúng ta được biến đổi thành con cái Thiên Chúa, sống trong sự hiệp thông với Chúa và với nhau. Tất cả mọi sinh hoạt của người đồ đệ Chúa đều được diễn ra trong Giáo Hội của Ngài, và mọi Kitô hữu đều được qui tụ lại với nhau trong Chúa, trong một thân thể huyền nhiệm của Chúa. Đây là Giáo Hội của Thầy, trên tảng đá Phêrô, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được.

Giáo Hội yếu hèn vì gồm những con người tội lỗi, nhưng Giáo Hội cũng rất thánh thiện, tràn đầy thánh sủng của Chúa và được gìn giữ đến tận cùng: "Con là Phêrô nghĩa là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được". Lời công bố long trọng của Chúa Giêsu đã trấn an các Tông Đồ, đồng thời mạc khải tính cách thường hằng mãi mãi. Giáo Hội sẽ hiện diện mãi mãi trong lịch sử cho đến tận thế, dù cửa hỏa ngục, tức quyền lực của hỏa ngục tấn công vào Giáo Hội, nhưng hỏa ngục sẽ không thắng được. Chúng ta hãy tin tưởng vào Giáo Hội cho đến cùng, chúng ta hãy chiến đấu với chính sự dữ nằm trong bản thân để giúp Giáo Hội chiến thắng trên mọi sự dữ.

Lạy Chúa, xin hướng dẫn con trên đường về cùng Chúa, xin tăng triển nơi con tình yêu thương và tin tưởng vào Giáo Hội, xin củng cố đức tin và củng cố sự hiệp nhất giữa chúng con trong Chúa và trong Giáo Hội của Chúa. Amen.

 

 

23. Giáo Hội

Mừng kính lễ hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, hai cột trụ vững chắc, chống đỡ cho tòa nhà Giáo hội, chúng ta cùng nhau nhìn vào tình trạng hiện nay, để rồi từ đó rút ra những kết luận thực hành. Nhìn vào Giáo hội hiện nay, chúng ta phải ghi nhận ba sự kiện đáng buồn sau đây:

Sự kiện thứ nhất, đó là người ta giảm sút lòng tôn trọng và vâng phục quyền bính trong Giáo hội.

Thực vậy, nếu theo dõi báo chí, ngay cả những tờ báo công giáo, chúng ta thấy xuất hiện một khuynh hướng cấp tiến nguy hiểm. Khuynh hướng này nhằm đả phá phẩm trật trong Giáo hội, bôi nhọ Đức Thánh Cha và nhất là phê bình những quyết định của Giáo hội. Tôi xin đan cử một trường hợp gần đây nhất, để cho thấy sự sút giảm đã đến hồi trầm trọng. Ai cũng biết Giáo hội Ý là một Giáo hội được coi như toàn tòng công giáo và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là một vị Giáo Hoàng được cảm tình của nhiều người. Khi ngài bị ám sát hụt tại công trường thánh Phêrô, ai cũng cảm thấy xót thương. Thế nhưng, hầu hết người dân Ý vẫn đi bỏ phiếu để chấp thuận luật phá thai, một vấn đề đã được ngài từng lên tiếng phản đối nhiều lần.

Đi xuống một lãnh vực nhỏ bé hơn, trong những câu chuyện thường ngày, tôi được nghe rất nhiều những lời chỉ trích, hạ nhục uy tín các linh mục. Tôi cũng được biết đến rất nhiều vụ kiện về cha này hay cha khác. Kéo nhau ra cha quản hạt hay lên Tòa giám mục mà thôi chưa đủ, họ còn mượn tay chính quyền để phân xử.

Sự kiện thứ hai, đó là người ta đòi hỏi Giáo hội hơn là đòi hỏi chính bản thân mình.

Thực vậy, người ta luôn đặt quyền lời của cá nhân hay gia đình lên trên quyền lợi của Giáo hội. Người ta đòi hỏi các cha, các thày, các dì phải thế nọ, phải thế kia, nhưng lại chẳng bao giờ tự hỏi lòng mình: Tôi đã làm được gì cho Giáo hội?

Rồi từ đó, người ta đi tới một thái độ cực đoan, muốn kiểm soát cả những vị bề trên của mình. Không thiếu gì những cặp mắt soi mói, luôn dò xét nhà thờ, nhà xứ, không phải để nâng đỡ, mà để bới móc. Và nếu chẳng may có một sự việc gì không được vừa ý là thổi phồng và bàn tán xôn xao.

Có nơi, ban hành giáo muốn kiểm soát cả sự chi tiêu của cha sở. Muốn làm bất cứ việc gì cũng phải trình qua ban hành giáo, bằng không thì sẽ có chuyện đôi co, chẳng lành. Hành động như thế là đi ngược lại với nguyên tắc quyền bính trong Giáo hội. Thực vậy, quyền bính trong Giáo hội phải từ trên đi xuống, chú không phải từ dưới đi lên.

Sau cùng, sự kiện thứ ba đó là người quá lo lắng cho bản thân, quá vun quén cho gia đình, mà quên đi lợi ích chung của giáo xứ, của giáo phận, cũng như của Giáo hội.Chẳng hạn việc bàu ban hành giáo. Mặc dù được nhắc đi nhắc lại chẳng biết bao nhiêu lần, thế mà số người ra ứng cử vào ban hành giáo chẳng được bao nhiêu. Hình như người ta ngại gánh vác những công việc chung. Ai cũng than là gia đình mình quá bận rộn và thiếu thốn. Tuy nhiên, xét cho cùng phải chăng là chúng ta thiếu tinh thần chung và chúng ta ngại hy sinh cho giáo xứ? Đã thế, khi có người thiện chí, dám hy sinh ra gánh vác công việc chung, thì chúng ta lại tìm cách ngăn cản, hay gièm pha thế này thế khác.. Chúng ta nói rằng mình yêu mến Giáo hội, thì hãy chứng minh lòng yêu mến ấy bằng những việc làm cụ thể. Đừng tưởng rằng mỗi năm mình đóng góp dăm ba chục ngàn hay một vài trăm ngàn là đã làm tròn phận sự, là đã yên lương tâm, để rồi có quyền đòi hỏi và hạch sách. Chúng ta thử nghĩ xem sự đóng góp ấy được là bao so với những chi phí cần thiết cho việc sinh hoạt cũng như cho việc duy trì và kiến thiết của giáo xứ.

Chẳng hạn việc học hỏi giáo lý. Mỗi năm mới có một kỳ hè. Đây là thời gian thuận tiện để mở những khóa giáo lý. Chính các Đức Giám mục cũng muốn như vậy. Không phải chỉ mình giáo xứ của chúng ta, mà hầu như tất cả các giáo xứ đều mở. Khi mở những khóa giáo lý như vậy, chúng tôi vừa hao tốn tiền bạc, vừa hao tốn thời giờ, lại vừa hao tốn công sức…Thế nhưng, chúng tôi sẵn sàng chấp nhận để con em chúng ta được bồi dưỡng về đạo đức, được giáo dục về đức tin. Tuy nhiên, tôi thấy có những người đã phát biểu nghe nó chua chát làm sao: Con tôi không phải để đi chơi, nhưng phải tập cho nó biết làm ăn… Nghỉ giáo lý một ngày thì không sao, chứ nghỉ ăn một ngày thì chết…

Từ những sự việc trên, chúng ta đi vào ngày lễ hôm nay: hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ đã chết để tuyên xưng đức tin và đã trở thành nền móng cho Giáo hội công giáo.

Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có dám sống và dám chết cho Giáo hội hay không? Chúng ta có dám lên tiếng để bênh vực những quyền lợi chính đáng Giáo hội hay không? Mỗi người chúng ta phải là một viên gạch, góp phần vào việc xây dựng Giáo hội. Vậy chúng ta cần phải làm gì?

Trước hết, chúng ta hãy tôn trọng và vâng phục quyền bính trong Giáo hội.Nhiều khi, trong những lúc vui đùa bên mâm cơm hay bên tiệc rượu, chúng ta đã kể những mẩu chuyện tiếu lâm liên quan tới tôn giáo. Làm như vậy, chúng ta đã vô tình coi thường những chức vụ trong Giáo hội, để dẫn tới những thái độ bất kính.

Tiếp đến, chúng ta hãy dùng lời nói và việc làm để góp phần xây dựng cho giáo xứ của mình, cũng như cho những giáo xứ khác, trong một tầm nhìn rộng lớn hơn và tổng quát hơn.

Đừng bao giờ hỏi rằng: Giáo hội đã làm gì cho tôi? Nhưng hãy tự vấn lương tâm xem: Tôi đã làm gì cho Giáo hội?

 

 

24. Suy niệm của JKN

ÔNG PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA

Câu hỏi gợi ý:

1. Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”, thì bạn trả lời theo những gì bạn chứng nghiệm về Ngài, hay theo sự hiểu biết học được từ người khác?

2. Là Kitô hữu, bạn đã có những cảm nghiệm thực tế và cụ thể về Đức Giêsu chưa, hay chỉ có một mớ những hiểu biết lý thuyết về Ngài, dù rất uyên bác sâu rộng?

3. Bạn có muốn thật sự cảm nghiệm về Ngài không? Bạn đã từng nỗ lực làm điều này chưa? Theo bạn, phải làm sao để cảm nghiệm được Ngài?

Suy tư gợi ý:

1. “Người ta nói…”, nhưng “còn anh em…” thì sao?

Khi trình bày về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, chúng ta thường trình bày một cách lý thuyết, dựa trên những bài bản có sẵn, do người khác soạn sẵn, suy nghĩ sẵn, chúng ta chỉ việc nói theo đó. Điều đó cũng phần nào hợp lý, vì có dựa trên những bài bản có sẵn đó, thì những người nói về Thiên Chúa hay Đức Giêsu mới có sự đồng nhất với nhau. Nếu mỗi người đều nói theo quan niệm hay suy tư riêng của mình, thì sẽ thành ra mỗi người nói một kiểu, người nghe biết tin theo ai. Nhưng lý thuyết vẫn luôn luôn là lý thuyết, là cái gì ở ngoài mình, và được áp đặt xuống cho mình. Xét cho cùng đó chỉ là cái “người ta nói”, còn ta chỉ là người nói theo thôi. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu hỏi các môn đệ hai câu khác hẳn nhau: “Người ta nói Con Người là ai?” và “còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Rõ ràng trong hai câu hỏi, Đức Giêsu coi câu sau quan trọng hơn câu trước rất nhiều. Ngài chỉ dựa vào câu trả lời cho câu hỏi sau để xem ai là người đáng Ngài tin cậy nhất.

2. Điều quan trọng là cảm nghiệm thực tế về Đức Giêsu

Điều quan trọng không phải là những điều chúng ta nghe biết về Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Đó là những điều chúng ta học được trong sách giáo lý, hay đọc được từ những tác phẩm thần học… Đó toàn là những điều “người ta nói” về Ngài, chứ không phải là những điều chính bản thân ta cảm nghiệm được về Ngài. Chính những cảm nghiệm đích thực về Ngài mới có khả năng làm ta yêu mến Ngài và dám dấn thân sống chết cho Ngài. Thật vậy, làm sao có thể yêu mến và dấn thân cho một người mà mình chỉ biết trên lý thuyết, chứ chưa từng gặp mặt, chưa từng có một quan hệ ngoại giao hay tình cảm nào? Nhưng làm sao có được những cảm nghiệm về Thiên Chúa hay Đức Giêsu? làm sao có được quan hệ tình cảm riêng tư với Ngài, khi mà Ngài vô hình, ta chẳng hề thấy hay gặp bao giờ?

3. Làm sao cảm nghiệm được Ngài?

Vấn đề rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu đích thực là phải cảm nghiệm được sự hiện diện và hoạt động của Ngài trong đời sống của ta, và có được một quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài. Nếu không có được cảm nghiệm và quan hệ này, Thiên Chúa hay Đức Giêsu vẫn chỉ là một ý niệm trong đầu óc ta không hơn không kém. Ý niệm ấy chẳng khác gì ý niệm về ánh sáng hay mầu sắc của một người mù bẩm sinh, sở dĩ có được là do nghe người khác nói.

a) Cần thường xuyên ý thức Ngài hiện diện trong bản thân ta

Cảm nghiệm về Thiên Chúa hay Đức Giêsu phải khởi đi từ niềm tin này, là tin Ngài thật sự hiện diện trong tâm hồn ta. Đây là sự thật làm nền tảng cho đời sống tâm linh của ta, và là một tiêu chuẩn để biết mình có đức tin Kitô hữu hay không. Thật vậy, thánh Phaolô nói: “Anh em hãy tự xét xem mình có còn sống trong đức tin hay không. Hãy tự kiểm điểm xem: anh em chẳng nhận thấy có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?” (2Cr 13,5). Chúng ta không có may mắn gặp hay cảm nghiệm được Ngài bằng xương bằng thịt cách hữu hình như các tông đồ xưa. Tuy nhiên, dẫu có may mắn đó, chưa chắc ta đã “gặp” được Ngài thật sự. Biết bao người sống vào thời Đức Giêsu - chẳng hạn những người Pharisiêu hay các kinh sư Do-thái - đã từng thấy Ngài, nói chuyện với Ngài, nhưng đâu có “gặp” được Ngài, đâu có quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài! Vì sao? Vì “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng” (có duyên với nhau thì dù xa cách ngàn dặm cũng vẫn có thể gặp nhau, còn không có duyên với nhau thì có mặt chạm mặt cũng không thể gặp nhau). Hễ có duyên với Ngài thì sẽ khao khát muốn gặp Ngài và sẽ đi tìm Ngài. Mà hễ đã thật sự đi tìm thì ắt nhiên sẽ gặp, vì “ai tìm sẽ thấy” (Mt 7,8).

Sự hiện diện của Ngài trong bản thân ta đã được chính Ngài xác nhận: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Thánh Phaolô cũng nói: “Chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11); “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em” (Gl 4,6).

Vấn đề hết sức quan trọng là ta phải thường xuyên ý thức sự hiện diện ấy, đồng thời tin tưởng rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương; và với Ngài, ta có thể làm được tất cả mọi sự (x. Pl 4,13).

b) Cần tạo điều kiện để Ngài tự do hoạt động trong ta

Điều quan trọng thứ hai để Ngài có thể hoạt động hữu hiệu trong ta là phải để cho Ngài được tự do hoạt động. Điều làm cho Ngài không thể tự do hoạt động trong ta chính là ý riêng của ta và sự thiếu cộng tác của ta. Nếu ta coi nhẹ ý riêng mình để lúc nào cũng sẵn sàng cộng tác với Ngài thực hiện những gì Ngài muốn làm trong ta, thì ta sẽ thấy Ngài dần dần thực hiện được trong ta những thay đổi lớn lao. Chính Đức Giêsu cũng coi nhẹ ý riêng của Ngài, và luôn cộng tác với thánh ý Chúa Cha: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38); “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 5,30); “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34). - Nhưng làm sao biết được ý của Ngài thế nào?

Ý của Ngài được biểu lộ:

(1) trước hết và đặc biệt trong lời của Ngài, được ghi chép trong Kinh Thánh,

(2) trong luật của Ngài (được tóm lại trong hai chữ yêu thương),

(3) trong tiếng lương tâm của ta,

(4) trong các bổn phận và trách nhiệm của ta đối với Thiên Chúa, bản thân, tha nhân, gia đình, xã hội và Giáo Hội,

(5) trong các biến cố khách quan - tức xảy ra độc lập với ý muốn của ta - trong đời sống. Ngài dùng những biến cố này để thánh hóa ta.

Chỉ cần thực hiện được hai điều quan trọng trên thì tự nhiên giữa ta với Đức Giêsu càng ngày càng có một quan hệ mật thiết hơn. Dần dần, ta nhận ra Ngài đúng là một nhân vật, tuy vô hình nhưng rất “cụ thể”, có thể cảm nghiệm được cách sống động và rõ rệt. Ngài đóng một vai trò quan trọng trong đời sống ta, ảnh hưởng và biến đổi đời sống ta một cách mạnh mẽ, hữu hiệu.

4. Người có đức tin sống động là nền tảng của Giáo Hội

Có cảm nghiệm được Ngài, ta mới có thể trả lời đúng ý Ngài câu hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ngài muốn ta trả lời dựa trên chính kinh nghiệm của ta chứ không phải dựa trên những bài bản, trên những gì ta chỉ được nghe và ép lòng mình phải tin. Chỉ lúc đó, đức tin của ta mới trở thành đức tin đích thực, đến từ cảm nghiệm thực tế, chứ không chỉ đến từ một chấp nhận xuông của lý trí với tác động của ý chí. Chỉ đức tin ấy mới đủ sức mạnh để thúc đẩy ta thật sự dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân. Ta phải làm sao nói được như những người Samari xưa: “Không phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, mà vì chính chúng tôi đã đích thân nghe Người nói và nhận ra rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,41).

Chỉ lúc đó, Đức Giêsu mới có thể nói với ta như đã nói với Phêrô: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”. Theo ngữ cảnh của bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói với Phêrô câu ấy vì ông là người có đức tin mạnh mẽ, chứ không phải vì ông là trưởng nhóm các tông đồ. Thật vậy, trong thực tế từ xưa đến nay, Giáo Hội được xây dựng và tồn tại trên những đá tảng vững chắc là những người có đức tin sống động, dù họ là giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ. Chứ Giáo Hội không được xây trên những người đạt được những quyền cao chức trọng trong Giáo Hội nhưng lại không có đủ đức tin và tình yêu, không có một tương quan thật sự với Đức Giêsu. Lịch sử Giáo Hội đã chứng tỏ những người này chẳng những không làm vững chắc mà còn làm lung lay tòa nhà Giáo Hội nữa.

Ước gì mỗi người chúng ta có thể nói tương tự như Phêrô, nghĩa là nói bằng chính cảm nghiệm của mình, chứ không phải lập lại một cách máy móc lời của một người khác: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giêsu mong muốn chúng ta nói được như thế!

Cầu nguyện

Lạy Cha, đức tin và tình yêu đích thực không hề đến từ những hiểu biết có tính lý thuyết, mà đến từ khát vọng muốn cảm nghiệm được Cha và lòng quyết tâm đi tìm cảm nghiệm ấy. Xin đừng để con thỏa mãn và dừng lại nơi những hiểu biết về Cha, mà quyết tâm tìm cách cảm nghiệm Cha. Đừng để con giống như kẻ “ăn bã mía”, thấy người ta ăn mía khen ngọt, mình cũng nhai lại những bã ấy và bắt chước họ khen ngọt. Xin cho con cảm nếm được Cha, thưởng thức được sự ngọt ngào của tình yêu Cha dành cho con.

 

 

25. Bài giảng của ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

… “Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Anh chị em thân mến,

Có thể nói Chúa Giêsu không quan tâm đến dư luận nghĩ như thế nào về Ngài: Là Gioan Tẩy Giả mà Hêrôđê giết chết nay sống lại, là Elia, Giêrêmia, một tiên tri nào đó … điều đó không quan trọng. Người đời tự do nhận hay khước từ Chúa Giêsu, việc đó từ khi Ngài xuống thế gian cho đến bây giờ vẫn luôn xảy ra, chẳng những thế người ta còn gán cho Ngài những danh xưng, những đức tính hay những tật xấu … việc đó cũng không quan trọng.

Quan trọng là chúng ta, những người Ngài đã kêu gọi và được thanh tẩy trong Bí Tích Rửa Tội, Ngài đã ban cho Thần Khí của Ngài, Ngài đã dùng Lời và Mình Máu Thánh Ngài để nuôi dưỡng, Ngài đã không ngớt yêu thương và chăm sóc … Chúa sẽ hỏi chúng ta: “Còn con, con nghĩ Thầy là ai?”

Qua bài Tin Mừng Mt 16, 13 – 19: Hỏi về dư luận chỉ là cớ để Chúa Giêsu bắt vào câu chuyện, còn vấn đề chính là dành cho các tông đồ: “Chúng con nghĩ Thầy là ai?” sau khi Phêrô trả lời, Chúa Giêsu nói ngay: “Chẳng phải (điều con tuyên xưng) do xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Chính Chúa Cha đã mạc khải, đã chọn, đã tỏ cho thấy con có đức tin đó, cho nên Thầy chọn con, con trở nên tảng đá vững chắc, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy trên con và Giáo Hội sẽ không bao giờ lay chuyển…

Thưa anh chị em,

Kể từ giây phút đó, dường như Chúa Giêsu bắt đầu đổi hướng trong việc rao giảng và giáo huấn. Ngài dành nhiều thì giờ cho nhóm Mười Hai, Ngài dạy dỗ, chỉ bảo cho các ông, vì Ngài biết rằng đây là nhóm người mà Chúa Cha đã chọn, đã trao cho Ngài và từ những con người này (những con người còn đầy dẫy những khuyết điểm, yếu đuối…) Ngài xây dựng làm nền tảng cho Hội Thánh. Trải qua bao nhiêu thử thách, không quyền lực nào có thể lay chuyển được Hội Thánh mà Ngài đã xây dựng. Chúng ta chính là Hội Thánh đó, là những con người Ngài xây dựng và luôn gìn giữ.

Trở lại với bài sách Công Vụ (Cv 12, 1 – 11), tôi nghĩ rằng dù trình bày như thế nào, chúng ta cũng không quên trọng tâm của câu chuyện: Thiên Chúa giữ lời Ngài nói qua miệng Chúa Giêsu “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lời Ngài được thực hiện khi thiên thần giải thoát Phêrô khỏi ngục tù cách lạ lùng (Phêrô được Chúa tuyển chọn và Phêrô được Chúa trao cho quyền tha - buộc tội lỗi, và trong chức năng đó, Chúa gìn giữ Phêrô…). Giáo Hội trải qua 2000 năm với bao nhiêu thử thách nhưng vẫn là Giáo Hội của Đức Kitô, ngày hôm nay có thể mang nhiều sắc thái khác nhau, những vị Giáo Hoàng khác nhau, nhưng vẫn là một Giáo Hội duy nhất, Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Phêrô. Chúng ta thấy Lời Chúa vẫn luôn được thực hiện,

Chương trình của Thiên Chúa rất mầu nhiệm, phong phú và đa dạng. Chúng ta nghĩ rằng với thánh Phêrô, với đoàn tông đồ như thế là đã đủ và từ đó cứ tiếp nối để Giáo Hội trường tồn, nhưng không, bên cạnh đó Chúa đã tuyển chọn Phaolô cách rất đặc biệt: Từ con người hăng hái bắt đạo, Chúa đã biến đổi lòng dạ và làm cho Phaolô trở nên tông đồ nhiệt thành.

Vậy vai trò của Phaolô trong Hội Thánh lúc bấy giờ là gì? (Đọc trong những đoạn kinh Phụng Vụ để thấy Thiên Chúa nhiệm mầu trong chương trình của Ngài) Phêrô là người tuyên xưng đức tin, trên Phêrô đức tin được xây dựng; Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin, là người đem đức tin đó gieo trồng khắp mọi nơi. Hai khía cạnh đó luôn có Trong Hội Thánh, sứ mạng củng cố đức tin, xây dựng nội bộ và sứ mạng truyền giáo, sứ vụ đến với muôn dân … Ngày hôm nay chẳng những trong lòng Giáo Hội, chẳng những ở Giáo Hội địa phương mà ngay mỗi Giáo Xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi người luôn phải sống hai khía cạnh đó: một đàng phải luôn đào sâu đức tin, sống gắn bó với Chúa nhiều hơn, đàng khác chúng ta không chỉ được sống cho mình mà phải biết chia sẻ đức tin cho anh em, càng biết đến với anh em, càng biết chia sẻ đức tin, biết loan báo Tin Mừng thì đức tin chúng ta càng vững chắc. Đó là chương trình của Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta. Có thể chúng ta nói mình yếu đuối, tọi lỗi, nhưng thành thật mà nói, chắc chúng ta không tội lỗi hơn thánh Phaolô, cũng không tội lỗi hơn thánh Phêrô; còn nếu nói chúng ta yếu đuối thì tôi nghĩ rằng thánh Phaolô và thánh Phêrô còn có lúc yếu đuối hơn chúng ta. Thiên Chúa đã tuyển chọn và làm những việc lạ lùng với những con người tội lỗi, yếu đuối đó. Chúng ta cũng được Chúa tuyển chọn và ban Thánh Thần của Ngài, thế thì tại sao chúng ta lại không đi trên con đường đó và không can đảm nhận lấy trách nhiệm và sứ vụ đó?

Cử hành trọng thể lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta cám ơn Chúa đã yêu thương và xây dựng Hội Thánh để Ngài luôn hiện diện giữa thế gian. Nhờ có Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa và được dạy dỗ để đi trên con đường của Ngài. Tin vào điều đó nhưng đồng thời cũng tin Chúa trao cho chúng ta (ở trong Hội Thánh) sứ vụ làm chứng cho Ngài, vì Ngài không chỉ muốn cứu độ một nhóm người, nhưng Ngài muốn tình yêu cứu độ của Ngài phải được loan báo cho muôn dân. Chúng ta là những người mà Ngài đang cần đến, là những người mà Ngài tuyển chọn để thi hành sứ mạng đó.

Mừng lễ hai thánh tông đồ, chắc chắn chúng ta thêm niềm tin trong Hội Thánh, thêm niềm tin trong sứ vụ mà Chúa đã trao cho Hội Thánh. Noi theo gương hai Ngài, chúng ta luôn tuyên xưng cách vững chắc “ Ngài là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống”, Ngài là Đấng đã đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, Ngài đã xây dựng và đã sai Hội Thánh tiếp nối công việc của Ngài. Hiểu và tin được điều đó, chúng ta đã góp phần xây dựng Hội Thánh trường tồn và lan rộng cho đến tận cùng thế giới.

 

 

26. Lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

Khi đọc lại lịch sử của hai vị thánh Phêrô và Phaolô, nhân loại không khỏi ngạc nhiên vì hai con người này hai tính khí khác nhau, hai nền giáo dục khác nhau, nhưng đã bổ túc cho nhau khiến hai Đấng trở nên cột trụ vững chắc cho Giáo Hội của Chúa Kitô ở trần thế. Thánh Phêrô,vị tông đồ trưởng đã bộc trực thưa với Chúa Giêsu ba lần “Ngài yêu mến Chúa”, nhưng sau đó lại chối Chúa ba lần. Còn thánh Phaolô, một con người bắt bớ Giáo Hội của Chúa, đã bị Chúa làm cho tan nát trên đường đi Đamas.

HAI KHUÔN MẶT - MỘT NIỀM TIN

Tin mừng Matthêu thuật lại, các môn đệ sau khi theo Chúa một thời gian khá dài, có nhiều dư luận nói về Chúa Giêsu, người thì bảo là Êlia, người bảo là Giêrêmia hay là một ngôn sứ nào đó, còn các môn đồ nghĩ sao? Chúa Giêsu muốn biết tấm lòng và sự hiểu biết của các tông đồ đối với Chúa Giêsu như thế nào và đây là điều Ngài muốn biết. Ông Simon Phêrô vẫn nhanh nhảu, nóng nảy, bộc trực đã thưa với Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Chúa Giêsu đã rất hài lòng về câu trả lời của Phêrô và đây là câu trả lời Chúa Giêsu muốn biết. Đức Giêsu nói với Simon Phêrô: “Này anh Simon, con ông Gio-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Đức tin của Phêrô đã giúp Ông thốt lên và tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Chính nhờ đức tin, sự xác tín và sự tuyên xưng của Simon Phêrô, Chúa Giêsu đã đặt thánh Phêrô làm đầu Hội Thánh (Mt 16,18). Còn Phaolô, sau khi bị Chúa đánh cho ngã ngựa trên đường Đamas đang khi thực hiện ý đồ triệt hạ các môn đệ và Giáo Hội của Chúa, Phaolô đã nghe tiếng Chúa nói: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai? Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ.” (Cv 9, 4-5). Sao-lô tức Sa-un đã được Khanania đặt tay chữa lành và làm cho Sa-un được sáng mắt do quyền năng của Chúa và Ông đã lại thấy được, Ông đứng dậy và lãnh nhận phép rửa (Cv 9,17-19). Từ hôm đó Ông đã mạnh dạn rao giảng về Chúa khiến nhiều người Do Thái ngạc nhiên tự hỏi: “Ông này chẳng phải là người ở Giêrusalem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giêsu sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?” (Cv 9,21). Phaolô đã làm bẽ mặt những người Do Thái ở Đamát, khi minh chứng rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Cv 9, 22).

Thánh Phaolô đã được các tông đồ tin tưởng nhờ đó Ông và các tông đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa (Cv 9,28). Thánh Phêrô và thánh Phaolô mỗi người một cách suy nghĩ, mỗi người một tính khí nhưng dưới ánh sáng của Tin Mừng, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, hai Ngài đã trở thành hai cột trụ vững chắc cho Giáo Hội nhờ đức tin của các Ngài được Chúa củng cố.

THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ NÊU GƯƠNG TÔNG ĐỒ CHO TA:

Dù thánh Phêrô đã chối Chúa tới ba lần, dù trước đó Ngài đã cương quyết theo Thầy tới cùng, nhưng khi nghe Chúa loan báo cuộc thương khó Ngài phải chịu để cứu độ nhân loại, Phêrô không thể hiểu được Thầy mình, Ông đã cản ngăn đường Chúa đi, Chúa đã khiển trách Phêrô rất nặng lời, cho ông là Satan, ma quỉ. Nhưng Phêrô đã nhận ra con người của Chúa sau ba lần chối Thầy. Phêrô cũng chỉ nhận ra tình yêu và lòng xót thương của Chúa sau những giọt nước mắt tang thương, ăn năn, sám hối. Còn Phaolô chỉ nhận ra Chúa khi Ông hăm hở, lấc cấc, hăng say truy lùng, bắt bớ các môn đệ của Chúa. Ông chỉ hiểu được lòng tha thứ và tình thương của Chúa khi Ông ngã ngựa và đôi mắt bị mù lòa trên đường Đamas. Hai thánh nhân đều ý thức việc quay trở lại với Chúa, đều cảm nghiệm tình thương xót hải hà của Chúa. Hai Ngài đã rất thực, sống hoàn toàn như mình nghĩ và cũng hồi sinh mau chóng khi hiểu được con người đầy xót thương của Chúa Giêsu. Nên, dù hai tính khí, hai nền giáo dục, hai khả năng, hai cách làm việc khác nhau, thánh Phêrô và thánh Phaolô đã bổ túc cho nhau để xây dựng Giáo Hội của Chúa vững chắc ở trần gian này. Hai vị thánh tông đồ đã nêu gương sáng cho nhân loại, cho Hội Thánh, cho từng người về lòng nhiệt thành, sự can đảm và sự say mê truyền giáo của các Ngài. Hai Ngài còn cho nhân loại thấy dù yếu hèn, dù tội lỗi, dù kém tài, Chúa vẫn luôn dùng tới nếu con người biết tin, cậy và quay trở về với Chúa. Mỗi một con người đều có chỗ đứng trong trái tim Chúa. Chúa thương yêu con người không chung chung, có lệ, nhưng Chúa gọi tên từng người một vì “Ta biết chiên và chiên biết Ta”. Chúa dùng mọi người, dùng mỗi người với tất cả những gì đang có, những khuyết điểm, những hạn hẹp của con người, Chúa xử dụng tất cả để làm phong phú, đa dạng và làm nổi bật quyền năng, uy dũng của Ngài. Lễ hai thánh Phêrô và Phaolô là lễ kính mầu nhiệm Hội Thánh đặt nền tảng trên các Ngài. “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con được vui mừng hoan hỷ nhân ngày đại lễ kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Chính nhờ các Ngài, Hội Thánh đã bắt đầu đón nhận đức tin, xin cho Hội Thánh cũng luôn trung thành tuân giữ lời các Ngài giảng dạy”.

 

 

27.Những Tương Đồng Lạ Lùng - Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Giáo hội mừng kính hai Thánh Tông đồ, hai cột trụ Giáo hội cùng chung một ngày. Hai con người khác nhau từ cá tính đến thân thế nhưng có rất nhiều cái chung.Cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô. Cùng chung một niềm tin vào Chúa Kitô. Cùng chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó. Và cuối đời cùng chịu tử đạo vì Chúa Kitô tại Roma. Cùng chia sẽ một niềm tin, cùng thi hành một sứ mạng, Chúa Kitô đã đã đưa hai Ngài đến một cùng đích, một vinh quang đội triều thiên khải hoàn. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Thánh Tông Đồ được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6.

Hai con người khác biệt ấy lại có những điểm tương đồng lạ lùng.Chúa Kitô đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người. Thánh Phêrô, trước đây hèn nhát, sợ hãi, chối Chúa, về sau yêu Chúa nồng nàn thiết tha. Thánh Phaolô, trước kia ghét Chúa thậm tệ, sau này yêu Chúa trên hết mọi sự. Trước kia hai vị rất khác biệt, bây giờ cả hai nên một trong tình yêu Chúa.

1. Hai tên gọi cùng được đổi mới.

Theo cách dùngThánh Kinh, tên không những chỉ là danh xưng dùng để gọi một người mà còn là hiện thân của một người (x.Từ điển Công Giáo phổ thông).Tên gọi nói lên một sứ mạng. Tên mới biểu tượng một thân phận mới một bản chất mới. Ađam đặt tên cho mọi giống vật và đặt tên cho vợ: “Ngươi sẽ gọi tên vợ là Eva, vì bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20). Abram được đổi tên để nhận lấy một sứ mạng cao cả: “Tên ngươi không còn là Abram nữa, mà là Abraham…Sarai, vợ ngươi, sẽ không còn là Sarai nữa. Song tên nó là Sara. Bởi Sara, ngươi có một người con trai, ngươi sẽ đặt tên cho nó là Isaac” (St 17,5-20). Tổ phụ Giacop được đổi tên là Israel: “Người đó hỏi ông: "Tên ngươi là gì? " Ông đáp: "Tên tôi là Giacop." Người đó nói: "Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacop nữa, nhưng là Israel, vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng." (St 32,28-29).Theo lời Sứ thần Gabriel, Đức Maria đặt tên cho con là Giêsu. Ông Giacaria đặt tên cho con trai là Gioan.

Khi Anrê dẫn em trai là Simon đến gặp Chúa Giêsu, Người nhìn Simon và nói: “Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha(tức là Phêrô)(Ga 1,42). Chúa xây dựng Giáo Hội trên Đá Tảng Phêrô: “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Chúa còn trao chìa khoá Nước trời cho Phêrô.

Saolô là một biệt phái nhiệt thành. Trên đường đến Đamát, thình linh một luồng sáng từ trời bao tỏa lấy Saolô. Ông ngã xuống đất và nghe một giọng nói với ông: “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Saolô hỏi: “Ngài là ai?” Và có tiếng trả lời “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,1-5). Saolô đã bị mù lòa. Ông làm những gì được chỉ bảo. Ba ngày sau, ông Annanias đến, đặt tay trên Saolô và ngay lập tức có cái vảy bong ra khỏi mắt và ông được sáng. Ông đứng dậy và chịu phép rửa (Cv 9,6-18). Từ đó, Chúa Giêsu biến đổi Saolô thành một Tông đồ dân ngoại. Kể từ chương 13 sách CVTĐ, Saolô có tên mới là Phaolô.

Đặt tên cho một người là định hướng cuộc đời người ấy theo tên gọi. Từ đó có một chương trình trong sự quan tâm trìu mến của người đặt tên. Tên Giêsu là sứ mạng của Người (Mt 1,21) nghĩa là cứu độ (Cv 14,3), cứu thoát (Cv 4,12), đem lại sự sống siêu nhiên cách viên mãn (Col 3,17). Ai cầu nguyện nhân danh Đức Giêsu, theo ý hướng của Người sẽ luôn luôn được nhận lời (Ga 15,16); Ai kêu cầu tên Người sẽ được cứu thoát (Rm 10,13); Những ai tin vào tên Người sẽ làm nên Hội Thánh (1 Cor 1,2) và từ đó được gọi là Kitô hữu (Cv 11,26). Simon và Saolô đón nhận tên gọi mới là Phêrô và Phaolô với sứ vụ cao cả là đá tảng và là cột trụ của Giáo Hội.

2. Hai khuôn mặt cùng một niềm tin

Có nhiều dư luận nói về Chúa Giêsu. Người hỏi các môn đệ: “Các con bảo Thầy là ai?”. Simon Phêrô nhanh nhẹn đáp:"Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16). Chúa Giêsu rất hài lòng về câu trả lời của Phêrô. Người nói với Phêrô:"Này anh Simon, con ông Gioan, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16,17). Phêrô tuyên xưng niềm tin. Chúa Giêsu đặt thánh Phêrô làm đầu Giáo Hội ( Mt 16,18 ).

Từ khi nhận phép rửa, Phaolô đã mạnh dạn rao giảng về Chúa Kitô khiến nhiều người Do Thái ngạc nhiên tự hỏi:" Ông này chẳng phải là người ở Giêrusalem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giêsu sao ? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?"( Cv 9, 21 ). Phaolô đã làm bẽ mặt những người Do Thái ở Đamát, khi minh chứng rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia ( Cv 9, 22). Phaolô đã được các tông đồ tin tưởng nhờ đó ngài và các tông đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Phaolô mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa Giêsu Kitô ( Cv 9, 28 ).

Phêrô tuyên xưng đức tin. Trên đá tảng Phêrô, đức tin được xây dựng. Phaolô làm sáng tỏ đức tin. Vị tông đồ dân ngoại hăng hái đem đức tin gieo trồng khắp mọi nơi. Hai khía cạnh của đức tin luôn sống động trong Giáo Hội, sứ mạng củng cố đức tin, xây dựng nội bộ và sứ mạng truyền giáo, đem đức tin đến với muôn dân.

3. Hai tính cách  cùng một lòng mến

Thánh Phêrô, tính tình nóng nảy, bộc trực và đôi lúc hơi liều lĩnh. Nói về ông người ta không thể không nhắc đến cái vết thật đen trong cuộc đời của ông. Đó là lần ông đã chối Chúa. Alain một nhà tư tưởng lớn của Pháp đã viết những lời như thế thật chua cay về cái biến cố này: "Tôi hình dung ra ông ta đang ở trên Thiên đàng, đầu đội triều thiên hào quang sáng chói nhưng mỗi khi nhớ đến 'dzụ' ấy, chắc ông còn phải đỏ mặt". Lý do, ông viết tiếp: "Tông đồ Phêrô trong hoàn cảnh lúc đó đã lẩn trốn như thỏ hay như chuột". Lời nhận định hơi chua chát một chút nhưng nó cho chúng ta thấy tính cách nghiêm trọng của vấn đề. Vì Phêrô là Thủ lãnh các tông đồ, thủ lãnh nhóm 12 và nhất là trước đó Chúa đã cảnh cáo ông.

Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mảnh, giữa trọn vẹn và dang dỡ, giữa xa và gần, giữa trời và đất. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Tuy nhiên, thánh Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tầm thường nơi con người của ngài. Nhờ đó, ngài đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa. Thánh Phêrô có lòng quảng đại. Khi được Chúa gọi, ông nhanh nhẹn bỏ tất cả mọi sự rồi theo Chúa. Thánh Phêrô có một đức tin chân thành và lòng gắn bó keo sơn với Chúa: "Lạy thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có lời ban sự sống đời đời”. Đức tính đáng cảm phục nhất chính là lòng khiêm nhường. Đó là nhân đức nền tảng của mọi nhân đức. Khiêm nhường là mẹ các nhân đức. Rõ ràng, trong trái tim Phêrô lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo Phêrô là Satan thì Phêrô cũng không giận Chúa. Chỉ vì sự sợ hãi yếu đuối mà chối Thầy, chứ trong tâm hồn lúc nào Phêrô cũng yêu mến Chúa. Không phải Phêrô yếu đuối vấp ngã mà Chúa bỏ rơi, chính tình yêu chân thành trong tâm hồn Phêrô mà Chúa đã yêu thương chọn làm Tảng Đá.

Saolô là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Saolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Têphanô và trên đường Đamát truy lùng các Kitô hữu. Được ơn trở lại, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô,Tông Đồ dân ngoại. Khi đã biết Chúa Kitô thì “ những gì xưa kia tôi cho là có lợi,thì nay,vì Đức Kitô,tôi cho là thiệt thòi.Hơn nữa tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi,so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa của tôi.Vì Ngài, tôi đành mất hết,và tôi coi tất cả như đồ bỏ,để được Đức Kitô và được kết hợp với Người.Được như vậy,không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại,nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu”( Pl 3,7-9). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô. Ngài trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất, thành lập nhiều Giáo đoàn, mở mang phát triển Hội Thánh cách quang minh chính đại, khiến bản thân phải ra toà, tù tội, vất vả trăm đường. Các mối phúc thật được kết tinh nơi cuộc đời thánh nhân. Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “ Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2 Cor 12,9).Không gì có thể làm nao núng lòng tin mãnh liệt ấy “Chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp;hoang mang nhưng không tuyêt vọng;bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi;bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt”( 2cor 4,8-9).Vị Tông đồ dân ngoại đã nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức “Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1Cor 5,14). Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài “Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”( Gal 2,20).Vì Đức Kitô và vì Tin mừng, thánh nhân đã sống và chết cho sứ vụ. Cuộc sống buôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ,đói khát,trần truồng,nguy hiểm,gươm giáo? … Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ ( Rm 8,35-39).

Hai vị Thánh Tông Đồ có chung một lòng mến, một niềm tin và một khát khao nên thánh.Cả hai vị đều có những lầm lỗi và yếu đuối. Và cả hai đều hối hận, đều yêu mến Chúa thật tình. Chúa đã gọi và chọn hai vị làm Tông Đồ. Nhân danh và nhờ quyền năng Chúa Giêsu Kitô, hai vị đã làm được nhiều phép lạ.

Phêrô cùng với Gioan chữa lành một người què từ lúc lọt lòng mẹ vẫn ngồi ăn xin ở Cửa Đẹp Đền Thờ ( x. Cv 3, 7 – 9 ); Phêrô làm cho người chết sống lại ( x. Cv 9, 40 – 42 ); Phêrô chữa nhiều người đau ốm bệnh hoạn mà dân chúng khiêng họ ra tận đường phố để khi Phêrô đi qua, ít ra cái bóng của ông phủ lên một bệnh nhân nào đó, và tất cả đã được chữa lành ( x. Cv 5, 15 – 16 )...

Phaolô đã chữa lành một người bẩm sinh bị bại chân tại Lítra ( x. Cv 14, 8 – 10 ). Phaolô cũng làm cho một người đã chết sống lại ( x. Cv 20, 9 – 12 ). Sách Công Vụ Tông Đồ cho biết Phêrô bị bắt giam trong ngục, đã được Chúa sai thiên sứ đến cứu thoát khỏi tay vua Hêrôđê ( x. Cv 12, 1–11). Cả hai vị được đầy quyền năng và vinh quang trước mặt người đời.

Cuối cùng hai vị cũng bị bắt và chịu chết vì Danh Đức Giêsu Kitô. Cả hai vị đã bằng lòng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh. Hai vị đã trở nên trụ cột của Giáo Hội. Phêrô là Anh Cả, đứng đầu Tông Đồ Đoàn. Phaolô là Tông Đồ Dân Ngoại. Hai vị có tính tình khác nhau, trình độ văn hóa khác nhau, khả năng làm việc khác nhau, nhưng lại cùng hoạt động, cùng xây dựng Nước Chúa. Những khác biệt của hai vị là để bổ túc cho nhau, giúp đỡ nhau, cùng nhau thăng tiến trong sứ vụ Tông đồ. Trên “tảng đá Phêrô” và “cột trụ Phaolô”, Giáo Hội Chúa Kitô bền vững và phát triển đến thiên thu vạn đại.

Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nổ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh.  “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.

 

 

28. BÀI SUY NIỆM LỄ VỌNG HAI THÁNH TÔNG ĐỒ PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ (Ga 21, 15-19) - Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

Thuật ngữ “Tông Đồ” (apostolos) theo nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là “người được sai đi”, “người đem tin” hay “sứ giả”. Từ này được tìm thấy trong Tân Ướccả thảy 79 lần, trong đó: 10 lần xuất hiện trong các sách Tin Mừng, 28 lần trong sách Công Vụ Tông Đồ, 38 lần trong các Thư Chung và 3 lần trong sách Khải Huyền. Tông Đồ là người sống kề sát bên Chúa Giêsu và chia sẻ sứ mạng loan báo Tin Mừng của Ngài. Họ là những người được chính Chúa Giêsu tuyển chọn để đặt nền móng cho Giáo Hội…

Cũng trong ý nghĩa đó, hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hân hoan mừng kính 2 thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các ngài được kể như 2 cột trụ của tòa nhà Giáo Hội. Mặc dù 2 đấng đều là những người được Chúa Giêsu trực tiếp tuyển chọn và mời gọi, đều là những người tràn đầy nhiệt huyết với Giáo Hội, nhưng nơi các ngài lại có nhiều điểm không giống nhau.

Thánh Phêrô xuất thân từ một ngư phủ miền Galilê, thế nên, chắc chắn việc học hành của thánh nhân không được nhiều. Tuy nhiên, thánh Phêrô lại có diễm phúc được theo Chúa Giêsu từ rất sớm. Là một trong bốn môn đệ được Chúa Giêsu gọi trước tiên, thánh Phêrô đã có quãng thời gian khá dài ở bên Chúa, được nghe những lời Người giảng dạy, chứng kiến những phép lạ Người làm. Hơn thế nữa, thánh Phêrô còn được chọn vào tốp 3 môn đệ thân tín của Chúa Giêsu cùng với hai người con của ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan và được Chúa cho tham dự vào những biến cố quan trọng như: chứng kiến Chúa biến hình trên núi Tabor (x.Mt 17,1-8); cùng với Đức Giêsu ở trong vườn Cây Dầu trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn (x.Mt 26,37).

Là vị Tông Đồ trưởng, nhưng thánh Phêrô cũng có những yếu đuối và bất toàn. Tại Xêxarê Philipphê, ngài đã bị Chúa Giêsu gọi là Satan khi ông đứng ra cản Chúa đừng đi lên Giêrusalem để chịu khổ nạn (x.Mt 16,23). Trong đêm Chúa Giêsu bị nộp, vì một phút ngã lòng, ông đã chối Chúa ba lần (x.Mt 26,72-74). Để rồi, sau biến cố đó, ông dốc lòng ăn năn thống hối và được Chúa thứ tha. Không những thế, Chúa còn đặt ông làm đầu các Tông Đồ và trao cho trọng trách loan báo Tin Mừng của Chúa cho giới được cắt bì, tức là những người Do Thái (x.Ga 21,17).

Khác hẳn với Phêrô, thánh Phaolô sinh trưởng trong một gia đình gốc Do-thái tại thành Tác-xô miền Ki-li-ki-a. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được nuôi dưỡng trong nền giáo dục truyền thống một cách hết sức bài bản. Ngài còn là học trò xuất sắc của Gamalien - một vị Rabbi thời danh lúc bấy giờ.

Nếu như thánh Phêrô được theo Chúa Giêsu ngay từ ban đầu sứ vụ công khai của Chúa thì thánh Phaolô lại biết đến cái tên Giêsu Kitô khá muộn - tức là sau khi Chúa Giêsu phục sinh và về trời. Là một biệt phái nhiệt thành của đạo Do-thái, thánh Phaolô không thể chấp nhận được việc một nhóm người tự xưng là Kitô hữu, rao giảng một thứ giáo lý hoàn toàn mới lạ với giáo lý truyền thống của cha ông. Thế nên, ông quyết tâm tiêu diệt nhóm người này bằng việc xin chứng thư của thầy thượng tế đền thờ Giêrusalem để lên đường bắt tất cả những người theo “tà đạo” này.

Trên đường đi Đa-mát, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với Phaolô qua một luồng ánh sáng cực mạnh khiến ông phải ngã ngựa và bị mù mắt. Kể từ sau biến cố ấy, cuộc đời của Phaolô đã được biến đổi hoàn toàn. Từ một kẻ chuyên bắt bớ các Kitô hữu, ngài được Chúa trao cho nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Từ một người tràn đầy nhiệt huyết với đạo Do-thái, Thiên Chúa đã làm cho ông trở nên người nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Từ một biệt phái với một tương lai xán lạn, ông tự nguyện “đành mất hết để được một mối lợi là Đức Kitô và trở nên mọi sự cho mọi người” (Pl 3,8)

***

Có thể nói, câu chuyện lịch sử của mỗi con người, mỗi cuộc đời đều là những kỳ công của Thiên Chúa. Ai đã làm cho thánh Phêrô từ một người chối Chúa trở thành người sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì Chúa; Ai đã làm cho một người chuyên đi lùng bắt các Kitô hữu trở thành vị Tông Đồ sẵn sàng để người ta bắt vì đạo Chúa nếu không phải là chính Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Ca-xi-ô-đô-rô đã từng nói: “Kể lại những kỳ công Chúa đã làm cũng là ca tụng Chúa”.Thế nên, khi sơ qua đôi nét về cuộc đời của hai vị thánh Tông Đồ mà Giáo Hội mừng kính hôm nay để chúng ta thấy được tình yêu Chúa dành cho nhân loại lớn lao là nhường nào! Vậy chúng ta học được gì qua cuộc đời của hai vị thánh?

Bài học trước tiên là sự khiêm nhường. Có lẽ xuất phát từ việc cảm nghiệm được sự yếu đuối và bất toàn của mình, nên cả hai vị thánh đều tự nhận mình là con người yếu đuối. Thánh Phêrô sau khi chối Thầy, đã ra một nơi ăn năn, khóc lóc thảm thiết. Tương truyền rằng, những giọt nước mắt thống hối của ngài đã chảy thành rãnh trên gò má. Còn Thánh Phaolô, sau thời gian dài đi khắp đó đây thiết lập các giáo đoàn và rao giảng Tin Mừng cho họ, nhưng ngài cũng chỉ dám nhận mình là một Tông Đồ sinh sau đẻ muộn và là người rốt hết trong các Tông Đồ như lời ngài nói: “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” (1Cr 15,9).

Bài học tiếp theo là sự tín thác vào Chúa. Với niềm tin tưởng: Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người, trái lại, Ngài luôn mở ra cho con người những lối đi đầy hy vọng cho dù con người đang bước đi trong tuyệt vọng, cả hai vị đều quyết tâm thay đổi cuộc đời để dấn thân cho sứ vụ Tông Đồ đến nỗi sẵn sàng chấp nhận hy sinh mạng sống vì Tin Mừng của Đức Kitô.

***

Để Lời Chúa được loan báo đến tận cùng trái đất, Giáo Hội hôm nay vẫn rất cần những con người như thánh Phêrô và thánh Phaolô - những người dám từ bỏ mọi sự, dám yêu, dám sống và dám chết cho Ðức Kitô. Chớ gì mỗi chúng ta hãy quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa để lên đường loan báo Tin Mừng với niềm xác tín rằng: “Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35.39).

 

 

29. SỐNG ĐỨC TIN ĐỨC MẾN NOI GƯƠNG HAI TÔNG ĐỒ PHÊ-RÔ PHAO-LÔ - LM ĐAN VINH - HHTM

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG:

(13) Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói con Người là ai ?” (14) Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ”. (15) Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” (16) Ông Si-mon Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. (17) Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-mon con ông Giô-na, Anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều đó, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. (18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. (19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.

2. Ý CHÍNH: HỘI THÁNH ĐƯỢC XÂY TRÊN ĐÁ TẢNG ĐỨC TIN CỦA PHÊ-RÔ.

Sau khi Si-mon đại diện cho Nhóm Mười Hai khẳng định Người là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống (15-16), ông đã được khen là có phúc (17), được đổi tên thành Phê-rô và được hứa xây Hội Thánh trên nền tảng đức tin mà ông vừa tuyên xưng, tiên báo Hội Thánh ấy sẽ trường tồn, bất chấp ma quỷ chống phá (18). Sau cùng Người cũng trao cho ông chìa khóa Nước Trời với quyền cầm buộc và tháo cởi (19).

3. HỎI ĐÁP VÀ CHÚ THÍCH:

HỎI 1: Khi thay mặt anh em tuyên xưng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa hằng sống”, phải chăng Tông đồ Si-mon có ý nói về bản tính Thiên Chúa của Người ?

ĐÁP:

Có lẽ khi tuyên xưng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa hằng sống”, Phê-rô vẫn chưa hiểu rõ ý nghĩa của tước hiệu ông nói. Ông chỉ muốn giải thích ý nghĩa của tước hiệu Đấng Ki-tô, theo lời ngôn sứ Na-than tuyên sấm về người con sẽ nối nghiệp vua Đa-vít như sau: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính Danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là Cha. Đối với Ta, nó sẽ là con” (2 Sm 7,12-14). Lời ấy đã không ứng nghiệm nơi Sa-lô-mon, con vua Đa-vít. Từ đó, dân Do thái hằng trông mong Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi vua Đa-vít sẽ đến. Về sau, trong cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su cũng được dân chúng ca tụng bằng tước hiệu "Con Vua Đa-vít" này (x. Mt 21,9). Khi tuyên xưng tước hiệu "Con Thiên Chúa hằng sống", Phê-rô chưa hiểu ý nghĩa lời ông nói. Sau đó, Đức Giê-su đã cho biết ý nghĩa tước hiệu này là nói về bản tính Thiên Chúa, qua lời khen ông có phúc vì đã được Chúa Cha thương mặc khải cho biết sự thật ấy (x Mt 16,17).

HỎI 2: Tại sao Đức Giê-su đổi tên Si-mon thành Phê-rô ? Việc đổi tên chính xác xảy ra vào lúc nào: Khi vừa gặp mặt (x Ga 1,42), khi thành lập Nhóm Mười Hai (x Mc 3,16; Lc 6,14) hay sau khi Phê-rô tuyên xưng đức tin (x Mt 16,18) ?

ĐÁP:

Cũng có thể Đức Giê-su đã đặt tên Phê-rô cho Si-mon khi vừa gặp mặt (x. Ga 1,42), hay khi thành lập Nhóm Mười Hai (x. Mc 3,16; Lc 6,14). Tuy nhiên có lẽ việc đổi tên xảy ra sau lời tuyên xưng đức tin của Si-mon là hợp lý nhất (x. Mt 16,18), vì sau khi đổi tên, Đức Giê-su đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ông trong Hội Thánh: Đức tin của Phê-rô vào Đức Giê-su chính là tảng đá vững chắc mà trên đó, Người xây dựng Hội Thánh của Người. Ngoài ra Đức Giê-su còn trao tối thượng quyền cho ông để ông cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,18-19). Người cũng cho Phê-rô đứng đầu Nhóm Mười Hai (x Mt 10,2), và hứa sẽ cầu nguyện để ông kiên vững đức tin, hầu chu tòan sứ mệnh củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Cuối cùng, Người còn trao quyền chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh cho ông nữa (x.Ga 21,15-17).

HỎI 3: Một số người cho rằng: Si-mon Phê-rô là một người đầy khuyết điểm và đã từng phạm tội chối Thầy ba lần, thì làm sao xứng đáng lãnh đạo Hội Thánh và thi hành quyền cầm buộc và tháo cởi được ?

ĐÁP:

Từ ngày được Đức Giê-su gọi theo làm môn đệ, Si-mon đã phạm nhiều sai lầm. Chẳng hạn: Ông bị Thầy quở trách vì đã suy nghĩ theo kiểu khôn ngoan của loài người (x. Mt 16,23); Bị trách là kẻ hèn tin khi đang đi trên mặt nước (x. Mt 14,31); Bị Thầy cảnh báo không được dự phần với Thầy, vì đã từ chối không cho Thầy rửa chân (x. Ga 13,8-10); Nhất là vì quá tự tin vào sức mình nên ông đã hèn nhát chối Thầy ba lần, dù đã được Thầy cảnh báo trước (x. Mc 14,30.66-72).

Nhưng Si-mon Phê-rô cũng có những ưu điểm xứng đáng được Đức Giê-su tín nhiệm trao quyền lãnh đạo Hội Thánh. Chẳng hạn: tại thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, ông đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, nên đã được Chúa đổi tên thành Phê-rô, và được trao quyền tối thượng cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,18-19). Có lần ông được Đức Giê-su hứa sẽ cầu nguyện cho để luôn kiên vững đức tin, và trao thêm sứ mệnh củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Phê-rô cũng rất nhiệt tình, thường đại diện anh em trả lời những vấn nạn của Thầy (x. Lc 5,3-10), đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin vào lời dạy về Bánh Thánh Thể, đang khi nhiều môn đệ khác chán nản rút lui (x. Ga 6,68). Nhờ kiên vững đức tin, nên ông đã được Đức Giê-su đặt đứng đầu Nhóm Mười Hai (x. Mt 10,2), được đi trên mặt nước (x Mt 14,28-32), trở thành một trong ba môn đệ thân tín nhất chứng kiến cuộc hiển dung của Người (x. Mt 17,1), chứng kiến phép lạ bé gái mới chết được Người cho sống lại (x. Mt 5,37), và nhất là chứng kiến lúc Thầy hấp hối trong vườn Cây Dầu (x. Mt 26,37).

Tuy có lần sa ngã phạm tội, nhưng Phê-rô đã lập tức sám hối (x. Mt 26,69-75). Nhờ yêu Chúa nhiều hơn anh em, nên ông đã được Người tha thứ và trao nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên (x. Ga 21,15-17). Chính lòng yêu mến Đức Giê-su đã thúc bách Phê-rô chạy thi với Gio-an ra mồ và đã sớm đạt được đức tin vào mầu nhiệm phục sinh của Thầy (x. Ga 20,1-9). Phê-rô cũng được Chúa Phục Sinh hiện ra (x. Lc 24,34), được cùng anh em lãnh nhận ơn Thánh Thần và đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi (x. Cv 2,14-36), có khả năng chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 9,33-35.40-41), chủ tọa công nghị Giê-ru-sa-lem năm 49 (x. Cv 15,5-29). Cuối cùng ông đã can đảm quay vào thành Rô-ma để bị bắt và chịu khổ hình thập giá, dưới thời hoàng đế Nê-rô (năm 64-67). Cái chết của Phê-rô chứng tỏ lòng mến Chúa cao độ, và nêu gương đức tin vững như đá tảng, để các tín hữu chúng ta học tập noi theo.

II. SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,18-19).

2. CÂU CHUYỆN:

1) SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU TRONG VIỆC BIẾN ĐỔI LÒNG NGƯỜI :

Nữ tu Antoinette được bề trên sai đến phục vụ tại một bệnh viện lớn. Tại đây có một ông già cực kỳ khó tính. Tiếp xúc với ai ông cũng nạt nộ la mắng. nhất là khi gặp chuyện trái ý, ông lại to tiếng ầm ĩ khiến mọi người chung quanh đều khó chịu xa lánh.

Ngày nọ, khi đang mải mê làm việc giúp các bệnh nhân khác, nữ tu Antoinette nghe thấy tiếng hét lớn của ông già khó tính: “Mau mau mang ra đây cho tôi một quả trứng luộc". Các y tá khác đều lảng tránh sang phòng bên, riêng nữ tu Antoinette đã mau mắn đến nhà bếp đem quả trứng đến cho ông già này.

- Sao trứng chưa chín mà đã đem cho tôi hả? Bộ muốn tôi đau bụng chết sao? Ông lão khó tính cau có trách mắng. Nữ tu Antoinette không đáp lại mà đem trứng xuống bếp luộc lại. 

- Trứng gì mà luộc chín quá vậy? Sao lại làm ăn vô ý vô tứ như vậy hả ?

Antoinette chẳng biết phải làm gì để chiều ý ông lão. Chị liền đi lấy một cái bếp lò đến kê bên giường và trao cho ông già khó tính một trái trứng để luộc cho vừa ý. Thấy thế ông ta liền nổi nóng đạp đổ bếp lò, quăng quả trứng kia xuống nền gạch và lớn tiếng: "Cô không biết tôi là bệnh nhân sao? Bệnh nhân mà lại phải tự luộc trứng hả?"

Nữ tu Antoinette không nói nửa lời. Chị im lặng đi lấy chổi và cây lau nhà đến quét dọn và lau sạch sàn nhà… Lát sau, chị đem đến cho lão già khó tính một trái trứng khác và nói: "Ông cố gắng dùng thử trứng này, tôi đã luộc vừa chín tới thôi?" Bất giác, ông lính già rùng mình cảm động, nói lí nhí trong miệng: "Tôi thật có lỗi vì đã vô lý quát mắng cô. Giờ đây tôi sẽ ăn quả trứng này cũng để cám ơn lòng tốt của cô !"

Tình yêu có sức biến đổi lạ lùng hơn bất cứ một sự biến đổi lạ kỳ nào, nhất là nó có khả năng biến đổi cả lòng những con người độc ác nữa. Ước gì chúng ta biết noi gương theo Thầy Chí Thánh Giê-su luôn nhìn thấy những điều tốt đẹp nơi con người và luôn hy vọng vào những người đang lầm lạc trong cuộc đời này để dùng tình yêu biến đổi cảm hoá họ.

2)PHẢI LÀM GÌ ĐỂ NÊN GIỐNG CHÚA GIÊ-SU ?

Ngày xưa, một ông vua nước Hy Lạp tổ chức một cuộc thi làm tượng ảnh nghệ thuật: các nghệ nhân sẽ tạc tượng hoặc làm tranh tượng về chân dung của nhà vua. Vua hứa sẽ ban phần thưởng lớn cho những tác phẩm giống ngài nhất. Nghe thông báo, các nghệ nhân từ khắp các nước chung quanh đã ùn ùn kép đến Hy Lạp xin vào hoàng cung ứng thí. Nghệ nhân Ấn-độ thì mang theo dụng cụ để chạm trổ đồ kim hoàn vàng bạc và các loại ngọc trai quý giá. Nghệ nhân Ai Cập thì mang theo đồ nghề đục đẽo đá quý và một khối đá cẩm thạch rất đẹp. Ai cũng quyết tâm dành được giải thưởng của nhà vua. Riêng nghệ nhân nước chủ nhà Hy Lạp chỉ đến ứng thí với bộ đồ gọt dũa đánh bóng đơn giản.

Mỗi đoàn dự thi được ban tổ chức bố trí chỗ ở và làm việc tại một phòng trong khu hoàng cung. Tới ngày thi, nhà vua ra lệnh mỗi đoàn phải hoàn thành tác phẩm trong thời gian một tuần lễ. Thế là các nghệ nhân vội vàng bắt tay vào việc. Họ đục đẽo, chà sát, đánh bóng để khắc họa chân dung nhà vua Hy Lạp cho giống như người thật. Khi một tuần trôi qua, nhà vua truyền đem các tác phẩm đến trưng bày tại đại sảnh lớn trong hoàng cung để nhà vua và bá quan trong triều đến chấm điểm. Nhà vua hết sức hài lòng, khi chiêm ngưỡng các tác phẩm dự thi họa lại chân dung của mình, do các nghệ nhân Ấn Độ, Ai Cập và nhiều nước khác sáng tác. Mỗi bức tượng, tranh tượng hay phù điêu đều có những đường nét tinh vi sắc sảo, nhìn giống hệt khuôn mặt của ngài. Các tác phẩm ấy được tạc vẽ từ đất nung, từ đá cẩm thạch, hay các loại vàng bạc quý kim khác. Cuối cùng khi đến chỗ trưng bày của các nghệ nhân Hy Lạp thì nhà vua và bá quan rất ngạc nhiên vì không thấy bất cứ bức tượng hay tranh tượng nào được trưng bày, mà chỉ thấy một phiến đá cẩm thạch trắng, được các nghệ nhân đánh bóng. Nhà vua liền hỏi tác phẩm đâu, thì một người đã đưa ngài đến đứng trước phiến đá và chỉ vào chân dung của ngài hiện ra trong đó. Nhìn thấy hình ảnh trung thực của mình, nhà vua đã hiểu ra và hết sức cảm động. Ngài nhận xét các bức tranh hay tượng khác, dù có giống ngài nhưng chúng không sống động và trung thực bằng hình ảnh được phản chiếu từ chính con người thật của ngài. Nhà vua đã chấm cho tác phẩm của đoàn nghệ nhân Hy Lạp hạng nhất. Còn các tác phẩm khác cũng được xếp hạng và đều có phần thưởng tương xứng với giá trị của chúng. Sau đó, tất cả các tác phẩm đều được trưng bày tại viện bảo tàng quốc gia cho dân chúng tự do đến chiêm ngưỡng.

3. SUY NIỆM:

 Hôm nay, Hội Thánh mừng kính 2 vị Tông đồ là Phêrô và Phaolô chung trong một ngày lễ. Chúng ta cùng suy nghĩ về cuộc đời của hai Tông đồ trụ cột này của Hội Thánh để thấy được sức mạnh tình thương của Thiên Chúa trong việc biến đổi lòng người.

1) Về ơn kêu gọi của hai Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:

- Phê-rôlàm nghề đánh cá tại làng Bet-sai-đa, gần hồ Ga-li-lê. Phê-rô tên thật là Si-mon, có em là An-rê. Khi An-rê được thầy mình là Gio-an Bao-ti-xi-ta giới thiệu về Đức Giê-su thì"Trước hết ông gặp anh mình là Si-mon và nói : Chúng tôi đã gặp được Đấng Mê-si-a. Rồi ông dẫn anh mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn Phê-rô và nói: "Anh là Si-mon, con ông Gio-na, anh sẽ được gọi là Kê-pha nghĩa là Đá" (Ga 1,41-42). Sau đó ít ngày, đang lúc Đức Giê-su đi trên bờ hồ Gê-nê-sa-rét, có đám đông dân chúng đi theo. Người thấy ông Si-mon đang giặt lưới dưới thuyền, nên Người đã xuống thuyền ấy mà giảng dạy dân chúng ngồi trên bờ hồ. Giảng xong, Người bảo Si-mon chèo thuyền ra giữa hồ đánh cá. Mặc dù suốt đêm vất vả mà không bắt được con nào, nhưng Si-mon vẫn vâng lời Thầy: Ông chèo thuyền ra khơi thả lưới và đã bắt được mẻ cá lạ lùng. Trước sự lạ ấy, Si-mon tỏ vẻ kính sợ, nhưng Người bảo ông: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới người ta. Thế là ông đưa thuyền vào bờ rồi đi theo làm môn đệ Người” (Lc.5,10-11).

- Phao-lôtên thật là Sao-lê quê thành Tác-sô, miền Ki-li-ki-a. Theo học với ông thầy nổi tiếng là Ga-ma-li-en. Sao-lê giữ luật Mô-sê nghiêm chỉnh. Tuy là người Do Thái nhưng ông cũng có quốc tịch Ro-ma. Sao-lê rất sùng đạo Do thái nên rất ghét đạo mới của Đức Giê-su. Nghe tin ở Đa-mát có nhiều tín hữu Ki-tô, Sao-lê đã xin lệnh của thượng tế, đem quân đến thành Đa-mát bắt các tín hữu mang về Giê-ru-sa-lem trị tội. Nhưng khi đến cửa thành, Sao-lê đã bị một làn chớp sáng đánh trúng bị té xuống ngựa, mắt ông bị loà không nhìn thấy gì. Ông nghe thấy tiếng Chúa Giê-su hiện ra hạch hỏi và ông đã khuất phuc Người. Rồi ông được một người trong thành là A-na-ni-a đón vào thành và dạy đạo. Sau khi được chịu phép rửa tội, Sao-lê lại được sáng mắt và được đổi tên thành Phao-lô. Ông còn được Chúa Phục Sinh hiện ra dạy dỗ cách riêng và trao cho sứ mệnh làm tông đồ rao giảng Tin Mừng (x. TĐCV 22,3-21). Thế là từ một người cuồng tín đi bắt đạo, Phao-lô đã được ơn Chúa biến đổi thành một Tông đồ dân ngoại.

2) Tính cách của hai vị Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:

- Tông đồ Phê-rôkhi đi theo Đức Giê-su gần ba năm, thường đại diện Nhóm 12 trả lời Thầy. Khi Người hỏi: “Người ta nói Thầy là ai?” Phê-rô đã đại diện anh em thưa rằng: "Thầy là Đức Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống". Có lần Phê-rô ngăn cản Thầy đừng đi Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn, và ông đã bị Thầy nặng lời quở trách. Phê-rô đã được các tác giả Tân Ước đề cập tới 195 lần. Ông có tính tình nóng nảy và yêu mến Thầy. Khi nghe Đức Giê-su cho biết các môn đệ sắp hèn nhát bỏ Thầy chạy trốn, Ông đã hứa với Thầy: “Dù moi người bỏ thầy, còn Phê-rô sẽ không bao giờ". Tuy nhiên, ông cũng là một người yếu đuối, nên ông đã phạm tội chối Thầy 3 lần: "Tôi không biết ông Giê-su là ai". Đến khi nghe tiếng gà gáy và Đức Giê-su bị trói đi ngang qua chỗ ông và Người nhìn ông, thì ông đã xúc động ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Đức Giê-su sau khi sống lại, đã hiện ra hỏi Phê-rô ba lần có mến Thầy hơn những người này không, thì cả ba lầm ông đều tuyên xưng lòng mến: "Thưa Thầy, có. Thầy biết con mến Thầy”. Mỗi lần như thế, Chúa đều trao cho ông trách nhiệm chăn dắt đàn chiên của Người (x. Ga 21,15-19)

b) Tông đồ Phao-lôsau khi trở lại với Chúa, đã hết lòng loan báo Tin Mừng. Ông đã đi khắp vùng Đế Quốc Rô-ma rao giảng cho dân ngoại tin theo Chúa, chấp nhận mọi gian nan chống đối gặp phải: bị bắt bớ xét xử, bị đánh đòn, đắm tầu, đói rét, ở trần… vì Danh Chúa. Nhờ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, Phao-lô đã viết nhiều bức thư để tiếp tục giáo huấn về cách ăn nết ở cho các tín hữu trong các giáo đoàn đã nghe ngài giảng mà tin theo Chúa Giê-su, nhằn răn dạy họ bỏ các tội lỗi mà sống tốt lành theo Chúa Giê-su. Ông cũng dạy họ đào sâu về nhiều mặt như: Kinh Thánh, tín lý, luân lý, phụng vụ… Phao-lô còn nêu gương sẵn sàng chịu mọi đau khổ hơn mọi người vì danh Chúa Giê-su như ông đã viết: “Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: Tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do thái đánh bốn mươi roi bớt một. Ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đã, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi… (2 Cr 11,23-25…)

3) Về lòng mến Chúa của hai vị Tông đồ Phê-rô và Phao-lô:

- Tông đồ Phê-rô:Theo sách Công vụ Tông đồ, vào lễ Ngũ Tuần, sau khi đón nhận đầy ơn Thánh Thần, Phê-rô đã cùng các Tông đồ bắt đầu thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ông đã giảng một bài đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động, đã có 3 ngàn người xin tòng giáo. Sau đó Phê-rô cùng Nhóm 11 chọn ông Mat-thi-a thế chỗ cho Giu-đa phản bội. Ông cũng được Thánh Thần ban ơn làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế kèm theo lời giảng. Ông đã chữa cho một người què tại cửa Đền thờ, và đón nhận dân ngoại vào Hội Thánh. Người ta tin rằng chỉ cần cái bóng của ông lướt qua bệnh nhân cũng đủ chữa lành cho họ. Phê-rô và các Tông đồ trong Nhóm 12 ưu tiên loan báo Tin Mừng cho dân Do thái. Ông đã bị các đầu mục dân Do thái bắt bớ xét hỏi nhiều lần và cấm rao giảng Danh Đức Giê-su. Nhưng ông đã tuyên bố trước Thượng Hội Đồng rằng: Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm… Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng cùng với Thánh Thần” (Cv 5,29-32). Vào lúc cuối đời, khi đang ở Rô-ma và có nguy cơ bị bắt, Phê-rô đã nghe lời các tín hữu để cải trang và đã trốn thoát ra ngoài thành Rô-ma để tiếp tục lãnh đạo Hội Thánh. Nhưng sau đó ông đã gặp Đức Giê-su đang vác thánh giá đi về thành. Ông hỏi Người: “Quo vadis ?” (Thầy đi đâu?). Chúa trả lời: “Ta vào thành Rô-ma để chịu đóng đanh một lần nữa” rồi Chúa biến mất. Phê-rô hiểu ý Chúa muốn ông ở lại Rô-ma để làm chứng cho Chúa giữa các tín hữu, nên ông lại đi vào thành. Sau đó Phê-rô bị bắt và bị kết án tử hình thập giá vào năm 65 dưới thời hoàng đế Nê-rông. Khi chịu đóng đinh, để tỏ lòng tôn kính Chúa Giê-su, ông xin lính đóng đinh và quay ngược đầu xuống đất. Ngày nay một ngôi Đền thờ Thánh Phêrô to lớn trong thành Rô-ma, có chứa mộ phần của thánh Phê-rô. Trong thời gian giảng đạo ở Rô-ma, thánh Phê-rô đã viết 2 bức thư cho các tín hữu miền Tiểu Á đang chịu bách hại, khuyên dạy họ hãy can đảm sống đức tin bằng việc thực thi sự hiệp nhất yêu thương nhau, vâng phục các mục tử, đoạn tuyệt tội lỗi và chờ đợi ngày Chúa quang lâm sắp đến.

- Tông đồ Phao-lô:Phao-lô thực là dụng cụ Chúa dùng để đưa nhiều người về với Chúa. Ông là một người trung thành, can đảm, thẳng thắn… Là cầu nối kết giữa dân Do thái và dân ngoại, giữa Cựu ước và Tân ước. Nhờ Phao-lô mà dân ngoại trong đó có chúng ta không phải chịu nghi thức cắt bì của đạo Do Thái và không phải mang “ách Luật Mô-sê” như dân Do thái xưa. Từ khi gặp Chúa và theo làm Tông đồ của Chúa, Phao-lô có lòng yêu mên Chúa cách đặc biệt. Ông đã nêu gương sáng về lòng tin yêu Chúa Giê-su để các tín hữu noi theo. Chẳng hạn: “Đối với tôi sống là Đức Kitô” (Pl 1,21) “Tôi coi mọi sự như phân tro, để chỉ mong được lời lãi Tình yêu Chúa Kitô" (Pl 3,8).- "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? … Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8,35-39). "Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20). Cuối cùng, trong thời kỳ người Rô-ma bách hại đạo Công giáo, Phao-lô đã bị bắt tù, và sau cùng ngài đã bị án chém đầu ở ngoài thành Rôma vào năm 67.

4) Sống “hiệp nhất” để làm chứng cho Chúa noi gương hai vị Phê-rô và Phao-lô:

- Hiệp nhất trong đức tin:Hai vị Tông đồ đã hiệp nhất một lòng một ý trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Mặc dù còn có nhiều khác biệt về bản thân, tính tình, về ơn gọi theo Chúa, về xu hướng truyền giáo… nhưng cả hai đã tạo nên một sự hiệp nhất trong đa dạng, qua việc cùng trở thành nền tảng xây dựng toà nhà Hội Thánh, sẵn sàng chết vì Danh Chúa. Hai vị đã được Hội Thánh tôn vinh trong một ngày đại lễ. Các ngài đã trở nên biểu tượng của sự hiệp nhất trong đa dạng của Hội Thánh: “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”. Đó chính là khuôn vàng thước ngọc cho các tín hữu noi theo.

- Hiệp nhất trong lòng mến:Ngày nay muốn trở nên tông đồ của Chúa Giê-su, các tín hữu chúng ta phải có lòng mến Chúa noi gương hai vị Tông đồ. Nhờ lòng mến Chúa thôi thúc, chúng ta sẽ được ơn Chúa thanh luyện khỏi những đam mê, thói hư, các vết nhơ tội lỗi. Nhờ siêng năng nghe Lời Chúa và tham dự thánh lễ rước lễ mỗi ngày, xét mình mỗi tối trước khi đi ngủ, học tập theo Chúa Giê-su… chúng ta cũng sẽ có thể nhìn tha nhân bằng ánh mắt bao dung nhân hậu, sẽ ăn nói điềm đạm, vui vẻ chân thành, ứng xử hiền hòa và khiêm tốn phục vụ … Nhờ đó chúng ta sẽ nên tông đồ giáo dân nhiệt thành làm chứng cho Chúa, noi gương hai vị Tông đồ Phê-rô và Phao-lô.

4. THẢO LUẬN:

Đối với bạn, Đức Giê-su là ai ? (Là một ngôn sứ, để xin Người cầu bầu với Chúa Cha cho ta; hay là một thần tượng để ta chiêm ngưỡng thán phục; hay chính là Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa, để ta tin theo và sẵn sàng bỏ mọi sự theo làm môn đệ Người, sẵn sàng vác thập giá là đón nhận các đau khổ gặp phải, kết hiệp với sự đau khổ của Người trên cây thập giá để góp phần cứu rỗi tha nhân ?)

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúng con cũng muốn được góp phần xây dựng Hội Thánh. Nhưng muốn làm được như vậy, chúng con phải có đức tin mạnh như thánh Phê-rô. Xin Chúa cho chúng con trở thành những viên đá đức tin sống động vững chắc, làm thành nền móng xây nên tòa nhà Hội Thánh. Xin Chúa hãy giúp chúng con tránh những lời nói xúc phạm khó ưa, những hành động vụ lợi ích kỷ, để sống hòa hợp với tha nhân. Xin giúp chúng con loại bỏ những đam mê bất chính và các thói hư tật xấu, loại bỏ tính háo danh, thói ưa châm chọc chỉ trích kẻ khác, loại bỏ tư tưởng tự mãn và hẹp hòi… Nhờ đó, chúng con trở thành những chứng nhân cho tình yêu bao dung nhân hậu của Chúa noi gương hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô.

- LẠY CHÚA. Tòa nhà Hội Thánh sau hai ngàn năm đến nay vẫn đang tiếp tục được xây dựng những chỗ còn dang dở. Xin Chúa giúp mỗi tín hữu chúng con tích cực góp phần xây dựng để ngôi nhà Hội Thánh sớm hoàn thành. Xin cho chúng con luôn sống yêu thương hòa thuận để gia đình và Giáo xứ chúng con trở thành một cộng đoàn yêu thương hiệp nhất và bình an. Nhờ đó nhiều người sẽ nhận biết tin thờ Chúa và sau này cùng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ với chúng con.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm